BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------
NGUYỄN HẢI YẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM SỮA NƢỚC CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THU HÀ
Hà Nội, 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
chưa từng công bố. Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng đánh giá khoa học
của Trường Đại học Lâm nghiệp về công trình và kết quả nghiên cứu của
Tác giả
Nguyễn Hải Yến
năm 2017
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan…………………………………………………………………i
Lời cảm ơn……………………………………………………………………ii
Mục lục………………………………………………………………………iii
Danh mục các từ viết tắt…………………………………………………..….v
Danh mục các bảng…………………………………………………………..vi
Danh mục các biểu đồ hình vẽ………………………………………………vii
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANHCỦA SẢN PHẨM ............................................................................. 4
1.1.Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm..................................... 4
1.1.1.Khái niệm ......................................................................................... 4
1.1.2.Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm ............ 11
1.1.3.Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm ........... 20
1.2.Cơ sở thực tiễn về tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm ......... 23
1.2.1.Đặc điểm của sản phẩm sữa nước ................................................. 23
1.2.2.Thị trường hội nhập thay đổi cung cầu của sản phẩm sữa nước .. 27
1.3.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu..................................................................... 29
Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.31
2.1. ..... Giới thiệu chung về Công ty cổ phần sữa Việt Nam và thị trường sữa
nước Việt Nam ............................................................................................................ 31
của sản phẩm sữa nước của Vinamilk .................................................... 72
3.4.2.Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm
sữa nước của Công ty cổ phần sữa Việt Nam ........................................ 77
3.4.3. Một số kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh sữa nước của Công ty cổ phần sữa Việt Nam ...... 91
KẾT LUẬN .................................................................................................... 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 95
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AANZFTA: Hiệp định thương mại tự do ASEAN
ALPRO:
Hệ thống sản phẩm các dung dịch sát khuẩn và
khử trùng
CAGR: Tỷ lệ tăng trưởng lũy kế hàng năm
DN: Doanh nghiệp
DUTCH LADY: Công ty liên doanh Friesland Campina Việt Nam
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
HACCP:
Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm
tới hạn
ISO: Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận 2014-2015.
34
Bảng 2.2. Tình hình tài sản và nguồn vốn của Vinamilk 2014-2015
34
Bảng 3.1 Mạng lưới phân phối sữa nước
49
Bảng 3.2. Bảng giá các sản phẩm sữa nước T12/2016
56
Bảng 3.3. Quảng cáo thành công nhất kênh truyền hình Việt Nam
57
Bảng 3.4. Quy hoạch phát triển sản xuất các sản phẩm sữa 2015 – 2020
74
Bảng 3.5. Thành phần của một số loại sữa
81
Bảng 3.6. So sánh thành phần dinh dưỡng của sữa bò và sữa dê
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ doanh thu từ bán hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước
35
Biểu đồ 3.1. Đo lường mức độ nhận biết thương hiệu
52
Biểu đồ 3.2. Thị phần sữa tiệt trùng của Vinamilk năm 2016
53
Biểu đồ 3.3. Thị phần sữa thanh trùng của Vinamilk năm 2016
53
Biểu đồ 3.4. Đo lường mức độ trung thành sử dụng sữa nước
54
Biểu đồ 3.5. Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm
61
Hơn 30 năm phát triển, với chất lượng sữa đảm bảo, đa dạng về hình
thức và chủng loại cùng với thương hiệu uy tín lâu năm, Công ty Cổ phần sữa
Việt Nam Vinamilk hiện chiếm 49% thị phần, dẫn đầu thị trường sữa nước tại
Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, sự lớn mạnh của các đối thủ
chính như Dutch Lady, TH true MILK đặc biệt là sự kết hợp giữa Hoàng Anh
Gia Lai và Nutifood đang làm cho việc cạnh tranh trong thị trường sữa nước
càng trở nên gay gắt.
