GIÁO DỤC XÚC CẢM CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới luôn tồn tại và vận động, phát triển theo một quy luật tuần hoàn
không ngừng nghỉ. Con người chính là một trong những nhân tố trong thế giới
luôn vận động ấy. Không chỉ trang bị đầy đủ về mặt thể lực, trong con người còn
tồn tại đời sống tinh thần vô cùng phong phú để vận động trong cuộc sống. Đời
sống tình cảm của con người rất đa dạng, đó là nhờ chúng ta sống trong xã hội,
trong những quan hệ giữa người với người thật thiên hình vạn trạng: đối với
người này thì yêu thương, đối với người kia thì ghét bỏ, đối với người nọ thì giận
hờn... Thái độ tình cảm đó bao giờ cũng được biểu hiện ra bên ngoài bằng những
cử chỉ, lời nói khiến người ngoài có thể nhận ra khi giao tiếp và để lại những
rung động tích cực hay tiêu cực cho cả đôi bên. Khi trẻ bước vào lứa tuổi mẫu
giáo, nhiều bậc phụ huynh than phiền những vấn đề liên quan đến xúc cảm của
trẻ như bướng bỉnh, nhút nhát, kém hòa đồng. Những vấn đề này ảnh hưởng lớn
đến khả năng giao tiếp xã hội và sự xuất hiện nhiều hành vi sai lệch của trẻ. Vì
vậy, làm sao để trẻ biết làm chủ xúc cảm, tinh tế nhận ra xúc cảm của người khác
để kịp thời điều chỉnh hành vi và thái độ của bản thân là điều vô cùng cần thiết.
Cho đến nay tồn tại nhiều học thuyết về xúc cảm. Nhưng có một nhận xét chung
cho tất cả các thuyết về xúc cảm là một sự kết hợp của kích thích, sự thể hiện của
khuôn mặt, hành vi, các sự kiện của môi trường, và sự diễn dịch của nhận thức.
Những thay đổi ở bất kỳ nhân tố nào trong số đó có thể sẽ thay đổi xúc cảm được
trải nghiệm.
Sự hình thành xúc cảm là một một điều kiện tất yếu của sự phát triển con
người như là một nhân cách. Xúc cảm có nhiều loại: xúc cảm đạo đức, xúc
cảm thẩm mỹ, xúc cảm trí tuệ... Một đặc trưng của xúc cảm là có tính đối cực:
1


yêu và ghét, ưa thích và không ưa thích, xúc động và dửng dưng... Xúc cảm như
là sự rung động về một mặt nhất định của con người đối với các hiện tượng nào
đó của hiện thực. Xúc cảm có đặc điểm là mang tính chất chủ quan.

tư liệu về việc hình thành xúc cảm cho trẻ tại trường mầm non trở nên đa dạng,
phong phú, đề tài: “GIÁO DỤC XÚC CẢM CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI
QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH” đã được
chọn làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất một số biện pháp giáo dục xúc
cảm cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung
quanh nhằm giúp trẻ tích lũy xúc cảm và hình thành tình cảm tích cực. Từ đó,
làm cơ sở để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp của trẻ với mọi người và môi trường
xung quanh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục xúc cảm cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi ở trường mầm
non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi qua hoạt động
khám phá môi trường xung quanh.
4. Giả thuyết khoa học

3


Nếu phối hợp các biện pháp giúp trẻ được thực hành, trải nghiệm xúc cảm
trong quá trình khám phá môi trường xung quanh một cách nhẹ nhàng, thoải mái
và hợp lý thì xúc cảm tích cực của trẻ sẽ được tích lũy tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài: “Giáo dục xúc
cảm cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung
quanh”.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi

tính khả thi của các biện pháp đã đề ra tại một số trường mầm non trên địa bàn
thành phố Nam Định.
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Nhằm thu thập, xử lý các số liệu trong quá trình nghiên cứu và tổng kết,
thống kê số liệu điều tra thực trạng.
7. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên
cứu ở một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu các loại xúc cảm thường gặp: vui, buồn, ngạc nhiên, tức
giận, sợ hãi cũng như cách thể hiện, nhận biết và điều khiển nó.
- Nghiên cứu một số biện pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ 4 - 5 tuổi thông
qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
- Nghiên cứu và thực nghiệm trên trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở một số trường
mầm non thuộc địa bàn tỉnh Nam Định với chủ đề “Bản thân”.
5


8. Những đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành xúc cảm cho trẻ 4 - 5 tuổi
thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
- Làm rõ thực trạng việc giáo dục xúc cảm cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường
mầm non.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua
hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
9. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung và kiến nghị sư phạm, Tài liệu tham
khảo và Phụ lục, phần Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Một số biện pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ mẫu giáo 4 – 5
tuổi.

