TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-------*-------
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DANH TỪ CHO TRẺ
MGB THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHỦ ĐỀ
“CÁC LOẠI PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG”
Người hướng dẫn
: PGSTS: Lã Thị Bắc Lý
Tên học viên
: Nguyễn Thị Thân
Lớp
: K5b
SBD
: 55
1
MỤC LỤC
Nội dung
tâm . Chất lượng giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con
người. Có thể nói nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc
lớn vào sự giáo dục của trẻ trong trường mầm non.
Để phát triển trẻ một cách toàn diện thì nhiệm vụ quan trọng không thể
thiếu đó là việc “Dạy trẻ khám phá môi trường xung quanh”: Khám phá môi
trường xung quanh cung cấp cho trẻ những hiểu biết cơ bản về thiên nhiên và
cuộc sống, nó mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh
động, đầy hấp dẫn với trẻ thơ, thế giới xung quanh sinh động là vậy, thích thú là
vậy, vì thế trẻ luôn có niềm khao khát khám phá, tìm hiểu về chúng.
Nhiệm vụ của nhà trường mầm non là chăm sóc, giáo dục trẻ phát triển toàn
diện cả về thể chất và trí tuệ để cho trẻ đủ điều kiện vào học ở trường phổ thông.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt nền tảng cho trẻ phát triển toàn diện
đó là phát triển ngôn ngữ, bởi lẽ ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp tư duy, giúp
cho trẻ lĩnh hội tri thức. Cơ sở để phát triển ngôn ngữ là phát triển vốn từ
Việc phát triển ngôn ngữ nói chung và phát triển vốn từ nói riêng ở Trường
Mầm non được tích hợp trong các hoạt động.
Một trong những hoạt động mang lại hiệu quả cao là hoạt động khám phá
môi trường xung quanh. Chính vì vậy mà em lựa chọn đề tài “Biện pháp phát
triển danh từ cho trẻ 3-4 tuổi khám phá các loại phương tiện giao thông”
II.
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận thực tiễn liên quan đến phát triển vốn từ
cho trẻ Mầm non, trên cơ sở đó nhằm mở rộng, phát triển vốn từ cho trẻ, phát
triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 3-4 tuổi.
Nghiên cứu những “Biện pháp phát triển danh từ cho trẻ 3-4 tuổi khám phá
môi trường xung quanh, chủ đề: các loại phương tiện giao thông” nhằm nâng
cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ và hoàn thiện nhân cách trẻ.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3
âm thanh ngôn ngữ; các hoạt động tư duy người là sản phẩm hoạt động của não
bộ. Như vậy, hoạt động lời nói có cở sinh học. Nắm vững các kiến thức giải
phẫu sinh lí học cũng góp phần giúp cho giáo viên mầm non nâng cao hiệu quả
giáo dục tiếng mẹ đẻ cho trẻ.
1. Sự phát triển của bán cầu đại não.
Bán cầu đại não gồm hai nửa bán cầu phải và trái nối với nhau bởi thể
trái. Bề mặt mỗi bán cầu đại não có rãnh, chia bán cầu đại não thành 4 thùy.
Diện tích bề mặt của cả hai bán cầu bằng 1700 - 2000 cm2. Tốc độ tăng trọng
lượng não nhanh nhất ở giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi: ở độ tuổi này diễn ra quá trình
myelin hóa các sợi thần kinh, phân hóa về cấu tạo và chức phận giữa các tế bào
vỏ não. Vỏ não chứa 100 tỉ nơron. Các nơron sắp xếp thành 6 lớp. Mỗi nơron có
thể có tới 10.000 xinap. Ngay từ khi lọt lòng, số lượng nơron vỏ đại não đã được
hình thành ổn định. Từ 0-2 tuổi diễn ra quá trình phức tạp hóa dần dần mối liên
4
hệ giữa các nơron. Từ 1 đến 3 tuổi là thời kì hoàn chỉnh hóa hệ thần kinh về hình
thái và chức năng. Từ 3 tuổi trở đi, trọng lượng của não tăng chủ yếu là do tăng
số sợi thần kinh, phát triển các sợi thần kinh. Vào khoảng từ 5 đến 6 tuổi các
vùng liên hợp trên vỏ não đã tương đối hoàn chỉnh. Người ta cũng đã xác định
được là hoạt động thần kinh hướng tâm (cảm giác) hoàn chỉnh vào khoảng 6 đến
7 tuổi còn hoạt động thần kinh li tâm (vận động) hoàn chỉnh muộn hơn vào lúc 2
đến 5 tuổi.
