1. Mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Vui chơi là một trong những nhu cầu đầu tiên của trẻ. Có thể nói vui
chơi là “việc” của trẻ. Trẻ thích chơi. Kết quả của hoạt động này làm cho trẻ
được thoả mãn những nhu cầu vận động, nhu cầu tìm hiểu, khám phá biết bao
điều mới lạ mà trẻ chưa biết từ thế giới xung quanh…Vui chơi là phương thức
học và ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực phát triển của trẻ.
Do đặc điểm của trẻ Mầm non là lứa tuổi đang phát triển mạnh, cả về
thể chất cũng như ý thức học tập. Chính vì vậy mà trẻ luôn tò mò, thích bắt
trước người lớn, trẻ luôn muốn được tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh,
trẻ luôn muốn được hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi, trẻ “Học bằng chơi, chơi mà
học”. Trẻ được học dưới hình thức khác nhau như: Học trong giờ hoạt động
ngoài trời, trong buổi tham quan dạo chơi, trong ngày hội ngày lễ và một trong
những hình thức đổi mới cho trẻ hoạt động đó là cho trẻ hoạt động ở các góc .
Trẻ lĩnh hội các tri thức tiền khoa học trong trường mầm non qua vui
chơi: Thông qua đó trẻ khám phá các hoạt động mà trẻ yêu thích như hát, múa,
kể chuyện, vẽ nặn, đọc thơ và được thể hiện mình qua xã hội trẻ em. Các hoạt
động tổ chức cho trẻ phải đảm bảo được sự phát triển tối đa cho trẻ. Muốn vậy
phải xem xét trẻ như một nhân cách trọn vẹn, có đặc điểm chung của độ tuổi
nhưng cũng có những nét riêng biệt, tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, môi
trường sống của trẻ.
Hình thức hoạt động này tạo cơ hội cho trẻ lựa chọn hoạt động mà trẻ ưa
thích trong phạm vi có thể, trẻ được hoạt động theo trình độ và khả năng của
mình, có điều kiện để thao tác thử nghiệm, tìm tòi và phát triển, từ đó trẻ tiếp thu
tri thức một cách sâu sắc hơn. Hoạt động ở các góc, trẻ được tự do giao tiếp, tự
do kết bạn, tự do chọn trò chơi. Vì vậy, trẻ được sống trong không khí thoải mái
vui vẻ, học được cách hợp tác, chia sẻ cùng nhau làm việc .
Qua hoạt động ở các góc, giáo viên có điều kiện tìm hiểu trình độ, năng
lực của từng trẻ và cơ hội nắm bắt trẻ ở các trình độ khác nhau, theo cá nhân
hoặc nhóm trẻ. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy những năm đàu khi tiếp cận với
hình thức đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục cho trẻ được hoạt động ở các
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2. 1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Một trong những hình thức đổi mới đó là tổ chức cho trẻ hoạt động ở các
góc. Hình thức hoạt động này tạo cơ hội cho trẻ chọn hoạt động mà trẻ ưa thích
trong phạm vi có thể, trẻ được hoạt động theo trình độ và khả năng của mình, có
điều kiện để trẻ thao tác, thử nghiệm tìm tòi và phát hiện.Từ đó trẻ tiếp thu tri
thức một cách sâu sắc hơn, hoạt động ở các góc trẻ được tự do giao tiếp, tự do
kết bạn, tự do chọn vai chơi, góc chơi. Vì vậy trẻ được sống trong không khí
thoải mái vui vẻ, học được cách hợp tác, chia sẻ cùng nhau làm việc.
Qua hoạt động ở các góc, giáo viên có điều kiện tìm hiểu về tâm lý, sở
thích của từng trẻ và cơ hội dạy trẻ theo nhu cầu khác nhau theo cá nhân hoặc
nhóm trẻ.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
* Tình hình nhà trường, nhóm, lớp.
Là điểm trường chính ở trung tâm xã Trung Hạ, nằm ở tuyến đường 217,
là cửa ngõ của huyện Quan sơn. Trường có 5 điểm trường, trong đó có 1 điểm
chính và 4 điểm lẻ với tổng số trẻ là 326 cháu. Phụ huynh rất tin tưởng và yên
tâm khi gửi con.
Nhóm lớp là một điểm khu chính với số trẻ là 17 trẻ, trong đó có 6 trẻ là
nữ và 11 trẻ nam, tất cả các trẻ này đều là dân tộc thái có hộ khẩu sinh sống tại
bản.
