GIÁO dục CẢM XÚC CHO TRẺ mẫu GIÁO 4 – 5 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ môi TRƯỜNG XUNG QUANH - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------  ------

NGÔ THỊ QUỲNH TRANG

GIÁO DỤC CẢM XÚC CHO TRẺ MẪU GIÁO
4 – 5 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội, 2015

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới luôn tồn tại, vận động và phát triển theo quy luật tuần
hoàn không ngừng nghỉ; con người chính là một trong những nhân tố
trong thế giới luôn vận động ấy. Con người tồn tại và phát triển không chỉ
bằng cơ thể mà trong con người còn tồn tại đời sống tinh thần vô cùng
phong phú vì chúng ta sống trong xã hội, có mối quan hệ giữa người với
người đa dạng: đối với người này thì yêu thương, đối với người kia thì
ghét bỏ, đối với người nọ thì giận hờn... Thái độ tình cảm đó bao giờ
cũng được biểu hiện ra bên ngoài bằng những cử chỉ, lời nói khiến người
ngoài có thể nhận ra khi giao tiếp và để lại những rung động tích cực hay
tiêu cực cho cả đôi bên.
Khi trẻ bước vào lứa tuổi mẫu giáo, nhiều cha mẹ than phiền
những vấn đề liên quan đến cảm xúc của trẻ như bướng bỉnh, nhút nhát,

ái, tính người.
Ở trường MN việc GDCX được tiến hành dưới nhiều hình thức
khác nhau và lồng ghép trong tất cả các hoạt động của trẻ như: hoạt động
học tập, hoạt động vui chơi, sinh hoạt hàng ngày. Trong đó hoạt động
KPMTXQ có nhiều cơ hội tốt hơn để GDCX cho trẻ. Trường MN là
trường học quan trọng giúp trẻ hình thành những cảm xúc tích cực. Giáo
dục trẻ phát triển những cảm xúc thông qua hoạt động KPMTXQ ở
trường MN góp phần giáo dục trẻ phát triển toàn diện về tình cảm, thẩm
mỹ, hình thành nhân cách con người.
Hiện nay việc GDCX cho trẻ đã được quan tâm hơn, tuy nhiên số
lượng trẻ/ lớp đông, giáo viên khó khăn hơn trong việc quan tâm chăm
sóc từng trẻ, một số giáo viên chưa biết cách tạo cảm xúc cho trẻ trong
các hoạt động, câu hỏi giáo viên đưa ra thường là câu hỏi đóng. Trẻ ít
được bày tỏ ý kiến, cảm xúc của mình. Hoạt động trong lớp học thường
tĩnh nhiều hơn động…

3


Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giáo dục cảm xúc cho
trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung
quanh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất một số biện pháp
GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ nhằm giúp
trẻ tích lũy cảm xúc và hình thành tình cảm tích cực. Từ đó, làm cơ sở để
xây dựng mối quan hệ tốt đẹp của trẻ với mọi người và MTXQ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi ở trường MN.

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài và sử dụng các
phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa để
làm rõ vấn đề GDCX cho trẻ MG 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động
KPMTXQ.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát các biểu hiện cảm xúc của trẻ trong quá trình hoạt động
và hoạt động GDCX cho trẻ của giáo viên MN để làm rõ mức độ hình
thành cảm xúc của trẻ MG 4 - 5 tuổi, cách thức tổ chức GDCX cho trẻ 4 5 tuổi ở trường MN.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên để tìm hiểu nhận thức, kinh nghiệm, khó
khăn của giáo viên trong việc GDCX tích cực cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua
hoạt động KPMTXQ.
Đàm thoại với trẻ để tìm hiểu nhận thức, đặc điểm, khả năng, nhu
cầu, hứng thú của trẻ trong hoạt động, sinh hoạt, trong quan hệ với bản
thân và mọi người xung quanh.
7.2.3. Phương pháp điều tra
Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để tìm hiểu nhận
thức của giáo viên về nội dung, hình thức, biện pháp và cách thức tổ chức
5


quá trình GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ. Đồng
thời tìm hiểu những hạn chế trong việc thực hiện quá trình giáo dục này ở
trường MN.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Áp dụng các biện pháp đã đề xuất trong việc GDCX cho trẻ 4 - 5
tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và
hiệu quả của các biện pháp đã đề ra tại một số trường MN trên địa bàn
thành phố Nam Định.