Vỏ não có 52 vùng chức năng khác nhau trong đó có những vùng chỉ con
người mới có: vùng hiểu chữ viết, vùng hiểu tiếng nói. Bán cầu đại não điều
khiển, điều hòa và phối hợp hoạt động của toàn bộ cơ thể.
Chức năng ngôn ngữ: trên đại não có những vùng chuyên biệt phụ trách
chức năng ngôn ngữ.
Chức năng tư duy: chủ yếu do đại não đảm nhận khả năng tư duy liên quan
đến sự phát triển của đại não đặc biệt là vỏ não, do bán cầu đại não rất phát triển
cũng tăng lên dưới tác động của ngôn ngữ.
Tính bền vững của chú ý: Tính bền vững của chú ý tăng đáng kể. Theo số
liệu nghiên cứu thì trẻ 3 – 4 tuổi chú ý được 27 phút so với trẻ 1 tuổi là 14,5
phút.
Tính chủ định của chú ý phát triển mạnh.
1.2. Ghi nhớ:
+ Trẻ không chỉ ghi nhớ những dấu hiệu bên ngoài mà trẻ đi dần vào
thuộc tính khuất trong trường tri giác.
+ Giữ gìn thông tin: Ở độ tuổi này, trẻ giữ gìn được thông tin gây ấn
tượng mạnh cho trẻ trong thời gian vài tháng, thậm chí cả đời người.
Quá trình giữ gìn thông tin mang tính chất trực quan hình ảnh, nếu sự kiện, đồ
vật… cần nhớ gắn với cảm xúc thì trẻ nhớ được lâu, trẻ bắt đầu nhớ được ý
nghĩa đơn giản của đồ vật, sự kiện.
Việc giữ gìn những âm thanh, ký hiệu bắt đầu phát triển mạnh.
+ Nhận lại và nhớ lại: Trẻ dễ nhận lại, nhớ lại các thao tác, hành vi, ngôn
ngữ. Trẻ nhớ nhanh, đúng những sự kiện, đồ vật gắn với cảm xúc, hành động.
2. Đặc điểm tư duy của trẻ.
X.Vưgôtxki cho rằng sự hình thành tư duy chủ yếu thuộc về sự lĩnh hội ngôn
ngữ, tên gọi, chức năng các đồ vật, sự kiện, hiện tượng xung quanh trẻ.
+ Ngôn ngữ là ký hiệu tượng trưng về các sự vật, hiện tượng do vậy chúng mang
tính khái quát. Theo A.V. Daporozet thì khi trẻ nắm được trung bình 1600 từ thì
hàng loạt đặc trưng của tư duy xuất hiện: thao tác so sánh, thao tác phân tích,
thao tác tổng hợp.
+ Tư duy của trẻ phát triển đi từ khái quát trên cơ sở những dấu hiệu bên ngoài
của đồ vật đến khái quát những dấu hiệu bản chất của đồ vật, hiện tượng cụ thể.
+ Ở trẻ đã xuất hiện một số dạng phán đoán, suy lý đơn giản gắn liền với các sự
kiện, hiện tượng mà trẻ tri giác được gắn với hoàn cảnh cụ thể.
6
những câu hỏi cho người lớn. Trẻ sử dụng từ để diễn đạt quan sát, ý nghĩa, ý
tưởng. Trẻ hiểu những khái niệm về thời gian đơn giản (hôm qua, giờ ăn trưa, tối
nay) và nhận biết màu sắc, tên gọi, địa chỉ.