* Thực trạng trước khi thực hiện đề tài.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, qua nghiên cứu tìm tòi, tôi đã tìm ra
được những biện pháp tối ưu, để có hướng phát triển cho trẻ trong hoạt động
góc.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu đề tài tôi có một số thuận lợi và khó khăn
sau:
* Thuận lợi:
Qua các đợt đi chuyên đề cấp huyện, bản thân tôi đã tiếp cận được
chương trình, phương pháp mới và tôi được trực tiếp dạy trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi:
%
Chưa
đạt
Tỷ lệ
%
- Mức độ hứng thú, tích cực chủ
động sáng tạo, khả năng giao tiếp
17
14
82%
3
18%
tốt.
- Có hứng thú nhưng chưa tích cực
chủ động sáng tạo, khả năng giao
17
12
70%
5
30%
tiếp còn hạn chế.
- Mức độ hứng thú kém, chưa thể
hiện được tính tích cực, sáng tạo,
17
12
70%
5
Sau khi lựa chọn được các góc, chúng ta cần bố trí các góc chơi động
và chơi tĩnh cách càng xa nhau càng tốt, để tránh ảnh hưởng lẫn nhau. Giữa góc
này với góc kia cần có sự phân định ranh giới. Giữa các góc có lối đi thuận tiện,
bố trí góc để cô có thể bao quát được cả lớp .
Khi đã hình thành được các góc chính từ góc chính, tôi chia ra nhiều
góc nhỏ phù hợp với chủ đề hoạt động của trẻ thêm phong phú và đạt nhiều yêu
cầu giáo dục (ví dụ: Trong chủ đề “Gia đình” góc phân vai chia ra các góc nhỏ :
cửa hàng mua bán, gia đình, bác sỹ - góc học tập được chia thành: lớp học, thư
viện ...)
* Giải pháp 2: Chuẩn bị phương tiện, đồ dùng đồ chơi phục vụ góc hoạt
động:
Tôi đã lựa chon nguyên vật liệu; đồ dùng, đồ chơi tài liệu cho thích
hợp, tận dụng các nguồn nguyện liệu thiên nhiên của địa phương, đặc biệt là
nguồn đóng góp từ phía phụ huynh đồ dùng, đồ chơi đơn giản dễ tìm kiếm
nhưng lại được trẻ yêu thích và đồng thời dùng đồ chơi phải phù hợp với nội
dung các góc hoạt động và được thường xuyên bổ sung thay đổi theo di chuyển.
Đồ dùng đồ chơi, nguyên liệu phải đảm bảo vệ sinh đối với trẻ.
Ví dụ : Tại góc phân vai ở chủ đề :”Thế giới thực vật” ngoài đồ dùng
đồ chơi của nhà trường tôi đã bổ sung sử dụng nguyên vật liệu như : Các loại
rau, củ, quả thật, các loại quả cây khác nhau, các loại hạt… Từ rau, củ, quả thật
trẻ chế biến được các món ăn khác nhau mà trẻ biết .
Hoặc: Tại góc tạo hình, tôi lựa chọn những cái hộp, giấy báo, len, vải,lá
khô, rơm… Đặc biệt là các nguyên vật liệu thiên nhiên từ thiên nhiên .
Từ những nguyên vật liệu đó trẻ lựa chọn những đồ dùng, đồ chơi mà
trẻ được thao tác, khi được thao tác sẽ giúp trẻ phát triển khả năng tạo hình,
đồng thời tạo cho trẻ phát triển khả năng tạo hình, đồng thời tạo cho trẻ hứng thú
hoạt động tích cực.
Hoạt động góc (hoạt động vui chơi) có thể nói là bước đầu cho trẻ được
làm quen, tiếp cận với xã hội bên ngoài nên việc lựa chọn đồ dùng, đồ chơi cho
các hoạt động tại góc rất quan trọng do đó chúng ta nên hạn chế đồ dùng, đồ
Ví dụ: Vai chơi bác thợ cả của góc xây dựng: Cô giáo phải có sự hiểu
biết để gợi ý cho trẻ biết công việc của người thợ cả làm những việc gì? Chỉ đạo
thợ của mình ra sao? Qua đó trẻ sẽ tiếp nhận để tái tạo lại và thể hiện bằng trò
chơi của mình.