Bên cạnh đó, Việt Nam vừa gia nhập hội nghị TPP với nhiều cơ hội
tăng lợi thế cạnh tranh trong việc tiếp cận các thị trường lớn nhưng đồng thời
cũng là thách thức cho thị trường nội địa khi phải cạnh tranh khốc liệt hơn với
các DN nước ngoài. Ngay thời điểm này, khó có thể thấy tác động TPP,
2
nhưng sau năm 2018 khi sản phẩm sữa các nước New Zealand và Australia
vào thị trường với mức thuế suất bằng 0 chắc chắn ảnh hưởng đến thị trường
sữa và DN sản xuất sữa trong nước
Như vậy, để tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu và phát triển bền vững
trong tương lai, Vinamilk cần phải đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của sản
phẩm sữa nước của mình trong thời gian qua và đề ra các giải pháp để nâng
cao năng lực cạnh tranh sản phẩm này trên cơ sở xác định đúng mục tiêu và
chiến lược đến năm 2020. Từ nhận định trên, tôi lựa chọn đề tài “Năng lực
cạnh tranh sản phẩm sữa nước của
ng t
p
n sữa V t Nam” làm
2010 đến năm 2015 nhằm thấy rõ NLCT hiện tại của sản phẩm sữa nước và
đưa ra định hướng cho đến năm 2020
4. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục bảng biểu, Tài liệu tham
khảo, Phụ lục, luận văn bao gồm 3 phần chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA SẢN PHẨM
1.1.
Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.1.1. Khái ni m
Cạnh tranh
Sự sống luôn vận động, song hành và phát triển cùng với quy luật cạnh
tranh. Cạnh tranh là động lực và cũng là phương thức để giúp xã hội tồn tại và
đi lên. Khái niệm về cạnh tranh là một khái niệm tương đối, được nhiều nhà
khoa học nghiên cứu và nhìn nhận theo các góc độ với những quan điểm khác
nhau.
Nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, Các Mác nhận định “Cạnh tranh là sự
ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều
của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông
thường, về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc
người tiêu dùng”. (khoản 3,4 điều 3 Luật cạnh tranh 2004)
Với các cách tiếp cận như trên, khái niệm về cạnh tranh có thể hiểu là
quan hệ kinh tế mà các chủ thể tìm mọi biện pháp để giành lấy lợi thế giúp
giảm chi phí đầu vào và tăng giá sản phẩm đầu ra với chi phí đầu tư nhỏ nhất.
Mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi ích, đối với người bán là lợi nhuận, đối
với người mua là tiện lợi và giá rẻ.
Hiện nay tại các quốc gia, cạnh tranh được coi là một xu thế tất yếu
khách quan của nền kinh tế. Nó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, giúp cân
bằng các nguồn lực trong xã hội và nâng cao chất lượng đời sống. Đối với
DN, cạnh tranh vừa là cơ hội vừa là thách thức cho sự phát triển của DN bằng
những nội lực tiềm ẩn để nâng cao NLCT của mình, thúc đầy DN luôn nỗ lực
để tự hoàn thiện mình về mọi mặt.
6
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà cạnh tranh được phân chia ra làm
nhiều loại. Xét về cấp độ cạnh tranh, cạnh tranh có cạnh tranh sản phẩm, cạnh
tranh DN, cạnh tranh quốc gia. Xét về thủ đoạn, ta có cạnh tranh lành mạnh
và cạnh tranh không lành mạnh. Xét về tính chất cạnh tranh, cạnh tranh được
chia làm ba loại: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh
tranh độc quyền (Nguyễn Thị Hạnh, 2014). Trong phạm vi nghiên cứu của
luận văn, tác giả lựa chọn nghiên cứu cách phân loại cạnh tranh dựa trên tiêu
chí cấp độ cạnh tranh để tìm hiểu NLCT tương ứng vời từng loại cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở ba cấp độ: NLCT quốc gia, NLCT
Dưới góc độ của một nhà kinh tế Micheal Porter (2009, tr.40) đưa ra
quan điểm mới về NLCT của quốc gia: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về NLCT
của quốc gia là năng suất lao động”.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), thì NLCT quốc gia được hiểu là
“năng lực của một nền kinh tế đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên
cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng
kinh tế khác”. Các tiêu chí đánh giá của WEF được chia thành 3 nhóm chính,
gồm: yêu cầu căn bản (kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản - y tế, cơ sở hạ tầng, thể
chế); yếu tố nâng cao (giáo dục và đào tạo bậc cao, độ hiệu quả trên thị
trường lao động, hiệu quả trên thị trường hàng hóa, sự phát triển của hệ thống
tài chính, trình độ công nghệ, quy mô thị trường) và các yếu tố về tinh vi –
đột phá (sự tinh vi của hệ thống DN, khả năng đột phá)
Như vậy, theo như những khái niệm trên, ta có thể hiểu NLCT của
quốc gia chính là khả năng quốc gia đó tận dụng những ưu thế của quốc gia
mình để duy trì và phát triển bền vững trong một môi trường kinh tế biến
động của thị trường thế giới. Tại Viêt Nam, mặc dù thứ hạng hiện tại NLCT
quốc gia đã tăng 12 bậc so với năm 2014 nhưng vị trí 56 trên 140 nền kinh tế
vẫn thấp so với các quốc gia trong cùng khu vực.
