I.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục mầm non là nấc thang khởi đầu cho hệ thống quốc dân, trong đó
những thói quen vệ sinh và hành vi tạo nên nhân cách con người của trẻ, là con
đường giúp trẻ lớn lên và phát triển toàn diện. Trong những năm vừa qua, bậc học
mầm non được sự quan tâm và đầu tư của nhà nước, hệ thống giáo dục mầm non
theo chương chương trình đổi mới được thực hiện phủ khắp từ thành thị đến thôn
quê vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa. Bên cạnh những biện pháp giúp cho trẻ phát
triển toàn diện, lĩnh hội nội dung chương trình thông qua các môn học thì vấn đề
làm tôi quan tâm nhất là “Rèn cho trẻ thói quen vệ sinh và hành vi văn minh”.
Công tác rèn cho trẻ thói quen vệ sinh cá nhân là việc làm thiết thực nhằm giúp trẻ
có nề nếp, thói quen vệ sinh, phòng tránh bệnh tật, tăng cường sức khỏe, hình thành
kỹ năng sống cơ bản đầu tiên, góp phần tạo nguồn nhân lực có chất lượng trong
tương lai. Bên cạnh đó, phát triển cho trẻ các lĩnh vực thẫm mỹ, nhận thức, ngôn
ngữ, thể chất, tình cảm xã hội, thì vấn quan trọng cần được quan tâm thường xuyên
là làm sao cho trẻ phát triển hướng đến hành vi văn minh của nhân loại, vấn đề hình
thành thói quen vệ sinh của mỗi cá thể trong cộng đồng. Vì trẻ em là nguồn nhân
lực của đất nước, là người kế tục của cha anh, là người gánh vác nhiệm vụ bảo vệ
và phát triển đất nước nên ngay từ nền móng ban đầu, trẻ phải được hưởng nền giáo
dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt.
Đơn vị nơi tôi đang công tác là vùng đặc thù dân tộc thiểu số người đồng bào
êđê chiếm 94,1%, đa số phụ huynh của các cháu làm nghề nông và ở trong vùng
kinh tế khó khăn, ít tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài và còn mang đậm tính địa
phương, phong tục tập quán nên rất ít cháu nhỏ được bố mẹ để ý đến vấn đề rèn cho
trẻ thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ.
Đây chính là lí do thúc đẩy tôi chọn để tài để tìm ra “ Một số biện pháp rèn cho
trẻ 4-5 tuổi thói quen vệ sinh và hành vi văn minh tại trường Mầm non Bình MinhBuôn Tuôr A- Xã Dray Sap- Huyện Krông Ana- Tỉnh Đăklăk” giúp cho trẻ có sự
mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp của cuộc sống .
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
* Mục tiêu của đề tài.
1
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
2
- Từ lúc lọt lòng đến 6 tuổi sự phát triển của trẻ chưa phải lĩnh hội tri thức bằng
con đường truyền thụ theo phương pháp nhà trường, mà trẻ tiếp nhận văn hóa theo
con đường cảm nhận qua sự chắt lọc ngấm dần tự nhiên từ chất người trong cuộc
sống hằng ngày. Những gì mà trẻ tiếp nhận là tình yêu thương giữa con người với
con người thông qua cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của trẻ theo truyền thống gia
đình.
- Gia đình là môi trường văn hóa đầu tiên. Người mẹ đóng vai trò trung tâm và
quan trọng nhất. Bởi vậy trong môi trường mầm non cần tổ chức sao cho gần giống
với môi trường gia đình, ở đây cô là mẹ, các cháu là con. Nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề và nhiệm vụ của một giáo viên mầm non trong thực trạng của trẻ
hiện nay nên tôi đã chọn đề tài này để trình bày thực tế để tìm biện pháp thực hiện
và giáo dục cho trẻ.