ra vai trò khác nhau trong những cảm xúc tích cực và tiêu cực của các
vùng ưu thế và cận ưu thế của các bán cầu não. Đây là những đóng góp
quan trọng để phát triển ngành tâm lí học giáo dục. Các kết luận này giúp
chúng ta hiểu về tâm lí chung của con người và tâm lí riêng của tuổi mẫu
giáo. Ta thấy rằng cảm xúc ảnh hưởng lớn tới sự phát triển não bộ của trẻ
nhỏ, càng nhỏ ảnh hưởng của cảm xúc lại càng quan trọng. Nhưng có hai
nguồn cảm xúc: tích cực và tiêu cực. Nó sẽ gây ra các hành động, tư duy
hoàn toàn khác nhau ở con người.
Các nhà phân tâm học, điển hình là Freud đã xem xét khái niệm
cảm xúc, động cơ của cảm xúc. Ông làm rõ nó qua các thuật ngữ đam mê,
kết hợp tư duy và xúc động. Kế tục ông là Rado, Schachtel. Còn một số
tác giả hiện nay của phân tâm học như Holt, Schaier đã sử dụng những
khái niệm cảm xúc. Đặc biệt là Dahl đã xây dựng lý luận phân tâm như là
một lý luận giải thích các cảm xúc với tư cách là những động cơ nền tảng
của các quan hệ lẫn nhau giữa con người. Rõ ràng, nghiên cứu về thế giới
cảm xúc của con người rất thú vị, nó tạo nên nhiều trường phái song phân
tâm học gần gũi, biện chứng hơn. Các nhà khoa học mà bắt đầu tiên
phong là Freud đã đi sâu vào tiềm thức của con người, phát hiện ra vai trò
7


lớn của cảm xúc và cao hơn là nguyên nhân dẫn tới cảm xúc ấy. Thuyết
tính dục của Freud bị nghi hoặc một thời gian dài song rồi người ta cũng
phải công nhận nó khi có quá nhiều bằng chứng chứng minh điều đó.
Freud và các nhà khoa học đã nhận thấy rõ vai trò giới tính trong thể hiện
cảm xúc. Có khi cảm xúc còn đến từ tiềm thức xa xôi. Tuy nhiên, các
công trình trên rõ ràng có thiên lệch trong việc ưu ái hết cho các hành vi
xúc cảm tự nhiên. Với các ông, tình cảm là cái gốc quan trọng quyết định
tất cả mối quan hệ giữa người với người.
Nghiên cứu mới đây của các nhà tâm lý học thực hành và tâm thần

