Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN BÀI THƠ
VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN 11 Ở TRƯỜNG THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Mai Lan
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục …………………………
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn…
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
NĂM HỌC 2014 - 2015
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ MAI LAN
2. Ngày tháng năm sinh: 20 - 05- 1976
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 Ở TRƯỜNG THPT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói, môn Ngữ
văn
là một môn học có tác dụng khơi gợi những rung cảm,
cảm xúc
thẩm
mĩ trong lòng người học nhưng nếu giáo viên không có cách
tổ
chức
học tập tốt, môn học này sẽ trở thành một môn học buồn chán, nặng
nề,
làm nguội lạnh
sự nhạy bén trong tư duy, xúc cảm của người học, làm
mai
một những khả năng diễn
đạt và cảm nhận tác phẩm văn chương của học
sinh
. Chính vì thế, việc vận dụng, thực
hiện những phương pháp phù hợp vào
dạy
học, đặc biệt là tác phẩm thơ là một yêu cầu
rất cần thiết đối với môn Ngữ
văn.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 11, phong trào Thơ mới 1932 – 1945 gồm những bài
thơ đặc sắc như Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử, Tràng giang – Huy Cận, Vội vàng – Xuân
Diệu đều là những tác phẩm độc đáo về nội dung và nghệ thuật, có nhiều điểm mới lạ
trong cách cảm nhận về cuộc sống, trong cách biểu hiện về con người. Đặc biệt Vội vàng
Trong “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”- công trình tập thể, các tác giả Mã Giang Lân,
Nguyễn Văn Long đánh giá Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất ở giai đoạn phát triển
mạnh mẽ và rực rỡ của phong trào Thơ mới.
Trong cuốn “Thơ mới những bước thăng trầm” - Lê Đình Kỵ đã thể hiện tâm hồn
nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu và chỉ rõ đặc sắc nghệ thuật của ông.
Luận văn thạc sĩ “Hướng dạy học mới bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu” của
Trương Văn Thắng…
Sau khi tổng hợp và tìm hiểu, phân tích tôi nhận thấy cần thấy có định hướng cụ thể
để người giáo viên có phương pháp giảng dạy thơ trữ tình được viết theo thể thơ tự do
như Vội vàng nói riêng và thể loại thơ tự do nói chung trong chương trình THPT.
Với khuôn khổ của một sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin chia sẻ hướng tiếp cận bài thơ
Vội vàng theo đặc trưng thể loại giúp giáo viên rèn luyện cho HS kĩ năng tìm hiểu một
thể loại của văn học hiện đại: thơ trữ tình được viết theo thể thơ tự do - thể thơ đang
chiếm ưu thế trong dòng văn học Việt Nam hiện đại.
2. Cơ sở thực tiễn
Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu nằm trong chương trình Ngữ văn THPT ở lớp 11,
ban cơ bản, giảng dạy vào tuần 23 - thuộc tiết 75- 76. Qua khảo sát thực tế tiết dạy của
đồng nghiệp tại nơi công tác và một số trường bạn tôi nhận thấy: đây là một bài thơ hay
nhưng để truyền lửa cho HS để các em cảm được cái hay cái đẹp của hồn thơ Xuân Diệu
là điều không dễ nên việc giảng dạy của GV cũng như tiếp nhận bài thơ của HS vẫn còn
nhiều lúng túng nên tồn tại một số mặt cơ bản sau:
- Về phía giáo viên
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
+ Chưa hướng dẫn cách đọc tích cực cho học sinh.
+ Bản thân một số ít giáo viên còn lúng túng bởi vốn kiến thức hạn chế đối với thể loại
thơ trữ tình được viết theo thể thơ tự do.
+ Một số giáo viên còn áp đặt ý kiến chủ quan của mình cho tác phẩm, có giáo viên cho
tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức cho rằng: “Khi nói đến thơ tự do, chúng ta
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
thường muốn nói đến một thể thơ không tuân theo những quy tắc về cách luật như các
thể thơ Đường, thơ lục bát…”.