- Đới với trẻ mầm non, việc giáo dục ý thức vệ sinh cá nhân nhằm giúp cho trẻ
khỏe mạnh, có thói quen hành vi văn minh và phòng chống bệnh tật. Việc làm này
cần có sự kiên trì, tỉ mỉ của giáo viên, sự phối hợp rèn luyện thói quen của trẻ, của
gia đình, nhà trường, sự đầu tư trang thiết bị chăm sóc vệ sinh và các điều kiện
thuận tiện cho hoạt động vệ sinh của trẻ hàng ngày.
- Tuy nhiên, để giáo dục cho trẻ các kỹ năng và thao tác vệ sinh cá nhân, giúp
trẻ nhớ hết các thao tác rửa tay, rửa mặt, chải răng… không phải là việc đơn giản.
Công việc này mất tương đối thời gian cho mỗi ngày. Nếu như không khéo léo có
thể sẽ làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác. Đây là một hoạt động rất quan trọng
trong việc giữ gìn sức khỏe, phong tránh bệnh tật cho trẻ. Do đó, cần nhắc nhở và
giáo dục trẻ thực hiện thường xuyên và đều đặn.
- Thói quen hành vi văn minh lịch sự là nền tảng đạo đức của mỗi con người, là
hành vi văn hóa. Ngay từ nhỏ trẻ phải được uống nắn từ cử chỉ lời nói ,hành động
của trẻ để định hướng cho trẻ.
- Bản thân yêu nghề, nhiệt tình trong công tác, trình độ đạt chuẩn và đang theo
học trình độ chuyên môn trên chuẩn để thuận lợi và năng cao chất lượng giảng dạy.
- Có khả năng định hướng cho trẻ tham gia vào các hoạt động rèn cho trẻ thói
quen vệ sinh hành vi văn minh phù hợp với lứa tuổi trẻ.
* Hạn chế:
+ 94,1% trẻ trong lớp là con em người đồng bào dân tộc thiểu số, đến lớp chưa
thường xuyên
+ Đa số phụ huynh làm nghề nông nên chưa quan tâm đến việc đưa trẻ đến
trường thường xuyên.
+ Gia đình còn mang đậm tính phong tục tập quán của cộng đồng, vùng miền,
nên công tác hình thành cho trẻ thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cũng gặp
không ít khó khăn.
+ Một số phụ huynh lo làm ăn kinh tế nên chưa thực sự quan tâm đến việc phối
hợp cùng nhà trường, cùng cô giáo để phối hợp giáo dục trẻ.
+ Lối giáo dục sai phương pháp của phụ huynh: dùng bạo lực, áp đặt, cứng
nhắc…làm cho trẻ thụ động, không làm chủ bản thân.
4
- Giáo viên vì không phải người bản địa nên không hiểu được hết tâm tư tình
cảm nguyện vọng của trẻ, do trẻ còn giao tiếp bằng ngôn ngữ địa phương nhiều.
* Khảo Sát thực trạng ban đầu 34 trẻ trong lớp
Nội dung khảo sát
Trước khi thực hiện
+ Số trẻ có hành vi ứng sử văn minh (
biết chào hỏi, cảm ơn, biết xin lỗi khi làm điều
sai, biết giúp đỡ bạn bè, thực hiện nghiêm túc
với cô, một số trẻ còn cô lập với bạn với các trò chơi trong lớp.
- Chưa nhận được sự đồng tình giúp đở, hợp tác từ phía phụ huynh.
- Chính những tập tục, thói quen của sinh hoạt gia đình làm ảnh hưởng đến quá
trình thực hiện hình thành thói quen vệ sinh và hành vi văn minh của trẻ.
+ Nguyên nhân khách quan:
5
- 94,1% học sinh là con em người đồng bào dân tộc thiểu số, có đến 20% các
em mới đến trường, 60% trẻ nói tiếng mẹ đẻ, phát âm chưa chuẩn tiếng việt 40%,
ngôn ngữ là khoảng cách khó khăn nhất trong giáo tiếp giữa cô với trẻ, có một số
vấn đề cô truyền đạt nhưng trẻ không hiểu hết ý nên chưa thục hiện đúng yêu cầu.