7


nhiều trường phái song phân tâm học gần gũi, biện chứng hơn. Các nhà khoa học
mà bắt đầu tiên phong là Freud đã đi sâu vào tiềm thức của con người, phát hiện
ra vai trò lớn của cảm xúc và cao hơn là nguyên nhân dẫn tới cảm xúc ấy. Thuyết
tính dục của Freud bị nghi hoặc một thời gian dài song rồi người ta cũng phải
công nhận nó khi có quá nhiều bằng chứng chứng minh điều đó. Freud và các
nhà khoa học đã nhận thấy rõ vai trò giới tính trong thể hiện cảm xúc. Có khi
cảm xúc còn đến từ tiềm thức xa xôi. Tuy nhiên, các công trình trên rõ ràng có
thiên lệch trong việc ưu ái hết cho các hành vi cảm xúc tự nhiên. Với các ông,
tình cảm là cái gốc quan trọng quyết định tất cả mối quan hệ giữa người với
người.
Nghiên cứu mới đây của các nhà tâm lý học thực hành và tâm thần học đã
chứng minh một cách rõ ràng hiệu quả của liệu pháp tâm lý với một mức độ
đáng kể phụ thuộc vào năng lực của người thầy thuốc tâm thần ghi nhận được
những biểu hiện phi ngôn ngữ của các cảm xúc (Ekman, Friesen). Trong tác
phẩm của hai tác giả này đã nêu lên yêu cầu dạy các bác sĩ tâm thần “đọc” những
biểu hiện xúc cảm. Còn tác giả Singer đã đối chiếu các xúc động phân hóa với sự
tưởng tượng và với trò chơi tưởng tượng, ông đề xướng một phương pháp rất lý
thú để nghiên cứu sự biểu hiện xúc cảm của trẻ em trước tuổi học, ông và các
cộng sự đã xây dựng phương pháp đo thiên hướng về trò chơi, nội dung và
những xúc cảm khác nhau liên quan đến trò chơi tự phát và tưởng tượng, họ đã
xem xét những tưởng tượng và trò chơi tưởng tượng trong mối quan hệ với
những xúc cảm như hứng thú, vui mừng, căm giận, khổ đau, khiếp sợ, xấu hổ.
Ngoài ra, còn có nghiên cứu của các nhà tâm lý học xã hội (Ekman,
Mehrabian, Fxline, Argyle) đã nghiên cứu về sự biểu hiện cảm xúc và những
giao lưu phi ngôn ngữ, những giao lưu thường bao gồm cả giao lưu cảm xúc.
8


tâm là việc giáo dục cảm xúc cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ. Đây là ý kiến hoàn
toàn xác đáng, có thể làm căn cứ lí luận cho đề tài.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trước đây hầu như khái niệm xúc cảm, tình cảm chỉ được các nhà tâm lý
học Việt Nam đề cập đến trong các giáo trình tâm lý học đại cương mà việc đi
sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này còn rất hạn chế. Những năm gần đây, người ta
đã quan tâm đến xúc cảm tình cảm, trí tuệ xúc cảm của con người, họ đã nhận
thấy được vị trí quan trọng của xúc cảm đối với cuộc sống và hoạt động của con
người.
Tác giả Phạm Thị Thanh nghiên cứu về xúc cảm trong luận án “Ảnh
hưởng của cảm xúc đến trí nhớ của học sinh trung học cơ sở”, tác giả Dương
Thị Hoàng Yến trong luận án “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học Hà Nội”,
luận văn “Tìm hiểu ảnh hưởng của trạng thái xúc cảm ở sinh viên đến chất
lượng ghi nhớ của họ” của tác giả Vương Thị Kim Oanh cũng đã đề cập đến một
số khái niệm xúc cảm, tình cảm và vai trò của xúc cảm đối với hoạt động của
con người, đặc biệt học sinh. Các tác giả khẳng định cảm xúc cũng là một loại trí
tuệ, nó có ảnh hưởng lớn tới trí nhớ. Càng có cảm xúc sâu về bài học, học sinh
càng nhớ lâu và càng yêu thích bài. Ngày nay, với yêu cầu sáng tạo trong làm
bài, học sinh có cảm xúc tốt có thể điểm số còn cao hơn học sinh giỏi tư duy
logic. Môn Ngữ văn là môn kiểm chứng điều này tốt nhất. Với sinh viên, cảm
xúc đã chuyển thành chỉ số EQ. Hiện giờ nhiều trường còn đào tạo cả chỉ số này
cho sinh viên, bởi theo thống kê số người có chỉ số EQ cao lại thường thành đạt
hơn IQ cao. Bên cạnh đó, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Dung “Bước
đầu tìm hiểu trí tuệ cảm xúc và thử đo đạc loại trí tuệ này của giáo viên tiểu
10


