skkn đề xuất một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả nội dung nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh khối 9 trường THCS trung xuân - Pdf 49

MỤC LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

Nội dung
Mục lục
I: Mở đầu
1.Lí do chọn đề tài
2.Mục đích nghiên cứu
3.Phương pháp nghiên cứu
4.Tổ chức nghiên cứu
II: Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
1.Cơ sở lí luận
2.Thực trạng
3.Các bài tập nhảy cao
4.Những kết quả đạt được
III : Kết luận và kiến nghị
1.Kết luận

độ tri thức và sức khỏe để đáp ứng cho thực tiễn phát triển. Từ đó mới có thể
đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Sức khỏe được xem như một bộ phận cấu thành của nền Văn hoá xã hội. Đó là
một mặt quan trọng của chất lượng đời sống, là nguồn tài sản quý báu của mỗi
quốc gia, là sản phẩm phản ánh một cách khách quan thành tựu của nhiều lĩnh
vực khoa học, trong đó có sự đóng góp quan trọng của ngành TDTT nói chung
và GDTC nói riêng.
Giáo dục thể chất trong trường học là một mặt giáo dục quan trọng không
thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục
tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước, để
cho mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ có điều kiện “Phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Đáp
ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà trong đó yếu tố
sức khoẻ là quan trọng nhất, gần đây ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban
hành “Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020”.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu phải. “Thực
hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện thể dục thể thao
(TDTT) trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên”. Công tác
TDTT cần được coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học, tổ
chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân tham gia rèn luyện hàng ngày.
Căn cứ vào mục đích, tác dụng, nội dung cụ thể thì Đảng ta đã xác định
bộ môn Điền kinh có một vị trí quan trọng trong thể thao trường học bởi vì Điền
kinh là một trong những môn cơ bản của TDTT, là môn dễ học dễ vận dụng
được tất cả các đối tượng học sinh tham gia tập luyện, nó là bộ phận chủ yếu cấu
thành tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Điền kinh có vai trò quan trọng trong việc
giáo dục phát triển các tố chất vận động như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự
khéo léo.
Xuất phát từ mục đích trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

liệu và đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng các bài tập mà chúng tôi đã lựa
chọn. Bao gồm các công thức toán học thống kê sau:
n

- Công thức tính trung bình cộng:
Trong đó:

X 

x

i

i 1

n
X là giá trị trung bình cộng.
xi là giá trị thành tích của từng học sinh
n là số lượng cá thể
n

- Công thức tính phương sai:
- Công thức tính độ lệch chuẩn:

- Công thức tính hệ số biến sai :

2
x

 x



Dựa vào bảng giá trị T quan sát để tìm trong bảng T ngưỡng xác suất P
ứng với độ tự do?
+ Nếu T tìm ra > TBảng thì sự khác biệt có ý nghĩa ở ngưỡng xác suất P

1.1.2. Về mặt giải phẫu sinh lý
Lứa tuổi lớp 9 là lứa tuổi đầu của thanh niên, là thời kỳ đạt được sự trưởng
thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ
thể của người lớn. Có nghĩa là lứa tuổi này cơ thể các em đang phát triển mạnh
khả năng hoạt động của các cơ quan và bộ phận cơ thể được nâng cao cụ thể là:
* Hệ vận động
- Hệ xương: Ở lứa tuổi này phát triển một cách đột ngột về chiều dài,
chiều dày đàn tính xương giãn. Quá trình cốt hóa xương ở các bộ phận chưa
hoàn tất. Các tổ chức sụn được thay thế bằng mô xương nên cùng với sự phát
triển chiều dài của xương cột sống. Vì vậy, mà trong quá trình giảng dạy cần
tránh cho học sinh tập luyện với dụng cụ có trọng lượng quá nặng và các hoạt
động gây chấn động quá mạnh.
- Hệ cơ: Ở lứa tuổi này cơ của các em phát triển với tốc độ nhanh để đi đến
hoàn thiện, nhưng phát triển không đồng đều và chậm hơn chi dưới. Do vậy, khi
cơ hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi. Vì vậy, khi tập luyện giáo viên giảng dạy
cần chú ý phát triển cơ bắp cho các em.
* Hệ thần kinh:
Ở lứa tuổi này hệ thống thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện hoạt động
phân tích trên vỏ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn khả năng nhận, hiểu
cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt vận động đơn lẻ như trước (Chạy,
nhảy, bật, bay và chạm đất khi nhảy ném tại chỗ hoặc có đà) mà chủ yếu từng
bước hoàn thiện ghép những phần đã học trước thành các liên hợp động tác
tương đối hoàn chỉnh, ở các điều kiện khác nhau phù hợp với từng đặc điểm của

