SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SÔ GIẢI PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP BÀI THƠ
“ĐỒNG CHÍ” CỦA CHÍNH HỮU TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN LỚP 9 Ở TRƯỜNG PTDT BT THCS TAM THANH
Người thực hiện: Nguyễn Đình Ân
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường PTDT BT THCS Tam Thanh
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2018
MỤC LỤC
Nội dung
Mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
1
2
2
2
3
3
4
5
5
9
16
18
18
18
19
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, toàn ngành Giáo dục đang tiến hành đổi mới, coi
trọng việc tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp với sự phát triển của học sinh,
học sinh hoạt động học tập một cách chủ động, tích cực. Đồng thời tạo cơ hội cho
giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt
động dạy học một cách linh hoạt, đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện. Trong
tiến trình đổi mới đó, dạy học theo hướng tích hợp đang được đặc biệt chú ý hơn
cả. Với hướng đi ấy, bài toán được đặt ra trong lĩnh vực lí luận và phương pháp
dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp vào
dạy học Ngữ văn trong nhà trường nhằm hình thành và phát triển năng lực cho
học sinh trong việc giảng dạy bộ môn.Vấn đề dạy học theo hướng tích hợp trở
nên bức thiết trong hoạt động giáo dục của người giáo viên. Trường PTDT Bán
“Đồng chí” của Chính Hữu trong chương trình Ngữ văn 9 ở trường PTDT Bán trú
THCS Tam Thanh.”
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài này sẽ góp phần tìm ra một số giải pháp dạy học tích hợp để nâng cao
chất lượng dạy học bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu trong chương trình Ngữ
văn 9 ở trường PTDT bán trú THCS Tam Thanh.
Với viêc nghiên cứu đề tài này, bản thân sẽ có cơ hội học tập, hiểu biết hơn
về dạy học tích hợp.
1.3.Đối tượng nghiên cứu.
Thực hiện nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp dạy học tích hợp bài thơ
“Đồng chí” của Chính Hữu trong chương trình Ngữ văn 9 ở trường PTDT Bán trú
THCS Tam Thanh.” Đối tượng nghiên cứu được xác định đó chính là những kiến
thức lí luận chung, kiến thức cơ bản nhất về dạy học tích hợp trong các nhà trường
THCS. Đề tài nghiên cứu các giải pháp dạy học tích hợp bài thơ “Đồng chí” của
Chính Hữu trong chương trình Ngữ văn 9 ở trường PTDT Bán trú THCS Tam
Thanh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu :
Để nghiên cứu được vấn đề này một cách sâu sắc tôi đã áp dụng:
*Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích bằng cách nghiên cứu các tài
liệu về dạy học tích hợp, tư liệu trên mạng internet, tạp chí GD....
*Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp khảo sát tình hình thực tiễn và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn
giảng dạy hàng năm để tìm ra giải pháp chung.
- Phương pháp thực hành: tổ chức các hoạt động dạy học để rút ra kết luận.
- Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm: dự giờ của các anh, chị, em
đồng nghiệp trong trường, trong huyện để học tập và đúc rút kinh nghiệm.
2
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp
trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức
tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn
học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những quan điểm
GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ
phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại.
Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống. Trước hết phải
thấy rằng cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tập đại thành của tri
thức, kinh nghiệm và phương pháp. Mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao
giờ cũng là những tình huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm
vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh
nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Tích hợp trong nhà trường
3
sẽ giúp HS học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương
pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình
huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại.
