ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––––
HOANG THÁI LÂM
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THI
Ơ THÀNH PHÔ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TÊ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––––
HOANG THÁI LÂM
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THI
Ơ THÀNH PHÔ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TÊ NÔNG NGHIỆP
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN
THÁI NGUYÊN - 2017
học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và đặc biệt là gia đình đã
tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu hoàn thiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Hoàng Thái Lâm
1
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC................................................................................................................. iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ...................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ vii
MƠ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Sự cần thiết của đề tài luận văn...............................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn.................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn .................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài .................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài..................................................................................2
Chương 1: CƠ SƠ KHOA HỌC CỦA ĐÊ TAI .....................................................3
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................................3
1.1.1.
Khái
niệm,
nay
tài
1.2.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển nông nghiệp đô thị trên thế giới .............14
1.2.2. Tình hình nghiên cứu và phát triển nông nghiệp đô thị ở Việt Nam ..............18
1.2.3. Một số vấn đề và thách thức đối với nông nghiệp đô thị ở Việt Nam ............22
1.2.4. Bài học về nông nghiệp đô thị đối với thành phố Lạng Sơn...........................26
1.3.
Mô
tả
địa
bàn
...................................................................................28
nghiên
cứu
Chương 2: ĐÔI TƯỢNG, NỘI DUNG VA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......30
2. 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ......................30
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................30
2.2.
Nội
dung
nghiên
..........................................................................................30
cứu
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIÊT TẮT
CNH
Công Nghiệp hóa
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
DVNN
Dịch vụ nông nghiệp
ĐTH
Đô thị hóa
KHCN
Khoa học công nghệ
KT-XH
Kinh tế - xã hội
NNCNC
Nông nghiệp công nghệ cao
Bảng 3.17: Vốn cần thiết cho sản xuất và nhu cầu vay vốn .....................................61
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Công ty TNHH Thương mại và Xuất nhập khẩu Phương Minh ......44
Hình 3.2. Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ Nà Chuông ....................................50
Hình 3.1. Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đô thị ............................63
Hình 3.2. Ý định mở rộng thêm loại sản phẩm nông nghiệp đô thị (% hộ) .....64
1
MƠ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài luận văn
Do nhu cầu phát triển đô thị và công nghiệp - dịch vụ, quỹ đất ngày càng thu
hẹp, đòi hỏi ngành nông nghiệp phải thay đổi tư duy trong sản xuất, thực hiện
chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trong rất nhiều giải pháp thì phát
triển nông nghiệp đô thị được xem như một hướng đi có tính khả thi cao để giải
quyết các bất cập liên quan trong tiến trình đô thị hóa, hướng tới xây dựng đô thị
sinh thái bền vững cho tương lai.
Đô thị hóa (ĐTH) là một quá trình tất yếu khách quan trong quá trình phát
triển kinh tế-xã hội (KT – XH) ở nước ta hiện nay. Đô thị hóa trong điều kiện tiền
công nghiệp hóa (CNH) ít gắn với các yếu tố nội tại làm động lực cho kinh tế đô thị
đã làm tăng thêm khó khăn của các đô thị như: một bộ phận lao động trong nông
nghiệp mất đất sản xuất trở nên thiếu công ăn việc làm; một bộ phận dân cư tư nông
thôn chuyển về đô thị để làm việc làm gia tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm,
vấn đề vệ sinh môi trường đô thị cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng; sự ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nguồn nước là điều không thể tránh khỏi. Đây là các yếu tố đe
dọa sự phát triển nhanh và bền vững của các đô thị hiện nay. Trong rất nhiều các
tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp đô thị tại thành phố Lạng
Sơn trong quá trình đô thị hóa.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài kế thừa, bổ sung, cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
về NNĐT và phát triển NNĐT ở thế giới và Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến NNĐT ở thành phố Lạng Sơn,
tỉnh Lạng Sơn. Phân tích thực trạng phát triển NNĐT ở thành phố Lạng Sơn trong
quá trình ĐTH theo giới hạn của đề tài. Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển
NNĐT ở thành phố Lạng Sơn có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, giải quyết
các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Tác giả mong rằng kết quả nghiên cứu của
luận văn này được chính quyền địa phương thành phố Lạng Sơn và các địa phương
có đặc điểm tương đồng với Lạng Sơn tham khảo, vận dụng vào phát triển bền vững
NNĐT trong điều kiện CNH hiện nay.
Chương 1
CƠ SƠ KHOA HỌC CỦA ĐÊ TAI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Khái niệm, thuật ngữ
- Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài
người. Tư khi ra đời cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển nền kinh tế nói chung và đảm bảo sự tồn tại của loài người nói riêng.