- Phụ huynh học sinh là cộng sự đắc lực nhất trong con đường giáo cho trẻ
nhưng đa số phụ huynh là lao động nghèo nên chưa quan tâm đến việc phối hợp
cùng nhà trường chăm sóc giáo dục trẻ.
- Còn mang đậm tính tự do hoang dã của cộng đồng nên chưa có khái niệm
hình thành thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ.
3. Giải pháp và biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Thông qua các giải pháp, biện pháp để “Rèn thói quen vệ sinh- hành vi văn
minh cho trẻ” góp phần hình thành cho trẻ một nhân cách tốt có những hành vi
đúng, từ đó trẻ sẽ trở thành một công dân tốt của xã hội, biết tránh nhiệm, quyền lợi
và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam. Là tiền đề để trẻ tự khẳng định chính
bản thân mình trong cuộc sống.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
Biện pháp rèn thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ, để trẻ tích cực
hoạt động và nổ lực với những tác động của cô giáo đến trẻ. Để đạt được kết quả
cao nhất chúng ta cần phối hợp sử dụng các giải pháp, biện pháp sau:
* Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch và tạo môi trường để giáo dục thói quen
vệ sinh - hành vi văn minh cho trẻ.
nơi quy định thì cô gọi riêng từng cháu lại và hướng dẫn cho cháu đi vệ sinh đúng
nơi quy định. Vì thế, cô giáo cần cho trẻ đi vệ sinh theo nhóm hoặc tổ để đảm bảo
trẻ đã đi đúng nơi quy định.
+ Trước khi đến giờ ăn, cô sẽ tập trung trẻ lại, cho trẻ xếp hàng và lần lượt cho
trẻ rửa tay dưới vòi nước sạch theo đúng 6 bước rửa tay trước khi vào phòng ăn, khi
trẻ rửa tay cô vừa hướng dẫn vừa giải thích cho trẻ nguyên nhân và tác hại khi
không giữ sạch cơ thể cũng như chân tay khi vào ăn cơm.
7
+ Trong giờ ăn tập cho trẻ ăn không được nói chuyện, không vứt đồ ăn xuống
dưới đất, không làm rơi vãi cơm hoặc múc cơm sang cho bạn bên cạnh. trước khi
ăn cơm phải biết mời người lớn cũng như anh chị và bạn bè.
+ Sau khi ăn cơm xong thì giúp cô cất ghế vào đúng nơi quy định cho gọn
gàng.
- Không chỉ lên kế hoạch hướng dẫn cho trẻ mà còn phải thường xuyên cho trẻ
xem tranh ảnh, vì từ góc nhìn của trẻ về những hình ảnh xung quanh, trẻ không chỉ
có thể nhìn vào để học hỏi, mà trẻ còn muốn khám phá giống theo hình ảnh của bức
tranh đó.
+ Ví dụ: Trong lớp cô có treo 1 bức tranh về cách hướng dẫn rủa mặt theo 4
bước, trẻ tò mò thì trẻ sẽ hỏi lại cô, cô sẽ hướng dẫn từng thao tác giống như trong
bức tranh và cho trẻ thực hành.
* Biện pháp 2: Biện pháp cung cấp đầy đủ vật chất trang thiết bị và phương
tiện cần thiết để trẻ được thường xuyên thực hiện được những quy định về vệ
sinh:
- Muốn thực hiện được nội quy vệ sinh đúng quy định thì cần phải có đầy đủ cơ
sở vật chất và phương tiện để trẻ thực hiện.
- Nhà trường cung cấp đầy đủ đồ dùng, dụng cụ cá nhân cho trẻ, yêu cầu đồ
dùng của trẻ đều phải có kí hiệu riêng để trẻ nhận biết và lấy đồ dùng đúng với cá
nhân của mình.
nhưng chưa duy trì bền vững nên lời hướng dẫn của cô phải: rõ ràng, chính xác, dễ
hiểu.