Theo Mã Giang Lân thì “thơ tự do chủ yếu nói đến cấu trúc, hình dáng của nó, số chữ
của câu không hạn định có thể 1 chữ đến 10 chữ, hoặc nhiều hơn. Số câu trong khổ thơ
cũng không hạn định, có thể là 1câu đến nhiều câu. Và gieo vần rất linh động, rất tự do, có
khi không nhiều, chỉ có nhịp.”
1.2. Một số đặc điểm của thơ tự do
Thơ tự do xuất hiện trong phong trào Thơ mới và nó không chỉ đổi mới nội dung,
phần hồn của thơ, mà còn đổi mới cả hình thức, phần xác của thơ. Vậy nên thơ tự do là
một phần của Thơ mới, nó không chỉ tự do về cảm xúc, mà còn tự do về cả hình thức thơ.
- Về ngôn ngữ: đặc trưng của ngôn ngữ thơ tự do không chỉ ở kho từ vựng mà chủ yếu ở
cách kết hợp từ, ở cấu trúc ngữ pháp mới mẻ tạo nên độ căng trong cảm xúc.
- Về cấu trúc: một bài thơ tự do không khép kín như thơ cổ mà thường là cấu trúc mở.
Hiện tượng đó thể hiện ở việc chia bài thơ thành nhiều khổ thơ, khái niệm câu thơ và
dòng thơ bị phá vỡ. Một câu thơ tự do có khi không đủ ý như câu thơ cách luật, để hiểu
được câu thơ đó ta phải đọc những câu thơ tiếp theo. Đó là kiểu câu thơ vắt dòng.
- Về nhịp điệu: vẻ riêng của thơ tự do là nhịp điệu không những của hình thức bên ngoài,
mà còn là nhịp điệu bên trong. Nhịp điệu đời sống và nhịp điệu cảm xúc trong thơ tự do
có tính hòa điệu giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan.
- Về mạch suy tưởng: nhờ có trí tưởng tượng phong phú, phóng túng, thơ tự do phá vỡ
những quy phạm trong thơ cổ điển để hình thành nên những quy phạm mới, quy phạm
tuân theo mạch cảm xúc, mạch suy tưởng của nhà thơ. Mạch suy tưởng trong thơ tự do
không chỉ khơi dậy những đề tài rộng rãi, cụ thể trong hiện thực mà còn phản ánh hiện
thực, khắc họa chiều sâu suy nghĩ, tư duy của nhà thơ, “cảm nhận những mối tương giao
thầm kín, sự giao hòa, hô ứng giữa sự vật với nhau và giữa con người” (Lê Đình Kị -
Ta muốn (4 lần) thể hiện khát khao mãnh liệt, tưởng như không gì cưỡng lại nổi, đó là
khát khao chiếm lĩnh.
- Trong bài còn có hệ thống các từ mang nghĩa ẩn dụ, so sánh rất mới, lạ. Đó là những từ
chỉ tính chất: tuần tháng mật, xanh rì, phơ phất, ngon, môi gần, mùi tháng năm. Tất cả
đều chỉ sự mơn mởn đầy sức sống của thiên nhiên đang mời gọi con người. Nhà thơ tận
hưởng cuộc sống bằng mọi giác quan, bằng trái tim nồng nhiệt và trẻ trung.
2.2. Về cấu trúc trong bài thơ
Bài thơ Vội vàng là sự đan xen các thể thơ với nhau. Thể thơ 5 chữ, 8 chữ, có câu 3
chữ, có câu đến 10 chữ, tạo ra những tạo ra những nhịp thơ khác nhau trong mỗi đoạn
thơ. Bốn câu thơ đầu 5 chữ thể hiện ước muốn của cái “tôi”, bên cạnh đó là những câu
thơ 8 chữ dàn trải hơn viết về bức tranh thiên nhiên- bữa tiệc của trần gian. Câu thơ 3 chữ
Tôi muốn ôm đứng giữa bài thơ khá đặc biệt. Nó gợi đến cho ta hình ảnh một cái tôi bé
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
nhỏ đang khát khao được ôm trọn trái đất trong vòng tay. Đó là cái tôi tận hưởng của
Xuân Diệu, cái tôi ham sống mãnh liệt.