5


từng học sinh. Vì vậy khi giảng dạy cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện, vận
dụng các hình thức trò chơi, thi đấu để hoàn thành tốt những bài tập đã đề ra.
* Hệ hô hấp:

yếu tố V0 và  là hai yếu tố quyết định đến độ cao quỹ đạo bay của tổng trọng
tâm.
Trong thực tế nhảy cao, do thành tích là mức xà mà người nhảy vượt qua
được, nên ngoài tốc độ bay ban đàu, góc bay thì độ cao của trọng tâm cơ thể
trước khi bay và kỹ thuật qua xà hợp lý của người nhảy cũng là những nhân tố
có ảnh hưởng tới thành tích của lần nhảy.
1.3. Kỹ thuật hảy cao “Kiểu bước qua”
Là một hoạt động không có chu kỳ bao gồm nhiều động tác liên kết với
nhau một cách chặt chẽ và phức tạp. Từ chạy lấy đà, giậm nhảy, bay trên không
và kết thúc là rơi xuống đất.
Kỹ thuật nhảy cao “Kiểu bước qua” gồm có 4 giai đoạn:
- Giai đoạn chạy đà.
- Giai đoạn giậm nhảy.

6


- Giai đoạn trên không.
- Giai đoạn tiếp đất.
1.3.1. Giai đoạn chạy đà:
Chạy đà nhằm tạo ra tốc độ giúp cho giậm nhảy thuận lợi và hiệu quả cao.
Đối với học sinh THCS, cự ly chạy đà dài khoảng 5 đến 9 bước đà, mỗi bước đà
tương đương độ dài 5 đến 7 bàn chân hoặc 2 bước đi thường. Góc độ chạy đà
chếch với xà khoảng 25 – 400. Nếu giậm nhảy bằng chân trái thì đứng phía bên
phải xà và ngược lại theo chiều nhìn vào xà.
Kỹ thuật chạy đà gồm có: Tư thế chuẩn bị trước khi chạy và kỹ thuật các
bước chạy đà.
- Tư thế chuẩn bị trước khi chạy đà: Có nhiều cách đứng chuẩn bị trước khi
chạy đà, dưới đây giới thiệu cách phổ biến nhất với học sinh THCS đó là:
Đứng chân lăng phía trước, chạm đất bằng nửa bàn chân, mũi chân sát vạch