- Đối với những việc có thể làm mẫu được thì cô nên làm mẫu thực tế cho trẻ
quan sát hoặc cô có thể tập trước cho 1 trẻ thành thạo động tác rồi làm mẫu cho các
bạn khác.
+ Ví dụ: Cô cho trẻ đi rửa tay thì cô phải thực hiện thao tác rửa tay theo 6
bước, khi rửa thì vừa làm vừa nói các bước rửa tay và yêu cầu trẻ làm theo.
- Cô nhắc nhở các cháu làm thường xuyên vì muốn hình thành một thói quen
nào đó ngoài việc cho trẻ hiểu được ý nghĩa, có kỹ năng cần phải cho trẻ thực hiện
9
thường xuyên, có như vậy mới ăn sâu vào nếp sống của trẻ và hành động sẽ trở
thành thói quen khi nhu cầu xuất phát từ bên trong của đứa trẻ
+ Ví dụ: Trẻ cảm thấy xấu hổ khi phải mặc quần áo bẩn đến trường.
- Các cháu ở lớp mẫu giáo bán trú có cả một thời gian dài ở lớp, nếu cô sắp xếp
gọn gàng, sạch sẽ mọi đồ vật cảnh trí của lớp làm cho lớp học có không khí vui
tươi, đầm ấm dễ chịu, gần gủi yêu thương. Tất cả những điều này để lại dấu ấn và
ảnh hưởng rất lớn đến trẻ sau này. Dần dần hình thành cho trẻ thói quen xuất phát
từ ý thức bên trong như: trẻ không nỡ đi dép vào lớp khi cô vừ lau xong sàn nhà,
không làm lộn xộn tủ đồ khi cô vừa sắp xếp ngăn nắp. Nếu hằng ngày cô thực hiện
nghiên túc thời gian biểu thì cháu sẽ thực hiện đúng giờ nào việc đó. Những việc
làm tốt được lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ hình thành thói quen tốt.
- Sự gương mẫu của mọi người xung quanh đặc biệt là người mẹ và cô giáo là
2 người ở vị trí trung tâm vì tiếp xúc với trẻ nhiều nhất, với bản chất của trẻ là thích
bắt chước, thích làm người lớn nên trẻ sẽ học theo những cái đúng, đều tôt, Tất
nhiên là cả những hành động không đúng và xấu xa. Nên là những người lớn xung
quanh trẻ đạc biệt là mẹ và cô giáo cần phải tự rèn bản thân và tuân thủ những yêu
cầu vệ sinh của nhà trường, thực hiện triêt để lời nói phải đi đôi với việc làm để
thực sự là tấm gương sáng cho các cháu noi theo
- Biết lấy tay che miệng khi hắt hơi, ho, ngáp, hỉ mũi….
- Cô hướng dẫn cho trẻ biết cách chào hỏi cô khi đến lớp và chào mẹ để mẹ ra
về, hướng dẫn trẻ bỏ dép lên giá dép, móc mủ lên giá, mang dép đúng chân của
mình và biết chào hỏi các thầy cô giáo trong nhà trường.
+ Ví dụ: Khi đón trẻ cô nhắc trẻ chào cô, chào mẹ, khi có khách đến lớp cô mời
lớp đứng dậy chào bất kì cô nào vào lớp.
- Trong giờ ăn: Dạy trẻ rữa tay sạch trước khi ăn, đánh răng sau khi ăn song để
đi ngủ, mời người lớn trước khi ăn, cầm thìa bằng tay phải, ăn phải nhai từ tốn,
không nói chuyện phun cơm mất vệ sinh chung, không ngậm cơm, nhặt cơm rơi bỏ
vào đĩa riêng
11
+ Ví dụ: Khi chia cơm cho trẻ xong cô nói “ Lớp chúng mình cùng mời các cô,
các sơr ăn cơm”. Khi trẻ làm rơi cơm ra ngoài cô đến nhắc nhở và yêu cầu trẻ nhặc
cơm bỏ vào đĩa riêng
- Khi xếp hàng đi vệ sinh thì phải biết tuân thủ quy tắc bạn nào đến trước thì đi
trước bạn nào đến sau thì đi sau không chen lấn nhau.