học” cũng đã ít nhiều nói lên bản chất, nguồn gốc và một số loại xúc cảm của
con người. Luận văn đi vào từng loại trí tuệ cảm xúc, chỉ ra cách xác định cảm
xúc của giáo viên. Với những đề xuất “đo lường” mà tác giả đề ra, ta khá bất ngờ

soạn tài liệu tổ chức hoạt động giáo dục tình cảm – xã hội cho trẻ mầm non theo
hướng tích hợp. Trong đó, hướng dẫn giáo viên tổ chức giáo dục tình cảm xã hội
cho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau [9]. Tôi thấy đây là cuốn sách hữu ích
nhất cho quá trình giảng dạy của tôi và cho đề tài luận văn này. Cuốn sách được
viết súc tích song đa dạng về biện pháp. Trong đó, phải kể tới biện pháp giáo dục
trẻ qua việc khám phá môi trường xung quanh. Sách đề cao hoạt động trải
nghiệm của trẻ. Trẻ càng trải nghiệm nhiều, càng nhớ lâu và thông minh. Trải
nghiệm ấy phong phú vô cùng. Đó là hoạt động tham quan dã ngoại; tự mình
trồng, chăm sóc cây; thử các thứ mới lạ hoặc đơn giản là giao tiếp với người lạ,

Tóm lại, các tài liệu trên đều chỉ ra được vai trò của cảm xúc, coi nó là một
loại trí tuệ. Nhiều tài liệu Việt Nam chỉ được cảm xúc của lứa tuổi mẫu giáo và
cách giáo dục, bồi dưỡng cảm xúc ấy. Tuy nhiên, nội dung giáo dục cảm xúc của
trẻ qua khám phá mội trường chưa được đi sâu. Tôi mong với luận văn này, vấn
đề ấy sẽ được làm rõ phần nào.
1.2. Xúc cảm và việc giáo dục xúc cảm cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
1.2.1. Khái niệm “Xúc cảm” và “Giáo dục xúc cảm”
1.2.1.1. Xúc cảm
Xúc cảm là cơ sở hình thành các loại tình cảm của con người. Xúc cảm
của con người từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều
12


cách giải thích khác nhau. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác
nhau về xúc cảm:
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên – 1977) “Xúc cảm” là
rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó.
Từ điển tâm lí (Nguyễn Khắc Viện chủ biên – 1991) “Cảm xúc” là phản
ứng rung chuyển của con người trước một kích thích vật chất hoặc một sự việc
gồm hai mặt:

quan đến nhu cầu. Ở mỗi thời điểm khác nhau, nhu cầu đối với mỗi một sự vật
hiện tượng và ý nghĩa của chúng cũng khác nhau. Hơn nữa, những sự vật khách
quan tác động vào cơ thể mỗi con người, đem lại cho họ sự thỏa mãn hay không
thỏa mãn một hay một số nhu cầu, thì sẽ tạo ra những rung cảm khác nhau ở họ.
Nhóm thứ hai: cho rằng xúc cảm, tình cảm của con người thực chất là
toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới xung quanh.
Tác giả P.M Iacovson định nghĩa: “Xúc cảm tình cảm là những rung động
trong đó biểu thị thái độ của con người đối với người khác, đối với những sự vật
hiện tượng xung quanh, đối với cái mà họ nhận biết và hành động. Và ông cho
rằng toàn bộ xúc cảm tình cảm của con người về thực chất là toàn bộ thái độ của
con người đối với thế giới và trước tiên là đối với những người khác trong cuộc
sống và trong ấn tượng trực tiếp của cá nhân [15]. P.M Iacovson cũng cho rằng:
“Xúc cảm hoặc tình cảm, đó là một hình thái đặc biệt của mối quan hệ giữa con
người với các đối tượng và hiện tượng của hiện thực, được qui định bởi sự phù
hợp hay không phù hợp giữa các đối tượng đó với nhu cầu con người” [15].

14


Rubinstein cũng cho rằng: “Toàn bộ thế giới xúc cảm, tình cảm của con
người, về thực chất là toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới và trước tiên là đối
với người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của cá nhân” [21].
Hiện nay trong tâm lý học, khi nói đến xúc cảm, người ta thường gắn nó
với khái niệm tình cảm. Xúc cảm – tình cảm là những hiện tượng tâm lý có liên
quan mật thiết, không tách rời nhau.
Theo hướng nghiên cứu này, ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Uẩn
trong cuốn Tâm lý học đại cương cũng định nghĩa: tình cảm là những thái độ thể
hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng có liên quan
tới nhu cầu và động cơ của họ [19]. Hay trong một số giáo trình tâm lý học của
Việt Nam đã viết: Xúc cảm là những rung cảm của cá nhân đối với các sự vật

Đến khi biết nói, người lớn dạy trẻ bằng lời, bằng hành vi, hành động biết
chờ đợi, biết kiềm chế bản thân khi đói mà cơm chưa chín, đòi bánh kẹo nhưng
không có sẵn phải đi mua. Từ tình cảm với người thân trong gia đình, trẻ mới
hình thành và phát triển tình cảm với cô giáo, bạn bè. Khi hành động, giao tiếp
ứng xử với mọi người, xúc cảm tình cảm được biểu hiện bằng hệ thống thái độ
định hướng điều chỉnh, điều khiển hành vi cá nhân sao cho phù hợp với chuẩn
mực hành vi văn hóa xã hội đòi hỏi xúc cảm, tình cảm ở đây trở thành một bộ
phận của nhân cách.
Chúng ta thường nói, phẩm chất đạo đức là mặt quan trọng của nhân cách,
lòng nhân ái chính là tình yêu thương con người, là điểm cốt lõi, là nền tảng của
đạo đức. Nếu một đứa trẻ thông minh mà vô cảm thì không khác gì cái máy,
trong thời đại công nghệ thông tin, tri thức, nhiều công cụ kỹ thuật, người máy
16


do con người sáng tạo ra những chức năng trí tuệ nhân tạo. Những công cụ, kỹ
thuật này không có xúc cảm (không biết vui buồn, tức giận, sợ hãi...) như con
người. Do vậy, suy cho đến cùng giáo dục xúc cảm – tình cảm cho trẻ chính là
xây dựng nền tảng của đạo đức, xây dựng tính người, mà đạo đức lại là nền tảng
của nhân cách, đó cũng là xây dựng nhân cách con người.
Vì vậy, giáo dục xúc cảm cho trẻ có vai trò rất quan trọng trong việc giúp
trẻ tránh được những lệch lạc trong các quan hệ với bạn bè và trong các quan hệ
xã hội, mở rộng hơn khi đến tuổi thành niên.
Chúng ta thấy không những phải luôn học tập trau dồi kiến thức, rèn luyện
tư duy mà cần hơn là phải:
- Biết làm chủ cảm xúc của bản thân.
- Có phản ứng hành vi xúc cảm phù hợp với chuẩn mực hành vi văn hóa
xã hội.
- Dễ dàng thích ứng với các quan hệ xã hội, góp phần quan trọng vào việc
hình thành và phát triển khả năng hợp tác giữa con người với con người.