Ngày nay nhiều lí thuyết hiện đại về quá trình học tập đã nhấn mạnh rằng
hoạt động của HS trước hết là học cách học. Theo ý nghĩa đó, quan điểm dạy học
tích hợp đòi hỏi GV phải có cách dạy chú trọng phát triển ở HS cách thức lĩnh hội
kiến thức và năng lực, phải dạy cho HS cách thức hành động để hình thành kiến
thức và kĩ năng cho chính mình, phải có cách dạy buộc HS phải tự đọc, tự học để
hình thành thói quen tự đọc, tự học suốt đời, coi đó cũng là một hoạt động đọc
hiểu trong suốt quá trình học tập ở nhà trường. Đây thực chất là biến quá trình
truyền thụ tri thức thành quá trình HS tự ý thức về phương pháp chiếm lĩnh tri
thức, hình thành kĩ năng. Muốn vậy, chẳng những cần khắc phục khuynh hướng
dạy tri thức hàn lâm thuần tuý đã đành, mà còn cần khắc phục khuynh hướng rèn
luyện kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, ít có khả năng sử dụng vào đọc hiểu
văn bản, vào những tình huống có ý nghĩa đối với HS, coi nhẹ kiến thức, nhất là
kết quả điều tra thực tế năm học trước – năm học 2016 - 2017 về chất lượng học
Ngữ văn của các em trong trường:
Chất lượng
Số
Ghi
Tt
Lớp
học
Giỏi
Khá
TB
Yếu/ Kém
chú
sinh SL
% SL % SL %
SL
%
1
9A
25
1
4
5
20
11
44
8
32
2
9B
giản. Vì chương trình học hiện nay dạy theo bài, theo tiết, theo môn hết sức cụ thể.
Trong khi đó, phương pháp dạy học tích hợp là dạy kiến thức theo hướng mở rộng
bao gồm nhiều kiến thức của nhiều phần, thậm chí của nhiều môn và theo một quy
trình chặt chẽ…nhiều vấn đề đặt ra cho người giáo viên trong công tác dạy học
tích hợp. Chính vậy mà bản thân tôi thấy cần tìm ra các giải pháp dạy học tích hợp
một bài học cụ thể - bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu trong chương trình Ngữ
văn 9 ở trường PTDT Bán trú THCS Tam Thanh để làm tiền đề cho các bài khác
qua đó rút ra các kết luận cần thiết.
2.3. Các giải pháp thực hiện giải quyết vấn đề
2.3.1. Giải pháp 1: Biên soạn giáo án tích hợp phù hợp cho việc giảng dạy.
Giáo án tích hợp là khâu đầu tiên, phần quan trọng nhất để dạy học theo
hướng tích hợp. Vì để tổ chức dạy học tích hợp thành công GV phải soạn được
giáo án tích hợp phù hợp với trình độ của người học, với điều kiện thực tiễn của cơ
sở đào tạo, nhưng vẫn đảm bảo thời gian và nội dung theo chương trình đã quy
định.Giáo án tích hợp không phải là một bản đề cương kiến thức để giáo viên lên
lớp truyền thụ áp đặt cho người học, mà là một bản thiết kế các hoạt động, tình
huống nhằm tổ chức cho người học thực hiện trong giờ lên lớp để giải quyết các
nhiệm vụ học tập. Việc xây dựng giáo án tích hợp phải đảm bảo các nội dung và
cấu trúc đặc thù. Việc lựa chọn hoạt động của giáo viên và học sinh đòi hỏi sự
5
sáng tạo linh hoạt để người học thông qua hoạt động mà tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ
năng và thái độ.
Một giáo án tích hợp cũng như một giáo án dạy học thông thường trên lớp
đều có các nội dung, các bước cơ bản, cụ thể các phần của giáo án phải cụ thể như
sau:
Ngày soan……………
Ngày thực hiên:…………
Tiết…
và cô đúc, giàu ý nghĩa biểu tượng.
- Phần tích hợp với kiến thức các môn:
+ Lịch sử: Bài 25 tiết 32 Lịch sử 9 : Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp
(1946 – 1954).
+ Âm nhạc: Bài hát “Đồng chí” chuyển thể từ bài thơ của Chính Hữu của đồng
chí Minh Quốc.
+ Địa lí:
* Bài 31 tiết 36 Địa lí 8: Các mùa khí hậu và thời tiết nước ta.
* Bài 17 tiết 21 Địa lí 6: Lớp vỏ khí.
* Bài 26 tiết 34 Địa lí 6: Đất. Các nhân tố hình thành đất.
6
+ Giáo dục công dân:
* Bài 9 Giáo dục công dân 8: Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa ở cộng
đồng dân cư.
* Bài10 Giáo dục công dân 9: Lí tưởng sống của thanh niên và bảo vệ hòa bình.