Nhiều học giả đã khẳng định nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với
toàn bộ thế giới cổ đại và hiện nay nông nghiệp lại càng có ý nghĩa quan trọng, bởi
trong bất kỳ thời đại nào, để tồn tại và phát triển con người cần phải ăn, phải uống,
phải sử dụng sản phẩm của nông nghiệp như lương thực, thực phẩm, đồ uống,...
vật nuôi,...
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con
người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm
như lương thực, thực phẩm,... để thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên.
Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt
trời,... trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông
nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản
xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở
nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán,... đã có
tư hàng nghìn năm nay.
Ở các nước nghèo như nước ta nông nghiệp thường chiếm ty trọng rất
lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội.
- Nông nghiệp đô thị
Trước hết, có thể thấy rằng: Các đô thị ra đời đã kéo theo sự hình thành loại
hình nông nghiệp mới của nhân loại - nông nghiệp đô thị. Các đô thị ở nhiều quốc
gia trên thế giới đã chú ý đến nông nghiệp đô thị rất sớm và họ cũng đã đạt được
nhiều thành công trong việc phát triển loại hình nông nghiệp mới này.
Có nhiều quan niệm khác nhau về nông nghiệp đô thị.
Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc và Chương trình phát triển Liên
Hiệp Quốc (trích theo Lê Văn Trưởng, 2015)[13]: Nông nghiệp đô thị là những hoạt
động sản xuất nông nghiệp ở trung tâm, ngoại ô và khu vực lân cận đô thị, có chức
năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và
các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng
các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung ấp trở lại cho đô thị các sản
phẩm và dịch vụ cao cấp. Nông nghiệp đô thị bao gồm nông nghiệp nội thị và nông
nghiệp ngoại thị với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và
quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy
văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng
thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường. Quá trình đó được diễn ra ở các
vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô. Kế thừa
các quan điểm cả trong và ngoài nước trên, tác giả quan niệm về NNĐT như sau:
Nông nghiệp đô thị là những hoạt động sản xuất nông nghiệp cả ở trung tâm, ngoại
ô và khu vực lân cận đô thị; bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và
lâm nghiệp trên cơ sở sử dụng hợp lí các nguồn lực tự nhiên và kinh tế-xã hội để
cung cấp các sản phẩm và dịch vụ nông nghiệp cho cư dân đô thị và phục vụ cả cho
xuất khẩu.
Vận dụng quan niệm về nông nghiệp đô thị trên đây vào điều kiện cụ
thể của Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất ở
trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế
biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng
các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và
vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm và dịch vụ cao cấp.
Nông nghiệp đô thị bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị với các
hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản.
Theo Lê Văn Trưởng, 2015[13]: Nông nghiệp đô thị bao gồm hai bộ phận:
nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị. Trong đó nông nghiệp ngoại thị bao
gồm bộ phận nông nghiệp nằm trong ranh giới hành chính của đô thị và bộ phận
nông nghiệp liền kề đô thị đang chịu tác động trực tiếp của đô thị và mang chức
năng của nông nghiệp đô thị. Nông nghiệp nội thị và ngoại thị không phải là những
tàn dư của nông nghiệp nông thôn, không phải là địa bàn hoạt động của những
người di cư tư nông thôn tới mà là những bộ phận cấu thành của đô thị. Nông
nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị là những loại hình nông nghiệp mới của
nhân loại và chúng đang phát triển rất nhanh dưới tác động chủ yếu của quá trình đô
thị hóa. Hai khu vực nông nghiệp này mặc dù cũng sử dụng đất đai làm tư liệu sản
trường (đất, nước, cảnh quan,...) và xã hội (an ninh lương thực, an toàn thực phẩm,
công ăn việc làm,...) khác nhau. Hơn nữa, việc lựa chọn như vậy sẽ liên quan đến
các mức chi phí kinh tế khác nhau, nhất là khi chi phí xây dựng hệ thống đường sá,
nước, vận chuyển cho sản xuất nông nghiệp thường bị các nhà quy hoạch bỏ qua
(Nguyễn Ngọc Tuấn, 2003)[14].
Bên cạnh đó, việc phát triển nông nghiệp đô thị là chìa khóa mở ra con
đường phát triển bền vững thực chất cho các đô thị sinh thái trong tương lai,… là
yếu tố chính thúc đẩy mô hình nông nghiệp đô thị phát triển. Tư các thực tế rất thiết
thực đó có thể khẳng định phát triển nông nghiệp đô thị, nhất là nông nghiệp ven đô
có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề khó khăn của các
đô thị trong quá trình đô thị hóa. Đây là một hướng đi quan trọng cho các đô thị tại
các tỉnh miền núi, biên giới, nơi có điều kiện giao lưu với Trung Quốc như thành
phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong nghiên cứu này, cũng như các thành phố khác
của nước ta trong hiện nay và cả trong tương lai.