8
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: là khả năng DN tạo ra năng suất và
chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu
nhập cao và phát triển bền vững. NLCT của DN thể hiện thực lực và lợi thế
của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của
khách hàng để thu lợi ngày càng cao bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và
lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn
người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu lợi nhuận ngày càng cao và cải
tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Nói cách khác, NLCT
của DN là năng lực cung cấp sản phẩm của chính DN trên các thị trường khác
người tạo ra phương hướng hoạt động, vạch ra các chiến lược, chính sách và
điều hành, kiểm soát mọi hoạt động của DN. Năng lực quản lý của đội ngũ
lãnh đạo được thể hiện qua trình độ học vấn, kinh nghiệm trong nghề, sự hiểu
biết về pháp luật chính sách, môi trường kinh doanh và kĩ năng giao tiếp ứng
xử đối với bên ngòai xã hội và khả năng kết nối với nguồn nhân lực trong
công ty.
Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ lao động cũng là một tiêu chí vô
cùng quan trọng để đánh giá NLCT của DN. DN được đánh giá là có NLCT
cao nếu tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ lao động trình độ học vấn
cao, lành nghề, nhiều kinh nghiệm, sáng kiến vì những sản phẩm được sản
xuất ra với chất lượng cao, mẫu mã đa dạng và năng suất vượt trội.
Cơ sở vật chất và trình độ áp dụng các khoa học kĩ thuật: để nâng cao
năng suất chất lượng hàng hóa và dịch vụ, ngoài yếu tố về con người thì DN
cũng cần phải đầu tư trang bị cho mình hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ, trang
thiết bị khoa học kĩ thuật tân tiến và hiện đại để tạo nền móng cơ sở vững
chắc cho sản xuất.
Hiệu quả kinh doanh của DN: là thước đo chính xác nhất NLCT của DN đó,
nó thể hiện kết quả thực tế mà DN thực hiện được sau một quá trình kinh
doanh và kết hợp các yếu tố sản xuất. Hiệu quả sản xuất được thể hiện qua
các chỉ tiêu như tổng số lợi nhuận, hệ số sinh lời, lợi nhuận trên vốn và lợi
nhuận trên doanh thu. Nếu doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn hiệu quả thì
10
sẽ thu lợi nhuận cao, từ đó có khả năng tái sản xuất mở rộng, mở rộng thị
trường tiềm năng, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của DN: các DN kinh
doanh nhiều loại sản phẩm, dịch vụ vì vậy cạnh tranh giữa các DN cũng chính
là cạnh tranh giữa các sản phẩm, dịch vụ của các DN trong cùng ngành. Các
sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung cấp có chất lượng cao sẽ tác động đến
sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường
(Michael E.Porter, 2008)
Theo PGS., TS Nguyễn Viết Lâm (2014), NLCT của sản phẩm là khả
năng trao đổi sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng so với sản phẩm
của đối thủ cạnh tranh.
Như vậy, NLCT của sản phẩm là tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng
mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trường
cạnh tranh một các lâu dài và có ý nghĩa
NLCT của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó, NLCT
của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, tính đa dạng, mẫu mã, bao
bì, uy tín thương hiệu, mức độ phân phối, giá cả và công tác tiếp cận thị
trường của sản phẩm. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ tập trung vào
NLCT của sản phẩm đặc thù, đó là sản phẩm sữa nước bao gồm sữa tươi tiệt
trùng, sữa tươi thanh trùng và sữa hoàn nguyên tiệt trùng cho mọi đối tượng
khách hàng với thông tin chi tiết được trình bày ở phần tiếp theo.