III. Hoạt động khám phá môi trường xung quanh
7
Tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh là trang bị cho trẻ tri
thức về môi trường xung quanh và bản thân; hình thành thái độ tích cực của trẻ
đối với môi trường xung quanh; rèn luyện cho trẻ kĩ năng và hành vi trong mối
quan hệ với môi trường xung quanh. Vì vậy, việc lựa chọn và sử dụng các
phương tiện cần phải hướng đến: cung cấp tri thức về tự nhiên, xã hội xung
quanh trẻ, giúp trẻ có thể lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người đã
được truyền lại qua các đối tượng, hiện tượng, sự kiện diễn ra xung quanh trẻ;
cho phép trẻ có cơ hội tham gia vào các hoạt động và giao tiếp với các đối tượng
trong môi trường xung quanh để hình thành kĩ năng kĩ xảo, đồng thời trẻ cũng
được rèn luyện kỹ năng phát âm, rèn luyện câu theo cấu trúc ngữ pháp và từ đó
vốn từ của trẻ sẽ tăng lên rất nhanh tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ mạch lạc
cho trẻ.
1. Nội dung của hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
* Khám phá môi trường tự nhiên.
Môi trường tự nhiên xung quanh trẻ chứa đựng các yếu tố cần thiết để hình
thành ở trẻ biểu tượng về tự nhiên hữu sinh và tự nhiên vô sinh, giáo dục tình
cảm tốt của trẻ đối với chúng. Từ khi sinh ra, trẻ đã tiếp cận với các yếu tố của
môi trường tự nhiên ( không khí, nước, ánh sáng, động vật, thực vật….). Theo
quá trình lớn lên, phạm vi tiếp xúc của trẻ với các yếu tố này ngày càng rộng
dần.
Hơn thế nữa, các yếu tố trong môi trường tự nhiên không tồn tại một cách
độc lập với nhau mà trong mối quan hệ thống nhất. Vì vậy, trong quá trình
hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh không chỉ sử dụng các
xung quanh là những sự vật, hiện tượng gần gũi quanh trẻ và đặc điểm nhận
thức của trẻ mầm non thì đây là phương pháp quan trọng, làm cơ sở cho các hoạt
động nhận thức của trẻ về môi trường. Trong quá trình dạy học có sử dung các
phương tiện trực quan thường trẻ dễ hiểu, dễ nhớ, dễ gây được hứng thú, phát
triển sự hiểu biết, tò mò của trẻ. Khi trình bày phải đưa ra đúng lúc, đúng chỗ,
khi sử dụng cần hướng dẫn trẻ quan sát có hệ thống. Trong quá trình hướng dẫn
trẻ quan sát, cần kết hợp với phương pháp dùng lời để giúp trẻ nắm được tri
thức.
2.2. Phương pháp quan sát.
Quan sát là một cách thức giáo viên tổ chức hướng dẫn trẻ tri giác lại các đồ
vật hiện tượng, các sự kiện xung quanh nhằm giúp trẻ phát triển vốn từ về tên
gọi tính chất bên ngoài của chúng, đồng thời rút ra các kết luận khái quát, phù
hợp với trình độ nhận thức của trẻ em.
2.3. Phương pháp dùng lời.
Là phương pháp giáo viên dùng lời để giải thích một vấn đề hay tính chất,
đặc điểm nào đó của sự vật hiện tượng, nhằm giúp trẻ nhận thức đúng đắn về sự
vật hiện tượng ấy. Phương pháp này thường được sử dụng trong sự kết hợp chặt
chẽ với phương pháp trực quan để làm cho tri giác của trẻ sáng tỏ hơn. Lời giải
9
thích của giáo viên chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và có sức truyền cảm.
Giảng giải phải kết hợp với hình ảnh cụ thể để trẻ dễ dàng tiếp thu được tri thức.