- Đô thị hóa
Đô thị hóa theo tiếng Anh là Urbanization. Urban là “thành phố” là khái
niệm đa chiều, đa diện về kinh tế-xã hội và môi trường, là quá trình tập trung dân số
vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm quần cư đô thị trên cơ sở
phát triển sản xuất và đời sống (I.M Madaleno, 2002)[9].
Đô thị hóa là một phạm trù kinh tế-xã hội, là quá trình chuyển hóa và
vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy
mô toàn cầu, mang tính chất đặc chung nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội
trong thời hiện đại.
Theo nghĩa hẹp: Đô thị hóa là quá trình chuyển biến nông thôn thành đô thị,
sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế-xã hội
Tuy nhiên không nên đồng nhất ĐTH với sự tăng số lượng các đô thị, tăng
quy mô dân số đô thị, cũng như ảnh hưởng của nó đối với các vùng xung quanh mà
còn phải chú ý đến những thay đổi mang tính chất đa dạng về mặt kinh tế-xã hội
Trong rất nhiều các giải pháp thì phát triển nông nghiệp đô thị được xem như một
hướng đi tối ưu có tính khả thi cao để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến
trình đô thị hoá, hướng tới xây dựng các đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.
Tóm lại: Trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay, đô
thị hóa là một quá trình tất yếu khách quan. Trong rất nhiều các giải pháp để giảm
bớt các bất cập trong quá trình đô thị hóa này ở nước ta thì phát triển nông nghiệp
đô thị, bao gồm cả nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị, được xem như một
hướng đi tối ưu có tính khả thi cao để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến
trình đô thị hoá, hướng tới xây dựng các đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.
1.1.2. Vai trò của nông nghiệp đô thị với chiến lược phát triển bền vững của các
đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế-xã hội đáng ghi nhận của quá trình đô
thị hóa đã làm thay đổi diện mạo của khu vực đô thị, góp phần nâng cao mức sống
của một số bộ phận dân cư, thì đô thị hóa cũng làm nảy sinh nhiều nhiều vấn đề
phức tạp cần sớm được giải quyết như: vấn đề di dân nông thôn ra thành thị; tình
trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự
an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng quá tải và ô nhiễm môi
trường; vấn đề an toàn về lương thực, thực phẩm, vấn đề cảnh quan đô thị,… Một
thực tế hiện nay của quá trình đô thị hóa ở nước ta là diễn ra trên diện rộng nhưng
các yếu tố kinh tế đô thị làm động lực cho đô thị hóa thì còn nhiều khó khăn, và mới
chỉ chú trọng đô thị hóa theo chiều rộng mà ít dựa vào động lực nội tại – đó là chiều
sâu. Đô thị hóa trong điều kiện nền tảng như vậy càng làm cho các khó khăn nội tại
như trên của các đô thị thêm phần căng thẳng và khó khăn trong việc tìm ra các giải
pháp khắc phục. Dựa trên những ưu thế nổi bật trong việc phân tích vai trò của nông
nghiệp đô thị cùng với việc tìm hiểu, đúc rút kinh nghiệm nhiều đô thị trên thế giới
đã áp dụng chúng tôi nhận thấy phát triển nông nghiệp đô thị thực sự là một động
lực nội tại rất quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của các đô thị của
Việt Nam hiện nay. Các phân tích, nhận định trên đây không nhằm mục đích để làm
sáng tỏ vai trò của nông nghiệp đô thị.
Trong tiến trình đô thị hóa, vì các mục tiêu chung của các đô thị mà vấn đề
thu hẹp diện tích đất nông nghiệp của nông dân ven đô diễn ra phổ biến. Người dân
mất tư liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện không có
trình độ, vốn hạn chế, kinh nghiệm thích ứng với lối sống và tác phong công nghiệp
rất thấp vì vậy vấn đề việc làm cho người lao động, nhất là những gia đình ven đô
càng trở nên cấp thiết. Những người đàn ông có thể làm các nghề tạm để kiếm sống
nhưng trong gia đình phụ nữ, người già và trẻ em sẽ làm được gì? Bên cạnh đó, làn
sóng di chuyển dân cư tư nông thôn về thành thị để tìm kiếm việc làm cũng gia tăng
nhanh chóng. Trong vấn đề này với nông nghiệp đô thị, nếu được quan tâm và có
quy hoạch, có chiến lược phù hợp để tận dụng quỹ đất đô thị và sức lao động dôi dư
để góp phần quan trọng vào việc giải quyết bài toán việc làm và thu nhập trong tiến
trình đô thị hóa.