7


– lên cao hướng khuỷu tay sang hai bên và dứng đột ngột ở độ cao ngang vai để
tạo một lực nâng cơ thể lên cao. Động tác giậm nhảy tuy rất mạnh và nhanh,
nhưng phải phối hợp hết sức chính xác, ăn nhịp giữa chạy đà với giậm nhảy góc
độ hợp lý mới đạt thành tích cao.
Giậm nhảy là giai đoạn quan trọng nhất trong các giai đoạn kỹ thuật nhảy cao.
1.3.3. Giai đoạn trên không:
Giai đoạn trên không bắt đầu khi chân giậm nhảy dời khỏi mặt đất, người
đang bay lên cao, chân đá lăng duỗi phía trước, chân giậm duỗi chếch xuống
dưới phía sau. Khi bay gần đến điểm cao nhất, thì gập thân, tay cùng bên với
chân duỗi về trước phối hợp với chân lăng theo một vòng cung qua xà. Cùng lúc
với chân lăng qua xà, nhanh chóng co chân giậm nhảy, sau đó đá mạnh lên cao –
ra trước, tiếp theo hơi xoay người lại phía xà hất mạnh chân giậm nhảy và mông
cùng bên đi theo một vòng cung qua xà. Hai tay phối hợp tự nhiên nhưng hướng
đi cao hơn tầm xà để không đập tay vào xà.
1.3.4. Giai đoạn tiếp đất:
Sau khi qua xà, chân lăng chủ động tiếp đất trước bằng nửa bàn chân hay
cả bàn chân, sau đó đến chân giậm nhảy tiếp đất, cả hai chân cần chùng gối để
giảm chấn động. Khi nhảy ở các mức xà cao, có thể tiếp đất bằng hai chân cùng
một lúc.
Tóm lại: Từ những đặc điểm về tâm - sinh lý, nguyên lý kỹ thuật cũng như
các yếu tố quyết định đến thành tích nhảy cao nêu trên là cơ sở ban đầu để xác
định hướng tác động, lựa chọn áp dụng các bài tập bổ trợ có khối lượng, cường
độ phù hợp với các đặc điểm của người tập nhằm nâng cao thể lực và thành tích
học tập của học sinh.
2. Thực trạng
Điền kinh bao gồm nhiều môn, trong đó nhảy cao là môn được tập luyện và

Như vậy từ thực trạng trên ta nhận thấy công tác giảng dạy môn nhảy cao
“Kiểu bước qua” cũng như việc tập luyện của học sinh rất thụ động, rập khuôn,
máy móc chưa phát huy tính sáng tạo, nâng cao thể lực và thành tích. Do đó việc
nghiên cứu, áp dụng các bài tập bổ trợ để nâng cao thành tích nhảy cao “Kiểu
bước qua” là công việc rất cần thiết nhằm làm phong phú thêm phương tiện giáo
dục thể chất, qua đó phát hiện bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu TDTT
nói chung và môn nhảy cao nói riêng để tham gia thi học sinh giỏi cấp huyện và
góp phần bồi dưỡng mầm non TDTT cho địa phương và đất nước.
3. Các bài tập nhảy cao
Qua quá trình nghiên cứu về đặc điểm tâm – sinh lý, cấu trúc giải phẩu của
học sinh, nguyên lý kỹ thuật, cơ sở sinh lý cũng như các yếu tố quyết định đến
thành tích môn nhảy cao và qua quan sát quá trình sư phạm (Dự giờ các thầy, cô
giáo). Với vốn kiến thức của bản thân, từ đó tôi thấy rằng toàn bộ quá trình
giảng dạy nhảy cao phải được xem xét trong một mối quan hệ chặt chẽ với trình
độ tập luyện thể lực chuyên môn. Giảng dạy kỹ thuật phải được tiến hành sau
khi đã có một số chuẩn bị kỹ thuật cho người tập. Trong một buổi tập nhảy cao,
chúng ta cần sắp xếp nội dung bài tập một cách hợp lý, khoa học giữa bài tập kỹ
thuật và bài tập phát triển thể lực chuyên môn. Từ đó tôi đã tìm ra các bài tập bổ
trợ phù hợp với đặc điểm tâm lý và điều kiện thực tế để nâng cao trình độ thể
lực và thành tích của học sinh.
Các bài tập bổ trợ bao gồm: Bài tập bổ trợ thể lực và bài tập bổ trợ kỹ thuật.
3.1. Các bài tập bổ trợ thể lực:
Các bài tập này nhằm tạo ra một trạng thái ổn định, một vận tốc lớn nhất
trong các bài tập khắc phục trọng lượng bản thân (Bật nhảy). Các bài tập thể lực
này là các bài tập có công suất lớn, được thực hiện trong thời gian ngắn. Trong
thực tiễn huấn luyện và trong phạm vi đề tài này chúng tôi sử dụng các bài tập
thể lực sau đây:
- Bật cao liên tục đầu chạm vật chuẩn
- Đứng lên ngồi xuống bằng hai chân, một chân.
- Bật nhảy tại chỗ bằng hai chân.