* Bài 6 Giáo dục công dân 6: Biết ơn.
* Bài 5 Giáo dục công dân 7: Tình yêu thương con người.
+ Sinh học: Bài 6 Sinh lớp 7: Trùng kiết lị và trùng sốt rét.
+ Mĩ thuật: Vận dụng kiến thức đã học tưởng tượng và vẽ bức tranh những người
đồng chí đứng gác trong đêm, vận dụng kiến thức đã học về Mĩ thuật để vẽ sơ đồ
tư duy.
Kĩ năng:
- Rèn luyện năng lực cảm thụ và phân tích các chi tiết nghệ thuật, các hình ảnh
trong một tác phẩm thơ giàu cảm hứng hiện thực mà không thiếu sức bay bổng.
- Nhận diện được yếu tố biểu cảm, yếu tố tự sự đồng thời biết chia sẻ những vui
buồn, khó khăn trong cuộc sống.
- Rèn luyện khả năng tổng kết, khái quát, năng lực phân tích đánh giá nhận xét để
rút ra vấn đề từ tổng hợp kiến thức các bộ môn liên quan.
Để thiết kê nội dung học tập chúng ta cần xác định những đơn vị kiến thức cụ
thể của từng nội dung cụ thể trong bài học, qua đó thiết kế quá trình tìm hiểu,
khám phá tri thức của các em cho thật sự hợp lí. Ở bài thơ “Đồng chí” của Chính
Hữu khi cho học sinh tìm hiểu về nhà thơ Chính Hữu phần tìm hiểu chung tôi đã
thiết kế phần này theo chuỗi các hoạt động khám phá của các em thành:
Hoạt động chuẩn bị tại nhà của học sinh: Học sinh tìm hiểu về nhà thơ tại nhà
thông qua các kênh thông tin khác nhau.
Hoạt động tìm hiểu trên lớp:
Giáo viên đưa câu hỏi: Bằng hiểu biết và sự chuẩn bị bài của bản thân em hãy
giới thiệu khái quát một số nét về nhà thơ Chính Hữu?
Học sinh: Giới thiệu khái quát một số nét về t/g.
Giáo viên: Yêu cầu các học sinh bổ sung nội dung về tác giả (nếu học sinh trả
lời còn chưa đầy đủ nội dung theo yêu cầu)
Học sinh: Bổ sung nội dung cần thiết.
Giáo viên: Khái quát, chốt lại vấn đề.
Bước 4: Thiết kế các hoạt động dạy học và phương tiện.
Căn cứ đặc điểm của từng nội dung dạy học cụ thể để thiết kế các hoạt động
dạy học của giáo viên và học sinh theo định hướng phát huy sự tham gia tích cực
của học sinh vào quá trình học tập. Mỗi hoạt động của học sinh cần có ít nhất một
hoạt động tương ứng của giáo viên để hướng dẫn, tổ chức. Thiết kế hoạt động dạy
học không phải nêu tên các hoạt động hay tên của phương pháp dạy mà cần mô tả
rõ cách thức triển khai hoạt động của giáo viên và học sinh. Với mỗi hoạt động
cần cụ thể các nội dung, ghi rõ tên hoạt động, mục tiêu của hoạt động, cách thức
tiến hành các hoạt động.
Bên canh đó cũng căn cứ vào nội dung và phương pháp dạy học, giáo viên
lựa chọn các phương tiện phù hợp mục đích tổ chức tốt hoạt động dạy học,
phương tiện sử dụng phải được mô tả trong các hoạt động dạy học.
Các thiết bị cần chuẩn bị và học liệu cho quá trình thực hiện bài dạy:
- Thiết bị, đồ dùng dạy học:
+ Máy tính, máy chiếu, các hình ảnh dự liệu có liên quan.
Tổng kết, đúc rút những ưu điểm, hạn chế mà giáo thực hiện thể hiện qua
đấy tự hoàn thiện bản thân.