* Giải pháp 4: Cách tổ chức hướng dẫn hoạt động của trẻ tại góc:
Phải hiểu rõ tâm sinh lý của từng lứa tuổi, nắm rõ tình hình nhận thức
của trẻ để đề ra mục đích yêu cầu cho phù hợp với từng giai đoạn .
Việc tổ chức hướng dẫn cho trẻ hoạt động ở các góc, tôi đã tiến hành
theo các giai đoạn :
- Giai đoạn đầu: Trẻ chưa có khả năng chủ động hoạt động ở các góc ta
cần giúp trẻ nắm được nguyên tắc hoạt động ở các góc và nhanh chóng thích
nghi với môi trường hoạt động mới. Đầu tiên giới thiệu cho trẻ biết các góc ở
trong lớp, nội dung hoạt động ở từng góc.
Ví dụ:
+ Lớp ta có 5 góc, trong góc phân vai con sẽ đóng vai những người
trong gia đình, mỗi người một công việc (chủ đề gia đình ), người đi làm, người
đi chợ, người bế em… Hoặc ở góc xây dựng các con sẽ làm bác thợ xây, xây
nhà có vườn cây, ao cá …
+ Sau đó tôi quyết định số trẻ trong mỗi góc hoạt động theo nội dung
của từng góc: Trẻ theo ký hiệu đã định sẵn của mình ở góc chơi mà vẽ góc đó .
+ Giúp trẻ nhanh chóng nắm bắt được nguyên tắc hoạt động ở các góc
quy định ở từng góc chơi .
Ví dụ: Cô trao đổi với trẻ : Các con không được vào góc chơi với số
lượng quá đông, không được đem đồ chơi từ góc này sang góc khác, lấy đồ dùng
ra chơi và nhẹ nhàng, mỗi bạn một công việc, không được tranh dành đồ chơi
với bạn, không nói to ảnh hưởng đến các góc khác. Khi kết thúc phải biết cất đồ
chơi vào đúng nơi quy định .
6
+ Đặt câu hỏi để khơi gợi dẫn dắt làm sáng tỏ cũng như giúp trẻ bày tỏ
làm sáng tỏ suy nghĩ và chọn lựa.
Ví dụ: Hôm nay gia đình bác tổ chức sinh nhật cho búp bê, mọi người
sẽ làm gì? Cuốn album này các bác sẽ trang trí như thế nào cho đẹp? Vì sao em
thích vào thư viện?...
+ Cô có thể miêu tả việc trẻ làm cho trẻ nghe:
Ví dụ: Hôm nay tôi thấy bác có nhiều hàng thế ? Để tôi xem có bao
nhiêu loại nào? Bức ảnh gia đình bác rất đẹp, ảnh của bố và mẹ dán ở trên, còn
của con thì dán ở dưới.
+ Cần mở rộng và làm phong phú các hoạt động của trẻ như: Bổ sung
đồ dùng đồ chơi cho các hoạt động .
* Giải pháp 6: Phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ khi chơi (ngôn
ngữ vai chơi).
- Trong quá trình chơi, trẻ cũng đã thể hiện được tính tích cực của ngôn
ngữ vai chơi. Nhưng thường đa số trẻ rất thụ động trong việc thể hiện ngôn ngữ
7
vai chơi, hạn chế việc giao tiếp giữa bạn chơi này với bạn chơi khác … Vì vậy
cô giáo phải là người khơi gợi, chủ động nhập vai cùng trẻ.
Ví dụ: Ở góc phân vai nhóm chơi “Bác sỹ” cô có thể nhập vai là bệnh
nhân đến xin khám bệnh. Trẻ làm bác sỹ sẽ phải trao đổi với bệnh nhân kiểm tra
sức khoẻ, hỏi bệnh nhân đau chỗ nào ?
Hay trong quá trình chơi, một vài trẻ nói năng thô tục, cục cằn, cộc lôc
với nhau, cô phải đến bên nhẹ nhàng uốn nắn.
Ví dụ: Bác sỹ ơi bệnh nhân đang bị ốm đấy, bác phải động viên bệnh
nhân đi chứ sao bác sỹ lại gắt gỏng thế, bác phải hỏi bệnh nhân: “Thế bác đau ở
chỗ nào để tôi khám lại xem sao?”.
Để có sự liên hoàn giữa vai nọ với vai kia trong nhóm chơi, trẻ phải thể
hiện dược tính tích cực của ngôn ngữ giao tiếp.