2.4. Phương pháp đàm thoại:
Là phương pháp đặt ra những câu hỏi đã được lựa chọn, nhằm kích thích
hoạt động nhận thức và gợi ý cho trẻ dựa vào tri thức đã biết, đã quan sát để trả
lời câu hỏi. Phương pháp này được sử dụng nhiều trong dạy học ở trường mầm
non và không chỉ có tác dụng củng cố, mở rộng, hệ thống hoá tri thức trẻ đã tiếp
thu mà còn kiểm tra được tri thức của trẻ.
Đối với giáo viên: câu hỏi phải được sắp xếp theo một hệ thống phức tạp dần
Mục đích của trò chơi là để luyện phát âm và phát triển ngôn ngữ, phát triển
lời nói mạch lạc, học được mẫu câu mới khi đối thoại.
Nội dung: Trò chơi học tập, trò chơi phân vai, trò chơi đóng kịch, trò chơi
vận động.
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
I.
Khái quát địa bàn điều tra.
Đặc điểm của trường Mầm non Bình Phú A
Trường Mầm non Bình Phú A thuộc thôn Thái Hòa xã Bình Phú huyện
Thạch Thất Thành phố Hà Nội.
Trường Mầm non Bình Phú A được thành lập từ năm 1986. Khi mới thành
lập trường có tên là Trường mầm non Bình Phú, nhà trường gặp rất nhiều khó
khăn về cơ sở vật chất phục vụ cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ,
cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên: Có 7 phòng học
trong đó có 2 phòng học tạm nhờ đình và chùa của thôn, các phòng học không
đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về diện tích, ánh sáng cũng như các đồ dùng trang
thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
Về giáo viên có 17 đồng chí, chỉ có 3 đồng chí qua bồi dưỡng sơ cấp nhà
trẻ mẫu giáo, hàng năm chỉ thu nhận được hơn trăm học sinh đến lớp. Mặc dù
điều kiện khó khăn, nhưng tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường khắc
phục mọi khó khăn về đời sống vẫn bám trường, bám lớp, yêu nghề mến trẻ tận
tâm với nghề nghiệp. Làm tốt công tác tuyên truyền, có các biện pháp nâng cao
chất lượng nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Do vậy, tỷ lệ huy động năm sau cao hơn
năm trước. Nhà trường đã làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục và tham mưu với
các cấp lãnh đạo đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học.
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ giáo viên. Đến tháng 3 năm
2013 do số trẻ và số giáo viên đông, nên UBND huyện Thạch Thất đã có quyết
định tách Trường Mầm non Bình Phú thành 2 trường “Mầm non Bình Phú A” và
+ Cán bộ, giáo viên trong nhà trường đạt trình độ chuẩn 100%, trong đó trên
chuẩn 19/24 = 64%. (Cao đẳng :1 Đ/c - Đại học: 18Đ/c). Có 5 đồng chí đang
theo học các lớp Đại học Sư phạm Mầm non.
3. Đặc điểm khu dân cư: (dân trí, nông dân, buôn bán)
Thuận lợi :
Nhà trường được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo xã Bình Phú, Đảng Uỷ,
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã Bình Phú. Đặc biệt có sự quan tâm chỉ
đạo sát sao của lãnh đạo Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Thạch Thất. Sự nhiệt
tình yêu nghề mến trẻ của đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường, có sự quan
tâm ủng hộ của nhân dân địa phương.
Khó khăn :
Thu nhập kinh tế của nhân dân địa phương còn thấp, đời sống chủ yếu dựa
vào nông nghiệp và đánh bắt hải sản. Nên việc điều tra huy động trẻ ra lớp nhà
trường cũng gặp nhiều khó khăn, nhận thức về giáo dục mầm non của một số
12
người dân còn hạn chế. Họ quan niệm rằng trẻ các độ tuổi 3,4 tuổi chưa cần thiết
đi học. Dành riêng cho trẻ 5 tuổi vào học trước để trẻ lên lớp 1. Do vậy tỷ lệ trẻ
3 tuổi và nhà trẻ đi học chưa cao.