Thực hiện giải pháp này, giáo viên đã chuẩn bị tốt hành trang cho bản thân
mình trong bài dạy học tích hợp. Tất cả các nội dung mang tính chất tiền đề cho
bài học đã được hoạch định sẵn. Người giáo viên khi đã thực sự thoải mái về tâm
lí trong quá trình chuẩn bị thì kết quả của bài học sẽ cao là một tất yếu. Giáo án
dạy học tích hợp giúp người giáo viên đi đúng con đường mà mình lựa chọn và
đến được đích, đạt được kết quả đó là mục tiêu đã đưa ra lúc ban đầu.
2.3.2. Giải pháp 2: Tổ chức giảng dạy bài học theo hướng tích hợp.
Tổ chức giờ học trên lớp là tiến trình thực thi bản kế hoạch trong đó phối hợp
hoạt động của giáo viên và học sinh theo một cơ cấu sư phạm hợp lí, khoa
học.Giáo viên giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn, định hướng chứ không phải truyền
thụ áp đặt một chiều. Học sinh được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình tiếp
nhận, đóng vai trò chủ thể cảm thụ, nhận thức thẩm mĩ, trực tiếp tiến hành hoạt
động tiếp cận, khám phá, chiếm lĩnh tri thức.
Tổ chức hoạt động dạy học tích hợp trên lớp, giáo viên phải chú trọng mối
quan hệ giữa học sinh và nội dung dạy học, phải coi đây là mối quan hệ cơ bản,
quan trọng nhất trong giờ học.Muốn vậy, giáo viên phải từ bỏ vai trò, chức năng
truyền thống là truyền đạt kiến thức có sẵn cho học sinh, còn học sinh không thể
duy trì thói quen nghe giảng, ghi chép, học thuộc, rồi làm bài theo lối tái hiện, sao
chép, làm thui chột dần năng lực tư duy sáng tạo, khả năng tự đọc, tự tìm tòi, xử lí
thông tin, tổ chức các kiến thức một cách sáng tạo.Tổ chức chủ đề tích hợp trên
9
lớp là một quá trình lao động nghệ thuật mà trong đó người giáo viên trong vai trò
của một “nghệ sĩ”. Mỗi một hoạt động, phần phải có cách tích hợp sao cho hợp lí
nhất.
Qua trình tổ chức giờ học trên lớp là quá trình giáo viên trợ giúp học sinh
khám phá, phát hiện tri thức thông qua các hoạt động học tập. Các hoạt động học
được sáng tác vào đầu năm 1948 - sau khi quân và dân ta đánh thắng cuộc tấn
công quy mô lớn của thực dân Pháp cuối năm 1947 lên khu căn cứ địa Việt Bắc,
lúc đó Chính Hữu là chính trị viên đại đội thuộc trung đoàn thủ đô, bài thơ là kết
quả của những trải nghiệm thực và những cảm xúc sâu xa, mạnh mẽ của tác giả
với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc. Ông viết bài thơ tại nơi ông phải nằm điều
trị bệnh đầu năm 1948.
10
3. Đọc và giải thích từ khó.
Phần đọc và giải thích tư khó, là bước đi đầu tiên đưa học sinh cảm nhận bài,
sau khi cho các em đọc một số lượt chúng ta nên tích hợp với bộ môn Âm nhạc
đặc biệt là đối với thơ. Vì các bài thơ được trích học trong chương trình đều là
những bài thơ hay, giàu tính nhạc, đã được phổ nhạc. “Đồng chí” của Chính Hữu
được đồng chí Minh Quốc phổ nhạc, mang tên là “Tình đồng chí” được rất nhiều
ca sĩ thể hiện. "Tình đồng chí" là một sự khảng định giá trị của bài thơ "Đồng chí"
về cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Nhạc phẩm đã góp phần làm nên sự bay
bổng, lãng mạn hơn cho hình ảnh anh bộ đội thời kì kháng chiến chống Pháp.
Để tích hợp nội dung này, ta tổ chức các hoạt động:
HS: Đọc văn bản hai lượt
GV: Nhận xét và hướng dẫn học sinh đọc nhịp thơ chậm, diễn tả tình cảm, cảm
xúc được lắng lại,dồn nén, chú ý giọng đọc 3 câu cuối nhịp chậm hơn, lên giọng
để khắc hoạ những hình ảnh vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.
GV: Đọc mẫu.