cùng các tác giả khác đã chia phản ứng hành vi cảm xúc thành 10 cảm
xúc nền tảng, đồng thời ông còn chứng minh vai trò đặc biệt của các tiếp
xúc cảm xúc trong lứa tuổi thơ ấu về mặt phát triển lĩnh vực cảm xúc
cũng như toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ.
Bên cạnh đó, còn có tác giả Iacovson, Rubinstein đã nghiên cứu về
cảm xúc, tình cảm của con người và biện pháp GDCX của học sinh trong
cuốn “Giáo dục và phát triển tình cảm” [23] và “Đời sống tình cảm của
học sinh” [22]. Tác giả Daniel Goleman - nhà tâm lý kiêm nhà báo Mỹ trong cuốn “Trí tuệ cảm xúc – Làm thế nào để biến những cảm xúc của
mình thành trí tuệ”. Trong cuốn sách “Hãy lắng nghe và hiểu con bạn”
[1], tác giả Adele Faber – Elaine Mazlish đã chỉ rõ cảm xúc là gì và sự
cần thiết phải GDCX cho trẻ nhỏ trong nhà trường với những nội dung cụ
thể. Các tác giả đã chỉ rõ cảm xúc có ý nghĩa không kém trí tuệ của con
người, vì vậy giáo dục phải được trau dồi từ tuổi ấu thơ và nó cũng cần
thiết như giáo dục trí tuệ. Các công trình nghiên cứu này đã gần hơn với
việc giáo dục trẻ song chưa đi sâu vào trẻ MN. Tuy vậy, nó có nội dung
đáng quan tâm là việc GDCX cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trước đây hầu như khái niệm cảm xúc, tình cảm chỉ được các nhà
tâm lý học Việt Nam đề cập đến trong các giáo trình tâm lý học đại
cương mà việc đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này còn rất hạn chế.
Những năm gần đây, người ta đã quan tâm đến cảm xúc tình cảm, trí tuệ
9


cảm xúc của con người, họ đã nhận thấy được vị trí quan trọng của cảm
xúc đối với cuộc sống và hoạt động của con người.
Tác giả Phạm Thị Thanh nghiên cứu về cảm xúc trong luận án
“Ảnh hưởng của cảm xúc đến trí nhớ của học sinh trung học cơ sở”, tác
giả Dương Thị Hoàng Yến trong luận án “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên
tiểu học Hà Nội”, luận văn “Tìm hiểu ảnh hưởng của trạng thái cảm xúc

mầm non” [28] và “Tâm lý học trẻ em – tập 2” [29] cũng đã chỉ ra vai trò
của cảm xúc, tình cảm, các biểu hiện cảm xúc, tình cảm của trẻ mẫu giáo.
Đặc biệt, tác giả cũng bước đầu chỉ ra rằng trong hoạt động vui chơi, trẻ
bộc lộ tình cảm chân thực nhất. Hoạt động vui chơi là một hình thức
KPMTXQ của trẻ, tuy vậy còn nhiều hình thức khác nữa: làm việc, giao
tiếp,…
Gần đây nhất, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục (Trung
tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục mầm non)
đã biên soạn tài liệu tổ chức hoạt động giáo dục tình cảm – xã hội cho trẻ
mầm non theo hướng tích hợp. Trong đó, hướng dẫn giáo viên tổ chức
giáo dục tình cảm xã hội cho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau. Tôi thấy
đây là cuốn sách hữu ích nhất cho quá trình giảng dạy của tôi và cho đề
tài luận văn này. Cuốn sách được viết súc tích song đa dạng về biện pháp.
Trong đó, phải kể tới biện pháp giáo dục trẻ qua việc KPMTXQ. Sách đề
cao hoạt động trải nghiệm của trẻ. Trẻ càng trải nghiệm nhiều, càng nhớ
lâu và thông minh. Trải nghiệm ấy phong phú vô cùng. Đó là hoạt động
tham quan dã ngoại; tự mình trồng, chăm sóc cây; thử các thứ mới lạ
hoặc đơn giản là giao tiếp với người lạ,…
Tóm lại, các tài liệu trên đều chỉ ra được vai trò của cảm xúc, coi nó
là một loại trí tuệ. Nhiều tài liệu Việt Nam chỉ được cảm xúc của lứa tuổi
mẫu giáo và cách giáo dục, bồi dưỡng cảm xúc ấy. Tuy nhiên, nội dung
GDCX của trẻ qua khám phá môi trường chưa được đi sâu. Tôi mong với
luận văn này, vấn đề ấy sẽ được làm rõ phần nào.
1.2. Cảm xúc và việc giáo dục cảm xúc cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
1.2.1. Khái niệm “Cảm xúc” và “Giáo dục cảm xúc”
11