- Giáo dục khả năng đồng cảm với người khác: người ta ít khi thể hiện xúc
cảm của mình bằng lời nói mà thể hiện qua giọng nói, điệu bộ, cử chỉ, vẻ mặt,
ánh mắt, nụ cười. Các thể hiện này là ngôn ngữ của xúc cảm, cũng được hình
thành khi trẻ biết nói. Từ trẻ mẫu giáo trở đi, khả năng động cảm phát triển sẽ
khác nhau về mức độ nhạy cảm đối với các xúc cảm của người khác, sự khác
nhau về cách thức thể hiện thái độ đồng cảm phần lớn do cha mẹ, những người
thân dạy bảo và các mẫu thể hiện khả năng đồng cảm trong các tình huống người
lớn thể hiện với nhau trong gia đình và ngoài xã hội mà trẻ lĩnh hội được.
18


- Giáo dục khả năng hợp tác với mọi người: khả năng này được nảy sinh
từ nhiều xúc cảm, ban đầu từ đồng cảm đến biết chia sẻ, an ủi bạn bè khi bạn ngã
đau, quan tâm đến bạn. Để sống trong xã hội, điều chủ yếu phải biết nhận ra và lí
giải những xúc cảm của người khác đồng thời đáp ứng lại những xúc cảm ấy một
cách phù hợp. Biết xin lỗi khi làm sai cũng như biết tha thứ cho lỗi lầm của
người khác. Những tình huống này được giáo dục ngay từ tuổi mầm non để lớn
lên trẻ biết hòa hợp với những người xung quanh, theo Hatch và Gardner khả
năng hợp tác đó là trí tuệ liên hệ cá nhân mà sau này phát triển thành các năng
lực tổ chức nhóm thương lượng về các giải pháp, thiết lập các liên hệ cá nhân và
năng lực phân tích xã hội.
Những nội dung giáo dục xúc cảm trên là những thái độ căn bản của đạo
đức cá nhân, là nền tảng của nhân cách. Sự hình thành các nội dung này ở trẻ
mầm non diễn ra rất nhẹ nhàng bằng nhiều hình thức từ sự chăm sóc giáo dục
của cha mẹ, các thành viên trong gia đình đến các hoạt động giáo dục ở trường
mầm non như hoạt động vui chơi, trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi học tập,
hoạt động khám phá môi trường xung quanh, lao động tự phục vụ, tham quan,
trải nghiệm, hoạt động ngoài trời... Các tình huống trong trò chơi, trong sinh hoạt
hàng ngày cần được người lớn chủ tâm định hướng giáo dục cho trẻ, trẻ cần nhận
biết và thể hiện các xúc cảm của mình, trẻ được đánh giá, khích lệ động viên,

hiện niềm hạnh phúc và sự khinh bỉ, trán có tầm quan trọng thể hiện sự ngạc
nhiên. Sự phối hợp cả ba phần thể hiện sự giận dữ một cách rõ ràng.
Tomkins và Mc Cater (1964) đã phát hiện mỗi loại cảm xúc có một sự thể
hiện đặc trưng trên khuôn mặt.
20


Loại cảm xúc
Thích thú – kích động

Thể hiện trên khuôn mặt
Lông mày thấp xuống, mắt chăm chú, nhìn và

Khoái trá – vui mừng

lắng nghe
Mỉm cười, môi mở rộng lên trên và ra ngoài,

Ngạc nhiên – giật mình
Buồn – đau đớn

mắt hớn hở (những nếp nhăn tròn)
Lông mày dướn lên, chớp mắt
Khóc, lông mày cong, miệng trễ xuống, thổn