GV: Giáo viên giới thiệu bài thơ đã được phổ nhạc…
HS: Nghe bài hát “Tình Đồng chí.”
4. Thể thơ và bố cục
II. Phân tích.
Hoạt động phân tích bài thơ, người giáo viên phải dựa vào nội dung, mạch cảm
xúc, đặc điểm nghệ thuật từng phần cụ thể theo bố cục để lựa chọn nội dung tích
thành ngữ chỉ những vùng quê ven biển, nước biển xâm lấn khiến đồng ruộng bị
ngập mặn cùng những vùng đất có độ PH cao – đất phèn chua kết hợp với hình
ảnh “đất cày lên sỏi đá” là vùng quê đất hình thành trên nền gốc là đá tổ ong độ
phì nhiêu thấp từ đó gợi ra cho ta liên tưởng về nguồn gốc xuất thân vô cùng khó
khăn của các anh. Nhà thơ đã mở ra cơ sở đầu tiên là tiên đề cơ bản cho tình
đồng đội đồng chí của các những người chiến sĩ bộ đội họ có chung điều kiện,
cảnh ngộ, hoàn cảnh xuất thân.
* Biểu tượng đẹp về người lính.
GV : Đọc đoạn thơ cuối:
“ Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
GV: Khi cảm nhận về những câu thơ cuối này, có ý kiến nhận xét rất tinh tế rằng
đây là bức tranh đẹp về cuộc đời người lính. Trong bức tranh đó có những biểu
tượng tiêu biểu về người lính và cuộc đời người người lính. em hãy chứng minh?
HS: Thảo luận nhóm tìm câu trả lời.
Các nhóm trình bày kết quả
GV: Tích hợp với kiến thức môn Địa lí về đặc điểm thời tiết khí hậu của nước ta
để học sinh hiểu hơn về hiện tượng sương muối và những khắc nghiệt do hiện
12
tượng này gây ra qua đó thấy được hoàn cảnh chiến đấu của người chiến sĩ là hết
sức khó khăn gian khổ.
Tích hợp với kiến thức Lịch sử: Nếu kiến thức Địa lí giúp học sinh thuận lợi
hơn khi tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế… thì kiến Lịch sử giúp các em tìm
hiểu rõ hơn về hoàn cảnh, thời thế… Ở phần phân tích này, để học sinh hiểu rõ về
các giai đoạn lịch sử gắn liền với bài thơ, hình tượng người lính chúng ta có thể
tích hợp các hoạt động:
GV: Từ việc phân tích đoạn thơ này chúng ta rút ra được điều gì?
HS: trả lời
Tích hợp với kiến thức Âm nhạc: Nói đến Âm nhạc là nói đến môn học mang
nặng tính nghệ thuật, sự rung động của con tim mỗi người. Hoạt động học tập tích
13
hợp với kiến thức Âm nhạc thường ở các nội dung thiên về tình cảm nhiều như
bình giảng, cảm nhận ban đầu, nêu ấn tượng. Câu thơ “Đồng chí” rất đặc biệt,
hoàn toàn phù hợp với sự tích hợp đã nêu ở trên.
GV: Mở đầu phần thứ hai của bài thơ có gì đặc biệt?
HS: Học sinh trả lời.
GV: Em hiểu như thế nào về từ “đồng chí”?
HS: Đồng chí là những người cùng chung lý tưởng cách mạng đấu tranh giải
phóng dân tộc. ( Giáo viên tích hợp với kiến thức phần tiếng việt 6 – nghĩa của từ)
GV: Việc tạo câu thơ “Đồng chí ” có gì đặc biệt? Ý nghĩa của việc tạo nên câu thơ
đặc biệt đó của Chính Hữu là gì?