1.2.1.1. Khái niệm “Cảm xúc”
Cảm xúc là cơ sở hình thành các loại tình cảm của con người. Cảm

định bởi sự phù hợp hay không phù hợp giữa các đối tượng và hiện tượng
đối với nhu cầu của con người [12].
Rubinstein cho rằng: “Cảm xúc là một khía cạnh đặc biệt của sự
trải nghiệm những hành vi cũng như của sự chế biến thông tin và đặc biệt
là liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu” [33].
Ximonov định nghĩa: “Cảm xúc như là sự tác động qua lại giữa
nhu cầu và khả năng đạt được mục tiêu”.
Như vậy các quan điểm trên đều cho rằng cảm xúc của con người
có liên quan đến nhu cầu. Ở mỗi thời điểm khác nhau, nhu cầu đối với
mỗi một sự vật hiện tượng và ý nghĩa của chúng cũng khác nhau. Hơn
nữa, những sự vật khách quan tác động vào cơ thể mỗi con người, đem lại
cho họ sự thỏa mãn hay không thỏa mãn một hay một số nhu cầu, thì sẽ
tạo ra những rung cảm khác nhau ở họ.
Quan niệm thứ hai: cho rằng cảm xúc, tình cảm của con người
thực chất là toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới xung quanh.
Tác giả P.M Iacovson định nghĩa: “Cảm xúc tình cảm là những
rung động trong đó biểu thị thái độ của con người đối với người khác, đối
với những sự vật hiện tượng xung quanh, đối với cái mà họ nhận biết và
hành động. Và ông cho rằng toàn bộ cảm xúc tình cảm của con người về
thực chất là toàn bộ thái độ của con người đối với thế giới và trước tiên là
đối với những người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của
cá nhân [22]. P.M Iacovson cũng cho rằng: “Cảm xúc hoặc tình cảm, đó
là một hình thái đặc biệt của mối quan hệ giữa con người với các đối
tượng và hiện tượng của hiện thực, được qui định bởi sự phù hợp hay
không phù hợp giữa các đối tượng đó với nhu cầu con người” [22].
Rubinstein cũng cho rằng: “Toàn bộ thế giới cảm xúc, tình cảm của
con người, về thực chất là toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới và trước
tiên là đối với người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của
cá nhân” [33].
13

sau:
14


Cảm xúc là những rung động biểu thị thái độ của cá nhân đối với
thế giới khách quan và đối với bản thân, có liên quan đến nhu cầu và
động cơ của họ, đồng thời nó mang tính chủ quan, độc đáo của mỗi
người.
1.2.1.2. Khái niệm “Giáo dục cảm xúc”
a) Khái niệm “Giáo dục”
Trong giáo trình “Giáo dục học” của hai tác giả Hà Thế Ngữ và
Đặng Vũ Hoạt, khái niệm “Giáo dục” được định nghĩa theo hai cách,
nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là một quá trình toàn vẹn hình thành
nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua
các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo
dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài
người. [18,20]
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của quá trình giáo dục
theo nghĩa rộng – là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ tình
cảm, thái độ, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi và thói
quen cư xử đúng đắn trong xã hội [18,22].
Chức năng của quá trình giáo dục chỉ được thực hiện trên cơ sở
vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi, vừa lĩnh hội hệ thống
kiến thức và các giá trị, vừa thí nghiệm những kinh nghiệm tri thức của
bản thân.
b) Khái niệm “Giáo dục cảm xúc”
Trên cơ sở phân tích hai khái niệm “Giáo dục” và “Cảm xúc”,
chúng tôi xác định khái niệm “GDCX” như sau:
GDCX là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà

(1972), Izard (1971), Tomkin (1962) đã chia phản ứng hành vi cảm xúc
thành 11 loại cảm xúc nền tảng, đó là: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạc
nhiên, đau khổ, đau xót, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi.