II. Đối tượng điều tra:
1. Điều tra 4 cô dạy lớp Mẫu giáo bé.
STT
Họ tên cô
Trình độ
Thâm niên
1
Nguyễn Thị Thân
Trung cấp
2 năm
Nam
Nguyễn Anh Quân
Nam
5
Bùi Thị Phương Anh
Nữ
6
Vũ Thị Ngọc Anh
Nữ
7
Nguyễn Kim Chi
Nữ
8
Nguyễn Thế Gia Đức
Nam
14
15
Ngô Văn Trường
Nam
Lê Huy Hoàng
Nam
2
3
4
13
Hoàn cảnh gia đình
Bố: Công nhân
Mẹ: Giáo viên
Bố: Thợ mộc
Mẹ: Kế toán
Bố: Công nhân
Mẹ: Giáo viên
Bố: Công nhân
Mẹ: Giáo viên
Bố: Thợ mộc
Mẹ: Nông nghiệp
Bố: Thợ mộc
Mẹ: Kế toán
18
Phạm Anh Khoa
Nam
19
Lê Huyền My
Nữ
20
Ngô Gia Minh
Nam
21
Lê Hà Phương
Nữ
22
Lê Thị Thu Phương
Nữ
Nam
28
Nguyễn Hồng Quân
Nam
29
Trần Đình Quân
Nam
30
Nguyễn Yến Nhi
Nữ
Mẹ: Nông nghiệp
Bố: Thợ mộc
Mẹ: Công nhân
Bố: Thợ xây
Mẹ: Nông nghiệp
Bố: Công nhân
Mẹ: Công nhân
Bố: Thợ mộc
Mẹ: Nông nghiệp
Bố: Thợ mộc
1. Sử dụng phiếu hỏi.
Phiếu điều tra dành cho giáo viên.
14
Xin cô vui lòng cho biết thông tin cá nhân.
Họ và tên:
Nơi công tác: Trường Mầm non Bình Phú A
Dạy lớp: 3 tuổi
Trình độ chuyên môn:
Thâm niên công tác:
Để góp phần nâng cao hiệu quả và mức độ phát triển danh từ cho trẻ mẫu giáo
bé xin cô vui lòng trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Theo Cô việc phát triển ngôn ngữ nói chung và phát triển danh cho trẻ
mẫu giáo nói riêng có cần thiết không?
Rất cần thiết
(1)
Cần thiết
(2)
Bình thường
(3)
Không cần thiết
(4)
Trả lời…………………………………………………..
Câu 6. Trong quá trình cho trẻ khám phá về một số loại phương tiện giao thông
cô thường sử dụng những phương pháp nào để phát triển danh từ cho trẻ? (Có
thể chọn nhiều phương án)
- Phương pháp đàm thoại
(1) - Phương pháp sử dụng trò chơi (2)
- Phương pháp trực quan
(3) - Phương pháp thực hành
- Ý kiến khác: ……………………………………………
15
(4)
Câu 7: Hãy cho biết trong các phương pháp cô đã sử dụng, phương pháp nào
hiệu quả nhất trong việc phát triển danh từ cho trẻ và làm cho trẻ ít mệt mỏi,
căng thẳng? Cô đã thực hiện như thế nào?
Trả lời ……………………………………………………………
Câu 8: Trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với một số loại phương tiện giao
thông cô đã sử dụng những hình thức nào ?
a) Tổ chức dạy trong tiết học
động khác
(1) b) Tổ chức kết hợp với các hoạt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
Danh từ
Xe đạp
Xe máy
Ô tô
Máy ủi
Máy xúc
Xe buýt
Xe cần cẩu
Máy bay
Tàu hỏa
Ca nô
Xe lu
Kinh khí cầu
29
Tên lửa
30
Mũ bảo hiểm
3. Phương pháp Quan sát.
a) Đối với giáo viên: Quan sát cách giáo viên tổ chức các hoạt động như:
Hoạt động học, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc…..
b) Đối với trẻ: Cho trẻ trực tiếp tri giác các sự vật, điều này rất quan trọng
đối với trẻ, bởi tư duy chủ yếu của trẻ là tư duy trực quan hình tượng. Nội dung
của việc cho trẻ làm quen với một số loại phương tiện giao thông là cho trẻ nhận
biết và phân biệt được một số đặc điểm nổi bật của nó như: tên gọi, công dụng.