GV: Tích hợp với kiến thức Âm nhạc thông qua việc bình giảng câu thơ “Đồng
chí”. Từ “Đồng chí” được Chính Hữu đặt riêng thành một câu thơ như một nốt
nhạc đặc biệt. Đó là một “nốt trầm xao xuyến” để lại những âm vang khó quên
trong lòng bao thế hệ yêu thơ. Nốt nhạc ấy có sự ngân nga luyến láy chuyển tiếp
tứ thơ ở phần trên và phần dưới, nó cũng là thanh âm khơi gợi, khảng định, khắc
tạc thứ tình cảm cao cả của những người đồng đội đồng chí gắn bó keo sơn, chia
sẻ ngọt bùi…
Tích hợp với kiến thức GDCD: Mục đích của việc tích hợp này là để giáo dục
học sinh những bài học đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc, tình yêu thương
mọi người,…
* Những biểu hiện của tình đồng chí.
GV: Yêu cầu một học sinh đọc lại phần 2.
HS: Đọc lại phần hai.
GV: Tích hợp với kiến thức môn Sinh học về sốt rét.
Người lính còn biểu hiện tình đồng chí rất sâu nặng thông qua những khia sẻ,
khó khăn của đời lính. Một trong những cái khó khăn nhất mà họ bắt gặp và cùng
chia sẻ để vượt qua trong đời lính của mình là căn bệnh sốt rét rừng. Những ngày
ở trong rừng cùng nhau chiến đấu do điều kiện khó khăn nên bị sốt rét rừng hành
hạ. Cơ thể sốt cao, buồn nôn, rụng hết tóc…Tuy nhiên những khó khăn đó lại là
điều kiện để họ thể hiện tình cảm, sự yêu thương dành cho nhau.
GV: Nhận xét đặc điểm cấu trúc giữa các câu thơ và hình ảnh trong đoạn thơ?
HS: Trả lời
GV: Em hiểu như thế nào về câu thơ:
“ Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”?
HS: Trả lời.
GV: Từ việc phân tích đoạn thơ này chúng ta rút ra được điều gì?
HS: trả lời
III. Tổng kết.
1.Nội dung
2.Nghệ thuật
IV.Luyện tập
Hoạt động 4: Củng cố. ( 5 phút)
Ở hoạt động củng cố bài này, kiến thức tích hợp bao giờ cũng yêu cầu tổng
hợp nên khi thực hiện hoạt động giáo viên cần đặc biệt lưu ý. Giáo viên tích hợp
phần củng cố với kiến thức đời sống xã hội.
GV: Sau khi phân tích xong bài thơ chúng ta thấy được sự gắn bó keo sơn của
người lính, hình tượng người lính trong cuộc kháng chiến chống pháp. Các anh đã
hi sinh bản thân cho nền độc lập của dân tộc. Là học sinh trong thời đại mới này,
các em phải làm gì để thể hiện sự biết ơn của mình?
HS: Trả lời.
Hoạt động 5: Hướng dẫn học bài ở nhà. (1 phút)
Phần hướng dẫn học bài ở nhà có đặc điểm, tương đối tự do và nhiều phương
án tổ chức dạy học. Cũng chính điều đó mà người giáo viên có nhiều cơ hội tích
câu hỏi khó dần… Kiểm tra, đánh giá yêu cầu phải có công cụ phù hợp, ở đây
công cụ chính là bộ câu hỏi được biên soạn một cách khoa học.Giáo viên có thể
kiểm tra đánh giá thông qua hệ thống các bài tập. Đây là điều kiện thuận lợi nhất
để GV tiến hành phương pháp tích hợp sau khi học xong một tiết học hoặc học
xong một bài học, giúp HS nắm chắc kiến thức ấy để tích hợp trong việc rèn luyện
kỹ năng: nghe, đọc, nói, viết .
Quá trình thực hiện kiểm tra đánh giá trong dạy học tích hợp cũng phải được
thực hiện tuần tự. Để thực hiện tốt nhất công tác này phải tiến hành các bước:
Bước 1: Xác định nội dung kiểm tra, đánh giá.
Bước 2: Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá cho bài học.
Bước 3: Xây dựng bộ công cụ kiểm tra, đánh giá.
Bước 4: Thực hiện kiểm tra, đánh giá.
Bước 5: Xử lí kết quả kiểm tra, đánh giá.
Để thực hiện kiểm tra, đánh giá khi dạy bài “Đồng chí”, tôi đã xây dựng bộ
công cụ đánh giá ở bước 3:
Các câu hỏi (Hình thức trắc nghiệm)
16
Câu 1. Bài thơ “Đồng chí ” của Chính Hữu viết về đề tài gì?