+ Ví dụ: khi trẻ đi vệ sinh cô đi theo hướng dẫn và nói cho trẻ biết “ bạn nào
đứng đầu thì đi vào nhà vệ sinh trước đến bạn tiếp theo đi từ từ không chen lấn
nhau làm bạn ngã.
- Với bạn bè thì nhường nhịn bạn khi chơi cùng nhau không đánh nhau cãi vả,
bắt nạt bạn nhỏ hơn yếu đuối
+ Ví dụ : khi trẻ tham gia chơi hoạt động góc cô đến góc chơi gợi ý cho trẻ thỏa
thuận chọn vai chơi mà mình thích nếu 2- 3 bạn cùng thích vào vai tài xế thì các
con phải chơi theo thứ tự bạn này chơi xong đến bạn khi không cãi nhau, nếu bạn
nào tranh dành đồ chơi thì cô sẽ không thưởng hoa bé ngoan cuối tuần
- Với thiên nhiên môi trường: Biết yêu quý bảo vệ cảnh đẹp của thiên nhiên,
không hái hoa, ngắt lá, bẻ cành của cây hoa ở trường, chăm nhổ cỏ, tưới hoa
+ Ví dụ: Khi cô cho trẻ cùng tưới hoa với cô vào buổi sáng cô trò chuyện “ đố
+ Ví dụ: Trò chơi con muỗi, con muỗi bay vo ve, muỗi chít cái miệng hay nói
chuyện, chít cái tay hay đánh bạn, chít cái chân hay la cà… khi cho trẻ chơi xong
kết hợp giáo dục về những hành vi không tốt của bản thân hoặc của bạn bè và
hướng trẻ đến những hành vi văn minh lịch sự hơn.
* Biện pháp 6: Biện pháp phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với phụ huynh.
Muốn giáo dục trẻ và hướng trẻ đi đúng theo phương hướng và mục đích của
đề tài đặt ra thì nhà trường và gia đình phải thống nhất yêu cầu giáo dục thói quen
vệ sinh và hành vi văn minh đối với trẻ. Nhà trường và giáo viên phải thông báo,
yêu cầu, biện pháp giáo dục cho phụ huynh biết, yêu cầu sự giúp đỡ và cho biết tình
hình thực hiện ở nhà để cùng phối hợp giáo dục rèn luyện cho trẻ, giáo viên phải
làm tốt công tác tuyên truyền để các bậc phụ huynh nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và
13
tầm quan trọng trong việc giữ vệ sinh cá nhân cũng như rèn cho trẻ những đức tính
tốt, hành vi cư xử cũng như ứng xử thân thiện, nhẹ nhàng, lẽ phép.
+ Ví dụ: Cô trao đổi với phụ huynh về tình hình của cháu Kđôna về việc cháu
không biết đi vệ sinh đúng nơi quy định, cháu đau bụng không biết xin phép cô để
ra ngồi bô đi vệ sinh, cháu còn vệ sinh ra quần, nên cô giáo là người trực tiếp trao
đổi với phụ huynh về cách hướng dẫn cho trẻ khi buồn đi vệ sinh phải xin phép
người lớn và ra bô đi vệ sinh, khi đi vệ sinh xong hướng dẫn cho trẻ cần giáy và lau
chùi sạch sẽ, sau khi lau chùi xong thì trẻ sẽ rửa tay với xà bông ở vòi nước sạch để
giữ vệ sinh cá nhân luôn được sạch sẽ. Cô theo giỏi sự biểu hiện của cháu ở lớp thì
thấy cháu đã thực hiện tốt và trao đổi lại với phụ huynh để tiếp tục phát huy cho
cháu.