Khi cho trẻ quan sát, đồ dùng trực quan để minh hoạ phải đẹp, chính xác, điều
này giúp trẻ có khả năng nhận biết kiến thức sâu sắc hơn. Với phương pháp này
tôi đã xây dựng biện pháp sau:
- Sử dụng phim, tranh ảnh và đồ dùng đồ chơi tự tạo kết hợp với lời nói
(trong quá trình này kết hợp cho trẻ gọi tên và giải thích theo sự gợi mở của cô).
4. Phương pháp đàm thoại
a) Đối với giáo viên: Trao đổi với giáo viên về cách thức tổ chức các hoạt
động trong ngày nhằm phát triển danh từ về một số loại quả cho trẻ.
Các giáo viên đã sử dụng phương pháp này vào các hoạt động như thế nào? Hệ
thống câu hỏi được sắp xếp ra sao? Sử dụng các tình huống nhằm khơi gợi khả
năng ngôn ngữ của trẻ như thế nào?....
b) Đối với trẻ: Trao đổi và gợi mở với trẻ về một số vấn đề trong việc khám
phá môi trường xung quanh về các loại phương tiện giao thông. Phương pháp
này nhằm kích thích hoạt động nhận thức của trẻ, vì vậy đòi hỏi trẻ phải tham
gia trao đổi suy nghĩ cảm nhận riêng của mình. Ở phương pháp này tôi đã xây
dựng một số biện pháp sau:
17
4/4 giáo viên đã chuẩn bị đầy đủ giáo án và đồ dùng dạy học trước khi lên
lớp
Câu 3: Việc phát triển danh từ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi là điều rất cần thiết, cô
có thường xuyên thực hiện điều này không ?
18
4/4 giáo viên đều cho rằng: việc phát triển danh cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi
là điều rất cần thiết, vì vậy các giáo viên đã thực hiện điều này rất thường xuyên
để cung cấp danh từ cho trẻ.
Câu 4: Theo cô việc phát triển danh từ cho trẻ ở trường mầm non là nhiệm vụ
của ai ?
4/4 giáo viên đều ý thức bổn phận và trách nhiệm của mình là giúp trẻ phát
triển toàn diện, đặc biệt là việc phát triển danh từ cho trẻ.
Câu 5: Để thực hiên tốt tiết dạy phát triển vốn từ cho trẻ thông qua một số loại
phương tiện giao thông cô cần chuẩn bị những gì?
4/4 giáo viên trả lời: Cần chuẩn bị tranh ảnh, câu từ chỉ về bức tranh, đồ
dùng thực hành, mô hình, sơ đồ và hệ thống câu hỏi gần gũi với trẻ mang tính
mở rộng danh từ.
2/4 giáo viên chuẩn bị thêm các trò chơi vui nhộn, phù hợp với lứa tuổi và
đề tài dạy.
2. Kết quả những biện pháp giáo viên đã sử dụng để phát triển danh từ cho trẻ
mầm non thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh với chủ đề:
“ Các loại phương tiện giao thông”.
Câu 6. Trong quá trình cho trẻ khám phá về “ Các loại phương tiện giao thông”
cô thường sử dụng những phương pháp nào để phát triển danh từ cho trẻ?
4/4 Giáo viên đã sử dụng phương pháp trực quan, đàm thoại và phương
pháp sử dụng trò chơi.
Câu 7: Hãy cho biết trong các phương pháp cô đã sử dụng, phương pháp nào
giảng dạy.
Khó khăn
4/4 Giáo viên đều nhận thấy một số trẻ chưa tự tin, mạnh dạn nói lên ý
kiến của mình.