A.Tình anh em
B. Tình đồng đội
C.Tình quân dân
C. Tình bạn bè
Câu 2. “Đồng chí” ra đời vào thời kì nào?
A.Trước Cánh mạng tháng tám
B. Trong kháng chiến chống Pháp.
C.Sau đại thắng mũa xuân năm 1975.
D. Trong kháng chiến chống Mĩ.
Các câu hỏi ( Hình thức tự luận)
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
17
Thực hiện kiểm tra đánh giá, người giáo viên phải biết lựa chọn câu hỏi sao
cho thật sự hợp lí. Nếu không làm được điều đó không những không đạt được kết
quả như mong muốn mà ngược lại lại phản tác dụng. Tôi đã thực hiện hệ thống các
câu hỏi tái hiện để củng cố kiến thức, các câu hỏi phát hiện nét độc đáo trong
những câu thơ để khắc sâu, gây ấn tượng, khơi gợi tình cảm,…
Thực hiện giải pháp này cho chúng ta kết quả thực chất việc học tập của các
em. Các em đã chăm chỉ học tập không còn học đối phó như trước kia. Mỗi bài
kiểm tra, mỗi phần kiểm tra đánh giá, mỗi câu hỏi là một cơ hội để học sinh thể
hiện mình. Đấy cũng là nguồn động viên kích thích các em trong học tập nói
chung và học Ngữ văn nói riêng.
2.4. Hiệu quả với hoạt động giáo dục, bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Đề tài đã đạt được kết quả nhất định trong việc nâng cao chất lượng bộ môn
Ngữ văn trong nhà trường PTDT Bán trú THCS Tam Thanh.Từ việc áp dụng đề tài
này đối với các em học sinh ở khối lớp 9 trong nhà trường PTDTBT THCS Tam
Thanh tiết học đã sôi nổi hơn, các em chú ý hơn đến môn học, hăng say và hứng
thú, tích cực tham gia các hoạt động học tập .
Một số giải pháp dạy học tích hợp bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu trong
chương trình Ngữ văn 9 ở trường PTDT Bán trú THCS Tam Thanh là làn gió mới
đối với hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn nói chung và tiết học “Đồng chí” nói
riêng. Thực hiện đề tài này bản thân và các đồng nghiệp trong nhà trường mạnh
dạn hơn với việc áp dung phương pháp dạy học tích cực vào trong tiết dạy. Với
việc thực hiện đề tài năng lực của các em đều phát triển đáng kể trong đó năng lực
4
10.8 12 32.4
21
56.8
0
0
2
9B
36
2
5.6
10
28
24
66.4
0
0
Tổng số
73
6
8.2
22 30.1 45
61.7
0
0
Chất lương thực tế đạt được sau khi thực hiện tiết dạy như trên giúp chúng ta
khảng định tính hiệu quả của sáng kiến. Và cũng qua đó chúng ta thấy được sự ưu
việt của dạy học tích hợp.
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1 Kết luận
đồng chí giáo viên có điều kiện phát huy hết khả năng của mình. .
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn, trình độ năng lực còn hạn chế, đề tài
này chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Vậy tôi rất mong được góp ý của anh chị em
đồng nghiệp, cán bộ phụ trách chuyên môn. Tôi xin chân thành cảm ơn .
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Tam Thanh, ngày 20 tháng 4 năm 2018
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Đình Ân
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy học văn bản ngữ văn trung học cơ sở theo đặc trưng phương thức biểu đạt,
NXB GD, 2006.
2. Bộ giáo dục và Đào tạo, Chương trình THCS môn ngữ văn, NXB GD, Hà Nội,
2002.
3. Một số vấn đề về phương pháp dạy- học Văn trong nhà trường, NXBGD, 2001.
4. Ngữ văn 6, tập 1, NXB GD, Hà Nội, 2001.
5. Ngữ văn 6, tập 2, NXB GD, 2002.
6. Địa lí 6, NXB GD, 2009
7. Lịch sử 6, NXB GD, 2009
8. GDCD 6, NXB GD, 2009