Trong bài thơ có một số câu thơ đặc biệt như: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một
nửa.”. Câu thơ bị dấu chấm ngắt ngay giữa dòng, gợi cho ta thấy một cái tôi ý thức trong
lòng mình, là sự đan xen của hai cảm giác: sung sướng và vội vàng, tỏa ra sự hụt hẫng.
Hay câu “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa… Câu thơ như một lời thốt lên đầy tiếc
nuối với từ “ôi”, và dấu chấm than ngắt giữa câu thơ. Dấu chấm lửng cuối câu thơ làm ta
có cảm giác như sự nuối tiếc của tác giả cứ trải dài ra mãi.
Trong bài thơ, tác giả có sử dụng kiểu câu thơ định nghĩa mà theo Đặng Anh Đào thì
đây là kiểu câu thơ Xuân Diệu tiếp thu từ thơ ca lãng mạn phương Tây thế kỉ XIX:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Kiểu câu thơ định nghĩa làm cho bài thơ đậm chất triết lý về thời gian, tuổi trẻ và đời
“Vội vàng” tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu, là bài thơ mang đặc điểm của thể
thơ tự do rõ nét. Vì vậy việc dạy –học bài thơ theo đặc điểm của thơ tự do sẽ mang lại
hiệu quả nhất định.
2. Hướng dẫn học sinh tiếp cận, khai thác bài thơ Vội vàng
Để giúp HS cảm nhận được hết những cái hay trong bài thơ, GV cần nhấn mạnh “Vội
vàng” là một bài thơ trữ tình được viết theo thể thơ tự do, đồng thời cung cấp cho HS
những hiểu biết về đặc trưng thi pháp của thơ tự do. Những đơn vị kiến thức này sẽ giúp
các em hiểu kết cấu của bài thơ, ngôn ngữ, nhịp điệu, hình tượng thơ, từ đó các em hình
thành các năng lực, kĩ năng cần thiết để tiếp nhận tác phẩm.
Trên cơ sở những hiểu biết của bản thân và lượng kiến thức GV cung cấp, HS cần
khám phá kết cấu của bài thơ. Khi đã khám phá ra kết cấu đó, HS có thể phân tích được
kết cấu nội tại của bài thơ.
Trước hết, GV giúp HS tìm hiểu những nét chung nhất về tác giả Xuân Diệu. Sau đó,
GV giúp HS tìm hiểu bố cục bài thơ theo mạch cảm xúc
-GV: Theo mạch cảm xúc, em có thể chia bài thơ thành mấy phần?
Trong câu hỏi này, HS có thể đưa ra những ý kiến khác nhau. GV có thể giúp HS thảo
luận và đưa ra định hướng: theo mạch cảm xúc và sự thay đổi trong giọng điệu khi đọc
bài thơ, có thể chia bài thơ thành 3 phần:
+ 13 câu đầu: Tình yêu trần thế tha thiết.
+ 16 câu tiếp: Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.
+ 10 câu còn lại: Khát khao được tận hưởng thanh sắc cuộc đời.
- GV: Em đã phân đoạn bài thơ theo cảm xúc của tác giả, vậy em thấy cảm xúc của tác
giả thay đổi như thế nào trong từng đoạn thơ trên?
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
→ Từ mong muốn níu giữ, đến vui sướng, băn khoăn, lo âu đến thảng thốt và cuối cùng
là ngọn lửa bùng cháy mãnh liệt.
Sau khi học sinh đã tìm được kết cấu nội tại của bài thơ, GV giúp HS chiếm lĩnh bài
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Điệu sống gấp của Xuân Diệu được biểu hiện qua hệ thống động từ mạnh: ôm, riết, say,
thâu, hôn, cắn… kết hợp việc điệp lại từ “ta muốn” làm cho giọng thơ sôi nổi, hào hứng.