8
- Khi trò chơi của trẻ trở nên đơn điệu, lặp lai, có chiều hướng bị phá
vỡ.
- Khi trẻ thiếu hụt các kỹ năng chơi: Mở rộng nội dung chơi, kỹ năng sử
dụng vật dung thay thế, kỹ năng thực hiện hành động chơi, kỹ năng đóng vai …
- Khi trẻ yêu cầu.
- Khi xảy ra xung đột, vi phạm các luật lệ đã quy định trong lớp, làm
bạn đau.
- Khi trẻ chơi các trò chơi thiếu tính giáo dục.
- Khi giáo viên thấy trẻ bị cô lập, tẩy chay.
Tuỳ theo từng độ tuổi, trình độ phát triển hoạt động vui chơi và từng
tình huống xảy ra khi trẻ chơi, giáo viên có thể vận dụng các cách hướng dẫn
sau.
+ Chơi cạnh trẻ:
Ví dụ: Quan sát thấy 1 trẻ trong góc học tập, cầm 1 cuốn sách lật đi lật
lại, cô đến cạnh trẻ nói “ cô cung rất thích đọc truyện. Đây cô thích đọc truyện
này”. Cô cầm sách đúng chiều, giở lần lượt từng trang, đọc từ trái sang phải, từ
trên xuống dưới và chỉ vào từng chữ… Và làm mẫu các hành vi đọc cho trẻ
xem.
+ Chơi cùng trẻ:
Ví dụ: Sau minh họa cách hướng dẫn trẻ chơi thông qua biện pháp
“Chơi cùng trẻ”.
Quan sát 2 trẻ chơi trong góc chơi đóng vai, giáo viên thấy trẻ giả vờ
làm bánh từ bột nặn, hành động của trẻ đơn điệu và lặp đi lặp lại. Cô đến, tham
gia vào trò chơi của trẻ bằng cách đóng vai người mua hàng.
+ Dạy trẻ chơi:
Ví dụ: dạy trẻ chơi trò “Bán hàng”.
hạn chế.
Mức độ hứng thú kém, chưa thể hiện
được tính tích cực, sáng tạo, khả năng
giao tiếp kém.
17
16
94%
1
0.6%
17
15
88%
2
12%
17
15
88%
Khuyến khích trẻ hoạt động cùng nhau tạo thành sản phẩm hoạt động chung của
cả nhóm, sử dụng sản phẩm này để trang trí lớp. Điều này có ý nghĩa rất lơn đối
với trẻ và có tác dụng tuyên truyền hiệu quả đối với phụ huynh học sinh.
Cô phải tạo ra và duy trì hứng thú cho trẻ trong hoạt động, tạo ra được
sự thoải mái, vui vẻ dễ chịu cho trẻ.
Đầu tư thực sự cho một giáo án tổ chức hoạt động ở các góc cho trẻ.
Phải thường xuyên kiểm tra đánh giá một cách khách quan và sát với
tình hình của lớp, từ đó đề ra các biện pháp khắc phục tồn taị kịp thời.
10
3. Kết luận, kiến nghị:
- Kết luận:
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ, tôi rút ra từ quá trình tổ chức
hoạt động ở các góc. Nó chỉ thực sự có tác động mạnh mẽ và trở thành phương
tiện giáo dục khi có sự đầu tư tổ chức của cô. Đây cũng chính là mục đích của
tôi khi nghiên cứu đề tài này, mong rằng các giải pháp mà tôi đã áp dụng sẽ
được các bạn đồng nghiệp biết đến và cùng tham khảo.
Trong khuôn khổ thời gian và khả năng cá nhân còn nhiều hạn chế, quá
trình viết không tránh khỏi những lúng túng và thiếu sót. Rất mong hội đồng
khoa học các cấp đọc và đóng góp thêm để cho đề tài được hoàn chỉnh hơn.
- Kiến nghị:
+ Đối với nhà trường.
- Tổ chức nhiều giờ dạy mẫu, để rút kinh nghiệm
- Mua sắm các trang thiết bị, dụng cụ hoạt động góc.
+ Đối với phòng giáo dục.
- Cung cấp những tài liệu
- Tổ chức nhiều đợt tập huấn về chuyên môn.
- Cung cấp các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động góc.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ………………..( Trang 4)
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ……………………………( Trang 9)
3. Kết luận, kiến nghị
- Kết luận: ………………………………………………………… (Trang 11)
- Kiến nghị ………………………………………………………….(Trang 11)
12