Tóm lại, đa số nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ nói
chung và phát triển danh từ cho trẻ nói riêng ở trường mầm non Bình Phú A
tương đối tốt. Giáo viên luôn tìm hiểu tâm sinh lý của từng trẻ, hoàn cảnh gia
đình trẻ sống, tổ chức nhiều hoạt động cho trẻ tham gia nhằm phát triển danh từ
cho trẻ một cách phong phú. Đồng thời, các giáo viên đã rất tâm huyết với nghề,
luôn cố gắng chuẩn bị cho trẻ được tiếp xúc, trải nghiệm qua các hoạt động
trong ngày. Vì thế các cháu mỗi ngày được phát triển hơn về mọi mặt, đặc biệt là
phát triển danh từ.
Bên cạnh đó, giáo viên cũng đã sử dụng và nắm vững các phương pháp như
phương pháp đàm thoại, phương pháp tổ chức trò chơi, phương pháp luyện tập,
phương pháp trực quan hình ảnh….. sử dụng thành thạo và biết vận dụng các
biện pháp mọi lúc mọi nơi cho trẻ. Đồng thời, các giáo viên đã chuẩn bị tranh
ảnh, đồ dùng đồ chơi, tình huống phục vụ cho tiết dạy rất tốt, đã chú ý nhiều đến
phần hoạt động của trẻ, dùng các tình huống hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ, đã
phát huy được tính tích cực cho trẻ. Hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra phù hợp
20
với trẻ. Qua các tiết dạy, giáo viên đã cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho
trẻ về một số nghề dịch vụ khá đầy đủ.
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề:
- Giáo viên xử lý tình huống chưa khoa học,
- Trẻ phát âm thiếu chính xác một số từ nhưng giáo viên chưa chú ý sửa sai.
3. Kết quả điều tra vốn danh từ của trẻ thông qua hoạt động khám phá môi
trường xung quanh với chủ đề: “ Các loại phương tiện giao thông”.
STT
Nguyễn Thị Lan Anh
Nguyễn Đức Quang
Nguyễn Anh Minh
Nguyễn Anh Quân
Bùi Thị Phương Anh
Vũ Thị Ngọc Anh
Nguyễn Kim Chi
Nguyễn Thế Gia Đức
Ngô Nguyệt Nhi
Nguyễn Xuân Cường
Nguyễn Hoàng Giang
Bùi Huy Đức Phương
Bùi Thị Yến Ngọc
Ngô Văn Trường
Lê Huy Hoàng
Vũ Hải Phong
Bùi Thị Yến Ngọc
Phạm Anh Khoa
Lê Huyền My
Ngô Gia Minh
Lê Hà Phương
Lê Thị Thu Phương
Nguyễn Tiến Đạt
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trần Hoàng Bảo Chân
Đặng Gia Ngân
Bùi Huy Long
Nguyễn Hồng Quân
21
29
30
Trn ỡnh Quõn
Nguyn Yn Nhi
100%
100%
Sau khi tr c giỏo viờn cung cp kin thc qua cỏc phng phỏp dy hc a
s gi c tờn cỏc loi phng tin giao thụng
Tụi ó tin hnh iu tra khong 30 t tr mu giỏo bộ v ó tng hp phõn
tớch cỏc s liu trờn, cui cựng tụi ó i n ỏnh giỏ chung cỏc mt nh sau:
- Nhn xột v s lng t:
30 chỏu c iu tra u cú s lng cỏc danh t tng i ng u nhau,
hu ht cú y 30 danh t trong bng t iu tra. S lng danh t loi tng
lờn theo thỏng tui, iu ú chng t mi quan h ca tr vi nhng ngi xung
quanh cng rng thỡ vn danh t ca tr cng tng lờn. Vỡ vy vic to iu kin
cho tr tip xỳc vi mụi trng xung quanh, tip xỳc vi mi quan h trong xó
hi qua cỏc hot ng hc v hot ng chi giỳp tr phỏt trin ton din
ng thi phi m rng phm vi cho tr tip xỳc l giu vn danh t cho tr.