- Nông nghiệp đô thị dễ tiếp cận với các dịch vụ đô thị
Trong điều kiện quỹ đất đô thị và vùng ven đô thị bị hạn chế, việc áp dụng
công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp để tăng sản lượng cây trồng vật nuôi là
vấn đề mang tính tất yếu và cấp bách. Trong khi một bộ phận khá lớn nông dân ở
khu vực nông thôn chưa có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ khoa học và công
nghệ, còn tổ chức sản xuất sản xuất nông nghiệp theo lối quảng canh, truyền thống
thì nông nghiệp đô thị có rất nhiều thuận lợi trong việc vận dụng những dịch vụ
khoa học, công nghệ vào sản xuất. Bên cạnh đó, nông nghiệp đô thị còn có khả
năng phát triển theo các mô hình chuyên biệt để cung ứng nhiều dịch vụ cho đô thị
như cung cấp cây xanh, hoa tươi và thực phẩm cho khách sạn, cung ứng dịch vụ du
lịch, dịch vụ an dưỡng,...
- Nông nghiệp đô thị góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên,
giảm ô nhiễm môi trường
Nông nghiệp đô thị có thể tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước
tưới,... cho sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng việc làm giảm ô nhiễm môi
trường. Chất thải đô thị đang thực sự tạo thành áp lực ngày càng tăng cùng với sự
xanh, công viên, mảng xanh trên các ban công, hay các vành đai xanh bao quanh
ven đô,… là những hình thức và sản phẩm của nông nghiệp đô thị). Sản xuất nông
nghiệp đô thị môt mặt vừa đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng
chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư
dân đô thị.
Như vậy, đô thị hóa là một quá trình tất yếu, không thể không xẩy ra, dù
muốn hay không muốn tương lai của thế giới vẫn nằm ở các thành phố. Đó là những
nội dung cơ bản trong kết luận của hội nghị thượng đỉnh thế giới về đô thị do Liên
Hợp Quốc tổ chức tại Ixtambul, Thổ Nhĩ Kỳ (trích theo Võ Hữu Hòa, 2013)[3]. Đô
thị hóa nhanh trong điều kiện của các nước đang phát triển như nước hiện nay ta
ngoài những tác động tích cực mong đợi, đã và đang thực sự làm nảy sinh mặt trái
bởi nhiều bất cập và thách thức. Do đó, phát triển nông nghiệp đô thị được xem là
giải pháp tối ưu để giải quyết các bất cập này, bởi nông nghiệp đô thị có vai trò và
nhiều ưu điểm như đã phân tích ở trên.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển nông nghiệp đô thị trên thế giới
Trên thế giới, ngay tư cuối thế ky XX, nông nghiệp đô thị đã trở thành xu thế
trong quá trình phát triển đô thị ở các quốc gia. Theo báo cáo hàng năm của Tổ
chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), năm 2008 có gần 1/3 lượng rau, quả, thịt,
trứng cung ứng cho đô thị trên thế giới là tư nông nghiệp đô thị, 25 - 75% số gia
đình ở thành phố phát triển theo mô hình nông nghiệp đô thị (trích theo Hoàng Thị
Ngọc Ánh, 2016)[1]. Rất nhiều đô thị nổi tiếng trên thế giới phát triển mạnh về
nông nghiệp đô thị. Sau đây là ví dụ: Ở Matxcơva (Nga) 65% gia đình có mô hình
VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37%,... Tại Béclin (Đức), có 8 vạn mảnh
vườn trồng rau ở đô thị; hàng vạn cư dân ở Niu Oóc (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau
trên sân thượng. Tại nhiều thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng
Hải, Quảng Châu,... nông nghiệp đô thị, ven đô thị đã cung cấp tới 85% nhu cầu về
rau xanh, 50% về thịt trứng cho người dân ở các độ thị này. Theo Tổ chức Làm
- Ấn Độ
Thành phố Mumbai (Ấn Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao
nhất thế giới, với con số 48.215 người/km2. Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, rất
đông người nghèo, tác giả Doshi đưa ra phương pháp làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ
trên ban công, thậm chí treo trên tường, trên cơ sở dùng bã mía trộn đất đựng trong
túi nhựa hay trong các loại hộp, ống, lốp xe, để hộ dân có rau ăn tại gia và tăng thu
nhập. Theo cách thức của ông, hộ gia đình có thể tự túc được 5 kg rau quả mỗi ngày
trong 300 ngày của năm (trích theo Trần Quốc Việt, 2013)[15]. Đây được đánh giá
là sáng kiến tốt trong phát triển nông nghiệp đô thị tại một thành phố đất trật, người
đông này.