Sợ hãi – kinh khiếp

thức theo nhịp
Mắt mở không chớp, gương mặt xanh xám, tóc


Mức độ ngôn ngữ từ, câu thể hiện sự phức tạp những biểu hiện xúc cảm.
Thông qua giọng điệu, cách phát âm đã thể hiện không chỉ các xúc cảm cơ bản
mà còn thể hiện được một số sắc thái cơ bản của từng loại xúc cảm. Ví dụ: khi
vui vẻ, trẻ có thể nói giọng nói nhẹ nhàng, vui tươi hay khi tức giận trẻ nói rất to,
giọng đanh lại.
Mức độ ngôn ngữ tình huống hoàn cảnh: giọng điệu, cách phát âm, tốc độ
lời nói, thanh điệu cao thấp, giọng nặng nhẹ, ngắn dài thể hiện phù hợp với đối
tượng và hoàn cảnh giao tiếp.
Mức độ ngôn ngữ mạch lạc: sự biểu cảm không những mang yếu tố chủ
quan mà còn mang tính khách quan, chuẩn mực xã hội của phản ứng hành vi xúc
cảm được hình thành. Tùy thuộc vào sự giáo dục của gia đình và môi trường xã
hội, phong tục tập quán, truyền thống của nhóm và cộng đồng xã hội mà tín hiệu
ngôn ngữ đã thực sự trở thành công cụ biểu cảm quan trọng của con người.
Ngoài ra, các nhà sinh lý học còn nghiên cứu tầng sâu của những biểu hiện
xúc cảm. Đó là sự hoạt hóa của trương lực cơ bắp, các tổ chức cơ thể như tim
mạch, hệ nội tiết, hệ thần kinh và não. Chúng thể hiện đồng thời với phản ứng
hành vi trên nét mặt, tay, chân, tư thế và biểu hiện qua giọng điệu, cách phát
âm... của hành vi ngôn ngữ.
Sự phân chia các phương tiện biểu cảm trên mang tính tương đối, bởi lẽ
mỗi phản ứng hành vi xúc cảm thể hiện sự phối hợp đan xen, phức tạp xảy ra

22


nhanh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người, đến nỗi phương pháp
chụp ảnh cũng khó nhận biết một cách chính xác.
1.2.3. Phân loại xúc cảm
Có rất nhiều cách phân loại khác nhau về các loại xúc cảm của con người.
Những căn cứ để xác định xúc cảm nền tảng đó là:
- Cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước ở bên trong.

(6) Sợ: khi trở thành bệnh lý lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu rụng rời, sợ
sệt, rón rén, bải hoải, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ và khi trở thành bệnh lý là
chứng sợ và chứng hoảng hốt.
(7) Ghê tởm: khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét, phát ngấy.
(8) Xấu hổ: ý thức phạm tội, bối rối, phật ý, ăn năn, nhục nhã, hối tiếc.
Trong đề tài nghiên cứu này, dựa trên cơ sở lý luận của các nhà khoa học,
các học thuyết về xúc cảm, chúng tôi giả định cho rằng trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi có
thể nhận biết và thể hiện được hầu hết các loại xúc cảm của con người. Tuy
nhiên có những xúc cảm khó nhận diện và khó mô tả. Hơn nữa, thời gian nghiên
cứu có hạn và không có các phương tiện kỹ thuật nghiên cứu những chức năng
hoạt động của các vùng, miền trên vỏ não, hệ thần kinh tự chủ và giao cảm, các
tổ chức cơ thể tham gia vào quá trình biểu hiện của tất cả các xúc cảm, nên trong
đề tài này chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 5 loại xúc cảm cơ bản mà trẻ dễ
nhận biết và có thể mô tả được hoặc có thể chụp ảnh được thông qua hoạt động
khám phá môi trường xung quanh, đó là: vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi.
Biểu hiện của 5 xúc cảm cơ bản ấy trên trẻ có thể khái quát như sau:

24


Vui: Các cơ mặt dãn nở, mặt mày rạng rỡ, cơ mắt kéo ra, mắt long lanh
hướng về đối tượng giao tiếp, môi miệng kéo dài bật thành tiếng cười. Chân tay
cử động có xu hướng muốn ôm lấy, cầm lấy đối tượng gây ra xúc cảm. Hành vi
ngôn ngữ đầy diễn cảm qua giọng điệu và cách phát âm. Mẹ, mẹ... trong tình
huống cả ngày mới gặp mẹ một lần (trẻ 18 tháng tuổi).
Buồn: Năng lượng cơ thể sụt giảm, không còn tha thiết đến sự việc, chán
nản, mệt mỏi. Sự chuyển hóa năng lượng trong cơ thể chậm lại, dễ bị tổn thương.
Nếu bệnh trầm cảm dễ u sầu buồn bã, ít nói, mặt mày ủ rũ, mi mắt cụp xuống.
Ngạc nhiên: Trước những kích thích mới lạ, hấp dẫn, phản xạ định hướng
hoạt động tích cực. Các quá trình sinh lý thần kinh được kích thích, hoạt hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status