9 học môn nhảy cao kiểu bước qua kế hoạch học tập cụ thể như sau.
Bảng 1. Kế hoạch thực hiện các bài tập cụ thể như sau
T
Tên bài tập
Định lượng
Phương pháp chỉ dẩn
T
3 tổ, mỗi tổ 45 Chú ý nhịp điệu và thể lực bật nhảy.
Bật cao liên
giây. Thời gian Không có bước đệm
1 tục đầu chạm
nghỉ giữa là 1- 2
vật chuẩn
giây
Đứng
lên 1 – 2 tổ. 10 – 15 Thực hiện đúng kỹ thuật. Ngồi xuống
ngồi xuống lần/tổ/1chân. Thời sát, chân duỗi phía trước, thẳng không
2 bằng
hai gian nghỉ giữa là chạm đất, hai tay không chống đất.
chân,
một 1- 2 giây
chân.
Bật nhảy tại 2 tổ mỗi tổ 15 m. Bật xa bằng hai chân, ưỡn thân tiếp đất
3 chỗ bằng hai Thời gian nghỉ 1-2 bằng hai chân. Chú ý phải liên tục.
chân
phút
2 tổ mỗi tổ 45 giây Nhảy liên tục, lò cò trên một chân rồi
4 Nhảy dây
thời gian nghỉ giữa đổi chân.
là 1-1phút 30giây

tập thông qua điểm kết thúc cuối kỳ. Quá trình đánh giá kết quả chúng tôi sử
dụng phương pháp so sánh song song.
4.1. Kết quả trước thực nghiệm:
Bảng 3.2. Kết quả kiểm tra đánh giá xếp loại thể lực cho học sinh theo quyết định
số 53/2008/QĐ – BGDĐT của học sinh khối 9 - nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm thời điểm trước thực nghiệm (n=26)
Nhóm đối
Nhóm thực Sự khác biệt
chứng
nghiệm
thống kê
TT
Test/ Đối tượng
x
x


t tính
P
Nam
(n = 10)
(n = 10)
1 Lực bóp tay thuận (Kg)
31.15 2.35 32.20 2.36
1.00 > 0.05
2 Nằm ngửa gập bụng (lần/30 s) 14.56 1.28 14.86 1.24
0.53 > 0.05
3 Bật xa tại chỗ (cm)
185.15 13.61 186.09 14.53
0.15 > 0.05

12.98 0.98 12.65 0.89
0.79 > 0.05
6 Chạy tuỳ sức 5 phút (m)
805.7 59.3 808.3 57.8
0.10 > 0.05
11


T
T
1
2
3
4
5
6
1
2
3
4
5
6

Qua bảng 3.2 cho thấy: Thông qua các test kiểm tra tất cả các chỉ số thu
được giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng ở cả nam và nữ không có sự khác
biệt thống kê, thể hiện ttính < tbảng ở ngưỡng xác xuất P > 0,05. Điều này chứng tỏ
rằng, trước thực nghiệm, kết quả kiểm tra đánh giá xếp loại thể lực cho học sinh,
sinh viên theo quyết định số 53/2008/QĐ – BGDĐT của học sinh khối 9 thuộc cả
hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là tương đương nhau.
4.2. Kết quả sau thực nghiệm

0.33
5.81
0.34 2.34 < 0.05
Chạy con thoi 4 x 10m (s)
12.44
0.66
11.12
0.76 4.15 < 0.05
Chạy tuỳ sức 5 phút (m)
885.31
40.3 929.52 42.54 2.39 < 0.05
Nữ
(n = 10)
(n = 10)
t tính
P
Lực bóp tay thuân (Kg)
20.15
2.17
22.37 2.18 2.28 < 0.05
Nằm ngửa gập bụng (lần/30 s)
12.11
1.12
11.05
1.11
2.13 < 0.05
Bật xa tại chỗ (cm)
156.71
2.44 160.31 2.45 3.29 < 0.05
Chạy 30m XPC (s)