GV giúp HS phân tích kĩ các động từ, các từ chỉ cảm giác mạnh, điệp từ trong đoạn thơ
để làm nổi lên nhịp sống của cái “tôi’’ Xuân Diệu trước sự trôi chảy của thời gian và cái
“tôi’’ trong thơ Xuân Diệu là một cái “tôi’’ lớn lao, tầm vóc sánh ngang tầm vũ trụ chứ
không nhỏ bé, an phận như cái “tôi’’ thơ cổ.
Đến đây, GV cần phân tích cho HS thấy sự thay đổi nhịp điệu trong bài thơ theo mạch
cảm xúc của nhà thơ. Nhịp điệu bài thơ sẽ chi phối cách đọc bài thơ. Nếu đọc bài thơ
theo đúng nhịp, HS có thể cảm được cái hay, cái đẹp của bài thơ.
- 4 câu thơ đầu, đọc với giọng nhanh vừa phải, chất giọng khỏe khoắn, nhấn mạnh vào
các từ: muốn, tắt, buộc, đừng(chữ đừng kéo dài hơn một chút tạo cảm giác như muốn níu
giữ), đọc liền mạch và không ngắt nhịp.
- Từ câu 5 đến câu 13, đọc với giọng hào hứng, say mê, tự tin, khẳng định tràn đầy một
niềm lạc quan yêu đời. Nhấn mạnh từ “này đây” để thấy được sự đầy đủ, phong phú bất
tận những vẻ đẹp của cuộc sống, tình yêu đang mời chào, ngắt nhịp 3/5. Riêng hai câu
thơ cuối cần chú ý: câu thơ “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa” bị gãy ra ở giữa
dòng bởi một dấu chấm, vì vậy, vế đầu vẫn đọc hào hứng, còn vế sau hơi hạ giọng tạo ra
trạng thái hụt hẫng
- Từ câu 14 đến câu 29, giọng chậm, buồn, pha chút nuối tiếc. Nhấn mạnh các từ
“Nghĩa là”, “ nhưng”, “tiếc”, “bâng khuâng”, “hờn”- cách ngắt nhịp 3/5.
- Đoạn cuối bài thơ, giọng sôi nổi, nhanh, khỏe, tăng dần theo nhịp điệu và hệ thống
động từ trong đoạn thơ. Chú ý cách ngắt nhịp thơ không đều nhau.
Như vậy, nhịp điệu bài thơ một phần là do hệ thống từ ngữ chi phối. Khi phân tích bài
tác động đến cảm xúc văn chương trong tâm hồn mỗi HS, đem đến hiệu quả tốt hơn cho
bài học.
Về phía HS, lớp học rất hào hứng trước vấn đề GV nêu ra, có những câu HS trả lời với
nhiều ý kiến khác nhau, thể hiện cách tư duy độc lập trong quá trình tìm hiểu và tiếp cận thể
loại thơ trữ tình hiện đại qua bút pháp nghệ thuật trong bài thơ. Tính tích cực của HS được
phát huy tối đa, HS tự do phát biểu ý kiến trình bày những cảm nhận riêng mang màu sác
cá nhân rõ nét.
Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ Vội vàng- Xuân Diệu theo hướng mà đề tài đã đề
cập, GV tạo cho lớp học một không khí đối thoại, tranh luận, trao đổi trực tiếp những nhận
thức của mình. Từ đó, HS hiểu đúng, hiểu sâu bài thơ khiến giờ học thêm say sưa, hứng
thú…
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
Kết quả kiểm tra: Chúng tôi đã tổ chức kiểm tra cùng một đề bài, triển khai cùng một
đáp án về bài thơ Vội vàng - Xuân Diệu ở một số lớp khối 11 dưới hình thức tự luận
nhằm mục đích đánh giá kết quả học tập sau giờ đọc - hiểu khi tiếp cận phương thức khai
thác mới cho bài thơ. Đối chiếu kết quả các lớp trước khi áp dụng đề tài và sau khi áp
dụng, đã có biến chuyển tích cực, kết quả đạt được cụ thể như sau:
Trước khi áp dụng đề tài
Tỉ lệ
Lớp dạy Sĩ số lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
11a1 40 0 (0.0%) 9 (22,5%) 17 (42,5%) 11(27,5%) 3(7,5%)
11a3 41 2 (4,9%) 13 (31,7%) 14 (34,1%) 10(24,4%) 2(4,9%)
11a6 42 3(7,2%) 14 (33,3%) 19 (45,2%) 4(0,5%) 2(4,8%)
11a4 41 4 (9,76%) 19 (46,4%) 11 (26,8%) 6(14,6%) 1(2,44%)
Sau khi áp dụng đề tài
Tỉ lệ
Lớp dạy Sĩ số lớp Giỏi Khá Trung
Tôi xin chân thành cảm ơn.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Ngữ văn
12, NXB Giáo dục, 2010.
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
2. Xuân Diệu, Công việc làm thơ - NXB Văn học, 1984.
3. Phan Cự Đệ, Phong trào thơ mới - NXB Khoa học xã hội, tái bản, H, 1994
4. Lê Quang Hưng, Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước Cách mạng tháng
Tám 1945 - NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2002
5. Mã Giang Lân, Xuân Diệu, những lời bình - NXB Văn hóa - thông tin, 1999
6. Lưu Khánh Thơ, Xuân Diệu, về tác giả, tác phẩm - NXB Giáo dục, 1998
7. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam - NXB Văn học, 2003
8. Phan Trọng Luận, Phương pháp dạy - học văn - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,1998
9. Đặng Anh Đào, Văn học Pháp và sự gặp gỡ với văn học Việt Nam 1930 - 1945 - Tạp
chí văn học , số 7, 1997VII. PHỤ LỤC
Thiết kế giáo án thực nghiệm
Tiết 75-76
Đọc Văn
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
VỘI VÀNG
Xuân Diệu
quát những nét chính về tác giả, tác phẩm.
- HS tìm hiểu, phát biểu cá nhân.
- GV giới thiệu thêm về phong cách nghệ
thuật thơ XD, vị trí vai trò của bài thơ Vội
vàng đối với thơ XD trước cách mạng và
Thơ mới nói chung.
- Nêu xuất xứ và xác định thể loại của bài
thơ?
I. Tiểu dẫn
1. Tác giả: Sgk/21
- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các
nhà thơ mới – Hoài Thanh.
- Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, mùa
xuân và tuổi trẻ.
- Sự nghiệp sáng tác phong phú, đa dạng.
2. Tác phẩm
- Xuất xứ: Trích trong tập “Thơ thơ”
(1938).
- Thể loại: Thơ trữ tình viết theo thể thơ tự
do.
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
- GV hướng dẫn HS cách đọc bài thơ
+ 4 câu đầu: giọng nhanh vừa phải,
không ngắt nhịp
+ 7 câu tiếp: Sung sướng, hân hoan.
+ 18 câu tiếp: băn khoăn, nuối tiếc.
+ 10 câu còn lại: nồng nàn, gấp gáp
1. Ý nghĩa nhan đề
- Vội vàng: là trạng thái hối hả,gấp gáp
chạy đua với thời gian.
- Với Xuân Diệu, vội vàng là lẽ sống và
cách sống của thi nhân.
2. Tình yêu trần thế tha thiết: câu 113
- Câu 1→ 4:
- Tôi muốn: điệp ngữ →khát khao mãnh
liệt.
- Tắt nắng, buộc gió: thay quyền tạo hoá
lưu giữ cái Đẹp.
- Cho, đừng: điệp từ →sắc thái van nài,
khẩn khoản.
Bốn câu thơ ngũ ngôn ngắn gọn, khẳng
định, giãi bày cô nén cảm xúc và ý tưởng
của thi nhân, có giá trị như một tuyên ngôn
sống của XD.