16


Tác giả Adele Faber lại cho rằng có 8 loại cảm xúc: giận dữ, buồn,
sợ, vui, yêu, ngạc nhiên, kinh tởm, hổ thẹn và mỗi loại cảm xúc có những
sắc thái khác nhau về mức độ và về những khía cạnh đặc thù.
Ở phương Đông, các nhà triết học lại phân chia thành 7 loại cảm
xúc cơ bản của con người: vui mừng, tức giận, buồn rầu, sợ hãi, yêu
thương, căm ghét, ham muốn (thất tình) [6].
Tác giả Daniel Goleman thì chia thành 8 loại cảm xúc mà chúng ta
thường quan sát thấy trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người
đó là:
(1) Yêu: ưng ý, tình bạn, tin cậy, dễ ưa, cảm tình, tận tụy, sùng
kính, hâm mộ, si mê, say đắm.
(2) Khoái: sung sướng, vui vẻ, nhẹ nhõm, bằng lòng, rất hạnh phúc,
khoái trá, hoan hỉ, tự hào, khoái cảm, nhục dục, rung lên (vì vui), mê ly,
hài lòng, sảng khoái, ngông, ngây ngất.
(3) Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc.
(4) Giận: cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, nổi giận, bực tức, gay gắt,
hung hăng, bất mãn, cáu kỉnh, thù địch, tột cùng là thù hằn và bạo lực
bệnh lý.
(5) Buồn: buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, cô đơn, ủ rũ, thất vọng
và trầm cảm sâu.
(6) Sợ: khi trở thành bệnh lý lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu rụng
rời, sợ sệt, rón rén, bải hoải, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ và khi trở
thành bệnh lý là chứng sợ và chứng hoảng hốt.

hướng hoạt động tích cực. Các quá trình sinh lý thần kinh được kích
thích, hoạt hóa hoạt động tim mạch, nội tiết. Mắt mở to, há mồm, nhăn
trán, lông mày dướn cao, chân tay ngừng cử động, mắt nhìn chằm chằm
vào đối tượng kích thích, tập trung chú ý với cường độ mạnh, dễ dàng có
hành động thích hợp, hành vi ngôn ngữ thường hét lên “A!” hoặc im lặng
theo dõi đối tượng kích thích, xúc cảm thường xảy ra thời gian ngắn.
Tức giận: Máu dồn lên mặt, mắt long lanh rực sáng, môi bặm lại,
mím chặt như gắng kiềm chế, dồn sức mạnh vào động tác tay, chân, đập
18


phá. Lượng các chất nội tiết tăng đặc biệt là ađrênalin, la hét, kêu toáng
lên hoặc bập miệng lại không nói, tay chân cử động, bàn tay nắm chặt
xông vào đánh bạn, đẩy bạn ngã...
Sợ hãi: Mắt mở to, mồm như mếu, cơ mặt nhăn nhúm, máu dồn về
các cơ bắp điều khiển các động tác chạy trốn, mặt tái đi. Chú ý, tập trung
cao sẵn sàng hành động chạy và đi vội vã, giọng nói run rẩy và lo sợ, đổ
mồ hôi, toát mồ hôi...
Theo xu hướng hiện nay, dựa vào ảnh hưởng của cảm xúc đối với
hoạt động của con người, dựa vào tính chất và tác dụng của cảm xúc đối
với đời sống, hoạt động, các nhà tâm lý học, giáo dục học đã chia cảm
xúc thành hai loại: cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực để dễ dàng định
hướng giáo dục.
1.2.2.2. Phân biệt cảm xúc tích cực và tiêu cực
a) Cảm xúc tích cực
Về hiện tượng bên ngoài, cảm xúc tích cực có những đặc điểm bẩm
sinh, những đặc điểm này có khuynh hướng tăng cường cảm giác an toàn,
duy trì và kích thích con người hướng tới nó. Chúng tác động lẫn nhau,
cũng như sự tìm hiểu các tình huống và các mối quan hệ, liên hệ giữa cá
nhân trở nên dễ dàng. Cảm xúc tích cực làm tăng nghị lực, lòng tự tin, sự