c. Mối liên hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Để rèn cho trẻ thói quen vệ sinh và hành vi văn minh thì cần phối hợp nhiều
giải pháp, biện pháp với nhau. Những giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài có
mối quan hệ khăng khít và hỗ trợ cho nhau, có sự lôgic, xâu chuỗi với nhau. Biện
được thìa ăn cơm, tự mặc quần áo,
bỏ rác đúng nơi quy định, biết rữa
tay trước khi ăn và sau khi đi vệ
sinh…)
+ Số trẻ chưa có kỹ năng vệ
sinh
Trước khi
thực hiện
Sau khi thực Tăng/ Giảm
hiện
15/34 trẻ =
44,1%
28/34 trẻ =
82%
Tăng 37,9%
12/34 trẻ =
35,3%
5/34 trẻ =
15%
Giảm 20,3%
18/34 trẻ =
+ Giáo viên ngày càng rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho chính bản thân khi
thực hiện đề tài.
- Chọn được những phương pháp phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với chủ điểm
chủ đề. Nội dung mang tính vừa sức với nhận thức của trẻ mẫu giáo nhỡ người dân
tộc thiểu số. Không nên chọn hoạt động đưa ra yêu cầu quá cao, phương pháp rèn
luyện cho trẻ phải sáng tạo ngày càng phát triển để thu hút trẻ tham gia.
- Cần phải học hỏi, sáng tạo trong các hoạt động dạy. Thường xuyên học hỏi
bạn bè, đồng nghiệp để nâng cao chuyên môn trong giảng dạy.
- Lựa chọn vật liệu để tạo ra một số đồ dùng đồ chơi cho trẻ đẹp mắt, có sáng
tạo, có độ bền phù hợp với hoạt động dạy cho trẻ.
- Cô giáo gần gũi, yêu thương, lắng nghe giải bày của trẻ là phương tiện hữu
hiệu nhất trong đề tài này trên thực tế đã chứng minh được điều đó
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận :
- Bậc giáo dục mầm non là một bậc học đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp
đào tạo là cơ sở hình thành và phát triển con người. Chính vì vậy là một giáo viên
mầm non luôn cần có phẩm chất đạo đức, lối sống, tư tưởng, lập trường vững vàng
luôn luôn “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí minh”. Luôn bồi dưỡng
trao dồi kiến thức để tìm ra những biện pháp,giải pháp rèn cho trẻ có thói quen vệ
sinh và hành vi văn minh. Với tôi trẻ đến trường không những chỉ để học những
kiến thức mà các môn học mang lại bên cạnh đó còn học kỹ năng sống, học cách
làm người tốt cho xã hội, cho chính bản thân mình
- Rèn cho trẻ thói quen vệ sinh và hành vi văn minh là quá trình tổng hợp giáo
dục các hoạt động từ vui chơi giải trí, học tập, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt cá nhân.
Nhằm làm cho trẻ luôn có tự tin mạnh dạn khi tham gia vào các hoạt động sống sau
này của trẻ vì trẻ đã có một nền tảng vững chắc về hình thành nhân cách cho trẻ.
- Việc rèn cho trẻ thói quen vệ sinh – hành vi văn minh đối với trẻ mầm non
vùng dân tộc tiểu số như một cánh của mở ra hướng đến sự văn minh chung của xã
16
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục mầm non – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
2. Giáo trình giáo dục học mâm non (Nguyễn Thị Hòa).
3. Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
4. Một số tài liệu trang internet “Mầm non.com.vn”
5. Một số tài liệu của đồng nghiệp
6. Những sáng kiến chọn lọc nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ.
MỤC LỤC
19
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trang 6
3. Các giải pháp , biện pháp
Trang 7
a. Mục tiêu của giải pháp ,biện pháp
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp , biện pháp
c. Mối quan hệ giữa giải pháp , biện pháp
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề,
phạm vi và hiệu quả ứng dụng.
Trang 17
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
III. 1. Kết luận
Trang 18
III.2. Kiến nghị
Trang 19
20