- Câu 5→ 11:
+ Câu thơ kéo dài mở rộng.
+ Điệp từ : Này đây, của
+ Hình ảnh tươi non, trẻ trung, xuân sắc,
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 17
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
trong đoạn thơ có đặc điểm chung gì?
+ Câu thơ nào theo em là mới mẻ và hiện
đại nhất? Vì sao?
+ Cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ này?
- GV khái quát các ý chính cho HS.
hạnh phúc tuổi trẻ
Mùa xuân không còn ý nghĩa trừu tượng
của thời gian mà trở thành biểu tượng cho
tuổi trẻ, hạnh phúc, tình yêu.
- Câu 12→ 13:
+ Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một
nửa
Nhịp: 3/5, dấu chấm giữa dòng: Nốt
lặng, tạo sự đối lập trong trạng thái cảm
xúc.
+ Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân:
Quan niệm thời gian chảy trôi, một đi
không trở lại.
Tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng thống
nhất.
NT đoạn thơ: Liệt kê, so sánh, liên
tưởng độc đáo… thể hiện niềm khát khao
hạnh phúc và tình yêu đời tha thiết của thi
nhân.
3. Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc
đời: câu 1429
- Cấu trúc nghĩa là: kiểu câu định nghĩa,
nhấn mạnh ý thơ, thể hiện nhận thức sâu
sắc.
-Xuân: mùa xuân, tuổi xuân, đời người.
- Tới – qua, Non – già, Hết – mất, Rộng –
chật, Xuân tuần hoàn - tuổi trẻ chẳng hai
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 18
luật cuộc sống - thời gian sẽ lấy đi tất
cả.
Tuổi trẻ chính là thước đo: thời gian,
tình yêu, hạnh phúc, cái đẹp.
- Tháng năm – rớm vị chia phôi.
→ Sự bâng khuâng, tiếc nuối ám ảnh vạn
vật. Sự sống, mùa xuân nhuốm màu ảm
đạm, chia lìa, xa cách.
Nỗi lo lắng bâng khuâng trước sự tuần
hoàn của thời gian và sự ra đi của tuổi trẻ.
4. Khát khao được tận hưởng thanh sắc
cuộc đời: 10 câu còn lại
- Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm:
Chạy đua với thời gian, hối hả để tận hưởng
hiện tại.
- Ta muốn: Điệp ngữ
- Ôm, riết, say, thâu, cắn: động từ mạnh.
- Chuếnh choáng, đã đầy, no nê: tính từ chỉ
mức độ.
- Cho, và: điệp, lặp trong câu →cảm xúc
dâng trào
- Tôi
→
ta: khát vọng có tính phổ quát, hoà
nhập cá thể với đời sống chung.
- Nghệ thuật vắt dòng với 3 từ và: Sự mê
say vồ vập trước cảnh đẹp, tình đẹp.
NT tăng tiến, nhịp thơ gấp gáp, kiểu câu
cầu khiến: Cái tôi khát khao cuộc sống đến
cuồng nhiệt khẳng định lẽ sống vội vàng để
người, tuổi trẻ. tất cả đều mang hơi thở nồng nàn của cái tôi Xuân Diệu- cái tôi của nhà
thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.
- Đọc thêm “ Tỏa nhị Kiều”, “Nguyệt cầm”, “Đây mùa thu tới”, “Thơ duyên” để hiểu
thêm về Xuân Diệu.
- Chuẩn bị bài mới: Tràng giang - Huy Cận
E. Rút kinh nghiệm- bổ sung
Biên Hòa, Ngày 09 tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thị Mai Lan
SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Tổ Ngữ văn
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
Biên Hòa, ngày 20 tháng 5 năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2014 – 2015
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu trong chương
trình Ngữ văn 11 ở trường THPT.
Họ và tên tác giả : Nguyễn Thị Mai Lan
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Lĩnh vực:
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học bộ môn:
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 22
Sáng kiến kinh nghiệm 2014- 2015Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Trang 23