1.1.2. ác t êu c í đán g á năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Bản chất của sản phẩm, sinh ra là để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản
phẩm này có cạnh tranh được với sản phẩm khác hay không thì không chỉ phụ
thuộc vào bản thân sản phẩm mà trên hết vẫn là sự quyết định của người tiêu
dùng. Nói cách khác, NLCT của sản phẩm bao gồm các chỉ tiêu mà có lợi cho
người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng đưa ra sự lựa chọn và do người tiêu
dùng quyết định. Vì vậy, với mỗi sản phẩm hay khách hàng khác nhau sẽ có
những tiêu chí đánh giá NLCT sản phẩm với các mức độ quyết định khác nhau.
12
Trong phạm vi nghiên cứu các sản phẩm sữa nước, dựa trên cơ sở lý
luận về các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm nói chung, tác giả xin
đưa ra một số tiêu chí đánh giá NLCT sản phẩm sữa nước theo quan điểm của
cá nhân tác giả trong quá trình nghiên cứu vấn đề: chất lượng, bao bì và hình
trình khai thác sữa, bảo quản vận chuyển rồi kiểm tra, đóng hộp và khâu bán
hàng, dịch vụ hậu mãi đưa sản phẩm tiếp cận tới người tiêu dùng. Chất lượng
sữa nước sẽ được đánh giá dựa trên hương vị, độ thơm ngon, có lợi cho sức
khỏe, đảm bảo các tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phầm.
Như vậy, sản phẩm sữa nước của DN có NLCT về chất lượng sẽ được
đánh giá thông qua mối tương quan so với đối thủ về số lượng bò trong trang
trại mà DN chăn nuôi, chất lượng giống bò, giá trị sữa thu mua các hộ dân có
sữa đạt chất lượng, số lượng trang thiết bị hiện đại, tân tiến mà DN đầu tư, lợi
ích về dinh dưỡng người tiêu dùng nhận được.
1.1.2.2. Tính đa dạng
Hoạt động trong kinh tế thị trường, DN bị chi phối bởi quy luật cạnh
tranh. Quy luật cạnh tranh đòi hỏi DN phải có một cơ cấu sản phẩm hợp lý để
có thể tạo ra vũ khí cạnh tranh hiệu quả xác định vị trí của mình trên thương
trường. Hiện nay trong bất kì ngành kinh doanh nào sự cạnh tranh về nhiều
phương diện giữa các DN trong và ngoài nước đều đang diễn ra rất mạnh mẽ.
Nhu cầu thị trường rất đa dạng, phong phú, nên đa dạng hoá sản phẩm sữa
nước sẽ giúp cho DN đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường, nâng cao thị
phần, góp phần tăng lợi nhuận của DN. Mặt khác, trong điều kiện cạnh tranh
ngày càng trở nên quyết liệt thì đa dạng hoá sản phẩm còn giúp DN phân tán
rủi ro.
Sản phẩm sữa nước trên thị trường hiện có hai loại sản phẩm là sữa
tươi và sữa hoàn nguyên. Sự đa dạng về sản phẩm sữa nước của các DN sẽ
được đánh giá dựa trên hai yếu tố:
Một là, sự đa dạng về nhãn hiệu sản phẩm sữa nước: thị trường sữa
nước hiện nay vô cùng đa dạng về chủng loại, nguồn gốc, dinh dưỡng, hương
14
vị. Mỗi DN tuỳ vào tiềm lực kinh tế mà lựa chọn cho ra đời các nhãn hiệu
khác nhau. DN nào càng sở hữu nhiều nhãn hiệu thì càng đáp ứng được nhiều
15
“người bán hàng im lặng”, bao bì góp phần không nhỏ vào việc gia tăng tính
hấp dẫn và kích thích tiêu thụ sản phẩm, tạo dựng hình ảnh của DN và là công
cụ đắc lực trong hoạt động marketing của DN (Ngô Minh Cách, 2010, tr.178).