1

Lực bóp tay thuận (KG)

Nhóm đối chứng
Trước TN
Sau TN
x
x


31.15 2.35
32.22 2.15

2
3
4
5
6
1
2
3
4
5
6

Nằm ngửa gập bụng (lần/30 s)
Bật xa tại chỗ (cm)
Chạy 30m XPC (s)
Chạy con thoi 4 x 10m (s)


Nữ

15.29 1.38
187.55 12.21
6.16
0.33
12.44 0.66
885.31 40.3
20.15 2.17
12.11 1.12
156.71 2.44
6.83
0.51
12.68 0.87
809.78 41.39

Nhóm thực nghiệm
Trước TN
Sau TN
x
x


32.20 2.36
34.48
2.26

W%


0.34
0.76
42.54
2.18
1.11
2.45
0.66
0.88
41.8

W%
6.84
12.61
7.15
6.01
12.08
4.63
11.74
2.68
2.53
9.12
6.53
5.01

13


Biểu đồ 3.4.

Biểu đồ 3.1. Nhịp tăng trưởng thể lực của nam nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm.

%
HS đạt điểm giỏi: 9-10
2
15.4
5
38.5
HS đạt điểm khá: 7-8
4
30.8
6
46.1
HS đạt điểm TB: 5-6
4
30.8
2
15.4
HS đạt điểm yếu, kém
3
23
0
Qua bảng 3.5 cho thấy kết quả kiểm tra giữa hai nhóm thực nghiệm và đối
chứng có sự khác nhau rõ rệt, điểm nhóm thực nghiệm cao hơn hẳn nhóm đối
chứng, đặc biệt điểm yếu kém ở nhóm thực nghiệm là không có cụ thể.
- Số học sinh đạt điểm giỏi của nhóm đối chứng là 2 học sinh, đạt tỷ lệ
15.4%. Còn số học sinh đạt điểm giỏi của nhóm thực nghiệm là 5 học sinh, đạt
tỷ lệ 38.5%
- Số học sinh đạt điểm khá của nhóm đối chứng là 4 học sinh, đạt tỷ lệ
30.8%. Còn số học sinh đạt điểm khá của nhóm thực nghiệm là 6 học sinh, đạt
tỷ lệ 46.1%.
- Số học sinh đạt điểm TB của nhóm đối chứng là 4 học sinh, đạt tỷ lệ

2. Đề nghị giáo viên Thể dục THCS áp dụng các bài tập trên vào công tác
giảng dạy nội dung nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh.
3. Các nhà lãnh đạo, cần quan tâm hơn nữa đến những sáng kiến kinh
nghiệm để ngày càng tìm ra những phương tiện, phương pháp mới, đáp ứng tốt
nhiệm vụ dạy và học, cũng như công tác huấn luyện cho học sinh thi cấp huyện
và cấp tỉnh.

Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Trung xuân,ngày 20 tháng 04 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

Mai Đức Trọng

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngũ Duy Anh, Vũ Đức Thu (2004), "Một số giải pháp về GDTC góp phần
nâng cao tầm vóc và thể trạng học sinh phổ thông giai đoạn 2004 - 2010”,
Tạp chí Khoa học TDTT (3), tr 23-29.
2. Ngũ Duy Anh, Vũ Đức Thu (2006), "Định hướng chiến lược tăng cường sức
khoẻ học sinh trong nhà trường phổ thông các cấp đến năm 2010", Tuyển
tập Nghiên cứu GDTC, y tế trường học lần thứ IV-2006, Nxb TDTT Hà Nội.
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Chỉ thị số
17 - CT/TWcủa Ban Bí thư về phát triển TDTT đến năm 2010.
4. Ban chấp hành Trung ương Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status