nhặn, lịch thiệp mà ngược lại sẽ tỏ ra một thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, hời
hợt, thô bạo, khắt khe, khó tính...
Từ đó ta thấy rằng cảm xúc có vai trò rất quan trọng đối với đời
sống và sinh hoạt của cá nhân mỗi con người, nó góp phần vào việc hình
thành, phát triển nhân cách con người khi trưởng thành.
1.2.3. Phương tiện thể hiện cảm xúc
Sự biểu đạt cảm xúc được biểu hiện rất phức tạp, tinh tế, vậy làm
thế nào để nhận diện các loại cảm xúc của con người. Có các phương tiện
thể hiện cảm xúc sau:
1.2.3.1. Phương tiện phi ngôn ngữ
Cảm xúc là hiện tượng tâm lý được biểu hiện qua phản ứng hành vi
của con người. Phản ứng hành vi cảm xúc được thể hiện ở nhiều góc độ
20


rất khác nhau và hết sức tinh tế, khó nhận biết nếu không có vốn sống
kinh nghiệm trong giao tiếp, hợp tác, không có những hiểu biết về chúng.
Những thông tin, tín hiệu trên nét mặt truyền cảm mạnh tới đối tượng
giao tiếp. Nó mang tính xã hội, theo nghiên cứu của Wolf thì tuần thứ ba,
trẻ đã bắt đầu đáp lại cái nhìn chăm chú đối với người nhìn nó.
Nhiều nghiên cứu của Stifter và Fox (1986), của Ngô Công Hoàn
(2004) và Lê Thị Luận (2007) đã cho thấy trẻ em lứa tuổi MN đã có thể
nhận diện được các cảm xúc vui, buồn, tức giận trên khuôn mặt, gương
mặt biểu cảm ở những người xung quanh gần gũi như cô giáo, cha me.
Gương mặt biểu cảm phần nào giúp chúng ta nhận diện thuận lợi và chính
xác các nội dung tâm lý. Hai nhà tâm lý học Boucher và E.Kman (1975)
đã cắt khuôn mặt người của một bức ảnh ra thành ba phần: phần từ chân
mày lên trán, phần mắt, phần miệng. Các hình ảnh này được đưa ra cho
mọi người dự đoán xem các loại cảm xúc nào được thể hiện (ngạc nhiên,
giận dữ, sợ hãi, kinh tởm, buồn bã và hạnh phúc). Các nhà nghiên cứu các



Xấu hổ - bẽ mặt
Khinh rẻ - ghê tởm
Giận dữ - thịnh nộ

tóc dựng đứng...
Mắt nhìn xuống, đầu thẳng, có thể hơi cúi.
Cưới nhạo, môi trên dướn lên
Cau mày, nghiến răng, mắt nhíu lại, khuôn
mặt đỏ bừng

Phản ứng hành vi qua vận động của đầu, cổ thường mang tính khái
quát hơn, ví dụ: đồng ý thì gật đầu, không đồng ý thì lắc đầu.
Phản ứng qua vận động của tay, toàn thân, chân và các tư thế cũng
tham gia vào quá trình biểu cảm thông tin, tín hiệu cho đối tượng giao
tiếp nhận biết thái độ của cá nhân tại thời điểm tiếp xúc.
1.2.3.2. Phương tiện ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ khá phức tạp biểu lộ không chỉ các loại cảm xúc
cơ bản của con người mà nó còn phản ánh các sắc thái của từng loại cảm
xúc.
Lúc đầu khi mới sinh, trẻ truyền tín hiệu cho người thân là các âm
thanh như khóc, hét lên để thông tin cho họ về trạng thái sinh lý của mình
là dễ chịu hay khó chịu. Dần dần khi trẻ đã lớn hơn (từ 1 đến 2 tuổi) thì
ngôn ngữ được hình thành, trẻ nói được một số âm, từ, câu đơn giản. Khi
trẻ bước sang tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ đã phát triển mạnh mẽ. Lúc
này, giọng điệu âm thanh ngôn ngữ của trẻ đã ở mức độ to – nhỏ khác
nhau, đồng thời ngữ điệu âm thanh ngôn ngữ cũng có cường độ cao –
thấp rõ ràng. Trẻ sử dụng chúng để thông tin, truyền tín hiệu các trạng
thái cảm xúc cơ bản của mình như sợ hãi, tức giận, vui mừng, ngạc nhiên,