Tóm lại: Danh từ là những từ rất gần gũi với trẻ đặc biệt
đối với trẻ mu giỏo bộ. Phạm vi, ý nghĩa ca danh từ trẻ thể hiện
rất rộng rãi.
Chng III: xut bin phỏp phỏt trin danh t cho tr mu giỏo bộ
thụng qua hot ng khỏm phỏ cỏc loi phng tin giao thụng.
I. Nguyờn tc xut bin phỏp phỏt trin danh t cho tr MGB thụng
qua hot ng khỏm phỏ cỏc loi PTGT
1. Bỏm vo chng trỡnh
quan sát và đàm thoại theo nội dung bức tranh để cho trẻ hiểu được từ.
+ Cô giáo có thể hướng dẫn trẻ xem tranh nhằm phát triển danh từ theo trình tự
sau:
+ Hướng dẫn trẻ quan sát toàn bộ bức tranh, sau đó mới đi vào chi tiết.
+ Cô đọc tên PTGT ở bức tranh
23
+ Dùng các câu hỏi đơn giản để hỏi trẻ về tên gọi tác dụng của một số loại
PTGT.
+ Củng cố, kết thúc.
2. Biện pháp 2: Dùng lời: đàm thoại
+Mục đích:
- Giúp trẻ biết về tên gọi một số loại PTGT gần gũi xung quanh trẻ.
- Giúp trẻ hình dung khi cô gọi tên các loại PTGT ấy
- Khai thác được vốn danh từ về các loại PTGT của trẻ
+ Yêu cầu:
- Cô chuẩn bị các câu hỏi ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi
- Hệ thống câu hỏi bao gồm nhiều cấp độ khác nhau nhằm phát huy tính tích cực
của trẻ, tránh những câu hỏi đóng để trẻ trả lời có hoặc không
+ Cách tiến hành:
Cô cho trẻ xem đoạn phim về mô hình ngã tư đường phố
+ Trong đoạn phim các con vừa xem các con đã thấy được gì? ( Cho trẻ trả lời
theo sự hiểu biết của trẻ). Cô hệ thống lại câu trả lời của trẻ.
+ Theo con trong phim có những loại phương tiện giao thông gì?
+ Bố mẹ đưa các con đi học bằng gì?
+ Xe máy, xe đạp dùng để làm gì?
+ Cô củng cố
+ Cách sử dụng 2:
- Trong thời gian giao tiếp tự do, cô có thể trò chuyện với trẻ về những nội dung
trường hoạt động như sau:
+ Trong lớp học có các góc hoạt động với nhiều đồ dùng, đồ chơi và
tranh ảnh, băng đĩa, sách truyện…về các loại PTGT để trẻ có thể được chơi,
được xem sách, được xé, dán, tô màu về các loại PTGT.
5. Biện pháp 5: Tích hợp với các môn học khác.
Với hoạt động “khám phá môi trường xung quanh ” giáo viên có thể lồng
ghép, tích hợp với các môn học khác để giúp trẻ cũng cố các kiến thức đã học.
Giáo viên có thể tích hợp một cách khéo léo, nhẹ nhàng nhưng không ôm đồm
quá nặng so với trẻ.
• Ví dụ : Khi cho trẻ hoạt động “khám phá môi trường xung quanh” với đề tài
“các loại phương tiện giao thông”. Giáo viên có thể kết hợp cho trẻ tìm một
số bài hát, bài thơ, câu đố về một số loại PTGT để dẫn dắt trẻ vào bài, qua đó
trẻ có cơ hội làm quen với các danh từ mới.
Ngoài ra giáo viên còn có thể tích hợp với các môn học khác như : Làm
quen với văn học, Âm nhạc, Tạo hình, thể dục…nhằm cũng cố thêm kiến thức
về một số loại PTGT cho trẻ.
C. KẾT LUẬN
Danh từ có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ, nó là một trong những điều kiện giúp cho nhân cách của trẻ phát triển một
25