Chính vì những vai trò trên mà hình thức mẫu mã hay thiết kế mỹ thuật của
bao bì sản phẩm là một tiêu chí quan trọng khi đánh giá NLCT của sản phẩm.
Bao bì nói chung được định nghĩa là tất cả những gì chứa đựng và bao bọc
sản phẩm. (ĐHNT, 2000, tr.95)
Đối với sản phẩm sữa nước, bao bì cũng là một yếu tố quyết định đến
sự lựa chọn của khách hàng. Thiết kế bao bì sữa là công việc hết sức khó khăn
đòi hỏi người thiết kế có sự sáng tạo, nhiều ý tưởng và cần phải tinh tế để
nghiên cứu các sản phẩm cũng như thị trường. Bao bì sữa ngoài chức năng về
đảm bảo chất lượng sản phẩm thì nó còn là một công cụ để thực hiện chiến
dịch marketing. Một hộp sữa hay túi sữa được thiết kế bắt mắt, hấp dẫn, chi
tiết đầy đủ thông tin sẽ tạo cho khách hàng sự tin tưởng về chất lượng của
sữa. Với những đối tượng khách hàng không quá trung thành với một nhãn
hiệu nào đó thì sản phẩm với hình thức đẹp, bao bì bắt mắt sẽ rất có lợi thế
cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng. Đối với các thực phẩm như sữa thì
bao bì chứa nó cần phải tạo ra cảm giác thèm ăn, muốn được uống, và có thể
cảm nhận bằng khứu giác và vị giác.
1.1.2.4. Sức mạnh thương hiệu
Thương hiệu – theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới là
một dấu hiệu hữu hình và vô hình đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng
hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá
nhân hay một tổ chức. Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ định nghĩa: Thương hiệu
là “một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế, hoặc
tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ
của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ
cạnh tranh” (Đỗ Thị Thu Hằng, 2014).
khác, thương hiệu của sản phẩm sẽ được lợi từ uy tín và tên tuổi của thương
17
hiệu DN nếu như tên sản phẩm có bao hàm tên DN. Ngược lại, thành công
hay thất bại trên thương trường của mỗi thương hiệu sản phẩm đều ảnh hưởng
đến tên tuổi và hình ảnh của thương hiệu DN.
Sự nhận biết thương hiệu: được thể hiện qua các mức độ là không nhận
ra, nhận ra, nhớ ra, nhớ ra ngay khi được hỏi về sản phẩm sữa nước sử dụng
Mức độ sử dụng thường xuyên: đối với sản phẩm sữa nước, ta có thể
hiểu chỉ số này được thể hiện qua thị phần của nó so với các đối thủ cạnh
tranh trong ngành.
Sự trung thành của người tiêu dùng đối với thương hiệu của sản phẩm:
được đánh giá qua hành vi và thái độ của người tiêu dùng sữa nước đối với
giá cả, sản phẩm, tiếp thị và phân phối sản phẩm. Đối với quan điểm của nhà
quản trị thương hiệu thì chỉ số trung thành là thước đo cao nhất thể hiện rõ
quá trình xây dựng của một thương hiệu và đích đến là để so sánh sức mạnh
của một thương hiệu này đối với thương hiệu khác trong cùng một ngành hàng.
Sản phẩm sữa nước của DN nào càng có nhiều chỉ tiêu đạt lợi thế thì
NLCT về thương hiệu của sản phẩm đó càng cao.
1.1.2.5. Giá cả
Chỉ tiêu này được sử dụng với vai trò là một sự so sánh về giá giữa các
DN cạnh tranh. Giá cả là một yếu tố giúp DN thu hút ngày càng nhiều hơn
khách hàng về phía mình, tất nhiên là trong mối tương quan với chất lượng
sản phẩm mà DN cung cấp cho khách hàng.
DN muốn sản phẩm có giả cả cạnh tranh so với các đối thủ thì phải tìm
cách hạ giá thành của sản phẩm hay nói cách khác chi phí sản xuất của sản
phẩm của DN phải thấp hơn chi phí sản xuất của đối thủ cạnh tranh
Muốn giảm chi phí, DN phải có chính sách tận dụng hợp lý các nguồn
lực sẵn có như tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên, tìm kiếm nguồn lao