phản ứng mà ông gọi tên cảm xúc âm điệu là những dấu hiệu đầu tiên của
sự phát triển tâm lý, là bước phát triển trung gian giữa trình độ sinh lý,
những phản ứng có tính phản xạ và trình độ tâm lý cho phép trẻ thích ứng
dần với thế giới bên ngoài, từ đó đứa trẻ nhận được sự an ủi, chăm sóc,
làm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của nó.
Độ tuổi MG 4 – 5 tuổi thì đời sống cảm xúc, tình cảm của trẻ có
bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú lại vừa sâu sắc hơn so với lứa
tuổi khác, mà nổi bật lên trên đó là tính đồng cảm và tính dễ cảm xúc.
23


Đặc điểm nổi bật là:
a) Cảm xúc của trẻ không ổn định, dễ dao động, mang tính chất
tình huống, hoàn cảnh. Mặc dù những cảm xúc cơ bản của trẻ 4 - 5 tuổi
đã hình thành và đang dần đi đến ổn định, nhưng thường dễ dao động, dễ
thay đổi, trẻ đang khóc lại cười ngay hoặc đang thích cái này lại chuyển
sang thích cái khác vì cảm xúc của trẻ bị quá trình thần kinh hưng phấn
chi phối, dễ bị kích động cùng với vốn sống kinh nghiệm của trẻ còn hạn
chế. Hơn nữa, trẻ xuất hiện nhu cầu mà có thể được thỏa mãn hoặc chưa
được thỏa mãn. Cảm xúc của trẻ 4 - 5 tuổi thường gắn với tình huống,
hoàn cảnh cụ thể. Khi gặp những tình huống, hoàn cảnh khác nhau thì trẻ
sẽ có những biểu hiện cảm xúc khác nhau. Những rung cảm do hoàn cảnh
gây ra chiếm một vai trò quan trọng trong phạm vi cảm xúc của trẻ, do ấn
tượng cụ thể, thường là ngẫu nhiên gắn liền với sự xuất hiện bất ngờ của
người, sự vật nào đó gây ra. Trẻ có phản ứng cảm xúc đối với những gì
mới lạ mà ở mức độ nào đó làm cho nó phải sửng sốt thích thú hoặc chán
ghét, sợ hãi hoặc vui mừng.
b) Sự biệt hóa
Cảm xúc của trẻ ở giai đoạn này đã thể hiện sự biệt hóa rõ ràng
hơn lứa tuổi trước. Nó được phân biệt, phân định bằng những biểu hiện ra

giận dỗi, buồn phiền, hổ thẹn, ghen tị, xấu hổ...
Cảm xúc, tình cảm của trẻ không chỉ biểu lộ đối với con người mà
còn cả với động vật, cỏ cây, đồ chơi, đồ vật và các hiện tượng trong thiên
nhiên. Trẻ thường nhìn sự vật bằng con mắt “nhân cách hóa”, gán cho
chúng những sắc thái cảm xúc của con người, trẻ xót thương cho những
cành cây bị gẫy, tức giận vì một cơn mưa đã ngăn cản cuộc đi chơi của
nó.
Như vậy, có thể khẳng định rằng trẻ 4 – 5 tuổi đã thể hiện tất cả các
sắc thái cảm xúc của con người, trẻ nắm được hình thức thể hiện sắc thái
cảm xúc tình cảm một cách tế nhị bằng ánh mắt, nụ cười, nét mặt, điệu
bộ, cử chỉ, ngữ điệu của giọng nói... Vì thế, những lời khen ngợi, động

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status