BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
TRẦN NGỌC LONG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM BAO BÌ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP
BẮC HẢI - HUYỆN THUẬN THÀNH – TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
TRẦN NGỌC LONG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM BAO BÌ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP
BẮC HẢI - HUYỆN THUẬN THÀNH – TỈNH BẮC NINH
ơn tập thể và cá nhân đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh tế đã
truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn
luyện tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS. Đỗ Văn
Viện – giảng viên khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học
Nông nghiệp I đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu
và viết khóa luận tốt nghiệp của tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên Hội đồng quản trị Công ty
cổ phần Công nghiệp Bắc Hải, và toàn bộ nhân viên trong Công ty đã tận tình
giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi tìm hiểu và hoàn thành tốt nội dung
của đề tài nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình tôi và bạn bè đã
động viên khích lệ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt
quá trình thực tập tốt nghiệp.
Do điều kiện về thời gian và đây là bước đầu cho việc tập làm quen,
nghiên cứu về khoa học và kỹ thuật nên vẫn còn hạn chế. Vậy, khóa luận của
tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự giúp đỡ,
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cũng như các bạn để bài khóa luận của
tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng năm 2014
Học viên
Trần Ngọc Long
iii
1.2.4. Một số bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm của doanh nghiệp ............................................................................ 37
1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan ...................................... 42
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 43
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ................................................................... 43
2.1.1. Thông tin chung về Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải ............... 43
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty .............................................. 43
2.1.3. Cơ cấu tổ chức....................................................................................... 44
2.1.4. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ......................... 47
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 59
2.2.1. Khung nghiên cứu ................................................................................. 59
2.2.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ..................................................... 60
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 61
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 61
2.2.5. Phương pháp phân tích số liệu .............................................................. 62
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh sản phẩm .............. 63
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 65
3.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty ................ 65
3.1.1. Thực trạng sản xuất và kinh doanh của Công ty................................. 65
3.1.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty ............. 70
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của
Công ty ............................................................................................................ 87
3.2.1. Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài .............................................. 87
3.2.2. Các nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp ................................................ 92
3.3. Đánh giá các tiêu chí về năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công
ty ...................................................................................................................... 94
3.3.1. Điểm mạnh ............................................................................................ 94
CL
CN
CP
CPNCTT
CPNVLTT
CPSXC
ĐKKD
ĐVT
FDI
GDP
HCNS
HĐQT
KH & ĐT
NLCT
NXB
OECD
QL 5
SL
SP
STT
SWOT
TL
TNHH
VND
WTO
Nguyên Nghĩa
Diễn đàn hợp tác Kinh tê châu Á-Thái Bình Dương
Ban giám đốc
Bắc Hải Company
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
STT
Trang
1.1
Tình hình tiêu thụ nhựa và bao bì trên Thế giới
34
2.1
Tình hình lao động của Công ty
51
2.2
Kết cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty
54
2.3
Số lượng máy móc thiết bị của Công ty
70
3.3
Ý kiến khách hàng về chất lượng sản phẩm
71
3.4
Kết cấu chi phí và giá bán một số sản phẩm chủ yếu của
công ty
75
3.5
Giá bán một số sản phẩm bao bì trên thị trường
77
3.6
Khối lượng tiêu thụ sản phẩm
80
3.7
Thị phần sản phẩm bao bì của các Công ty
Các yếu tố quyết định mức độ cạnh tranh SP trên thị trường
24
2.1
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty
45
2.2
Quy trình sản xuất bao dệt PP
49
2.3
Khung nghiên cứu NLCT sản phẩm bao bì của công ty
59
3.1
Mô hình tổ chức quản lý về chất lượng sản phẩm của Công ty
72
2
PP tại Việt Nam với đội ngũ nhân viên trẻ cả tuổi đời và tuổi nghề, với niềm
đam mê nhiệt huyết khát vọng mang đến cho người tiêu dùng những sản
phẩm mang đậm tính truyền thống dân tộc với chất lượng tốt nhất, là điển
hình cho những doanh nghiệp trẻ trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh và một số tỉnh
lân cận. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây thị phần của Công ty có xu hướng
giảm do tốc độ phát triển mạnh mẽ của ngành nhựa, bao bì cũng như tình hình
nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng. Để tồn tại và phát triển trong tương lai,
Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải một thành viên sản xuất bao bì tại Việt
Nam đang tích cực tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra những chiến lược, những
giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo vị thế vững chắc trên thị
trường.
Để giải quyết vấn đề này cần có những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm
tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu. Xuất phát từ đó tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty cổ
phần công nghiệp Bắc Hải Huyện Thuận Thành – Tỉnh Bắc Ninh.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì
của Công ty cổ phần công nghiệp Bắc Hải trong những năm gần đây. Luận
văn đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì
của Công ty trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh
tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm.
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh
tranh sản phẩm bao bì của Công ty những năm gần đây, đồng thời phát hiện
những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm bao bì của Công ty.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH SẢN PHẨM
1.1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm
Thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau theo các trường phái khác
nhau về cạnh tranh. Các học giả thuộc trường phái tư sản cổ điển thì cho rằng:
“Cạnh tranh (Competition – Concurentia) là cuộc đấu tranh đối kháng giữa
các nhà sản xuất hàng hoá nhằm giành điều kiện thuận lợi nhất về sản xuất và
tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận tối đa”.
Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 định nghĩa "Cạnh
tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường
nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách
hàng về phía mình; là hoạt động tranh đua giữa nhiều người sản xuất hàng
hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bị
chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và
thị trường có lợi nhất".
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: "Cạnh tranh là khái niệm của doanh
nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế"[3].
Ở Việt nam, theo Từ điển Bách khoa, thì: "Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa
những các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi
phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị
trường có lợi nhất"[12].
6
trường. Năng lực cạnh tranh sẽ là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Do
vậy, mỗi đơn vị kinh tế cần cố gắng tìm cho mình một chiến lược cạnh tranh
phù hợp để vươn tới vị trí cao nhất.
Trong cạnh tranh, nảy sinh ra người có khả năng cạnh tranh mạnh,
người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh
mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là
năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh thể hiện ở 3 cấp độ: Cấp quốc gia; cấp doanh
nghiệp và cấp sản phẩm.
- Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia thể hiện một cách có ý nghĩa
nhất ở năng suất lao động. Tổng năng suất lao động của các doanh nghiệp là
năng suất lao động của một quốc gia với từng ngành. Các doanh nghiệp có
năng suất lao động cao thì quốc gia có năng suất lao động cao, đồng nghĩa với
quốc gia đó có năng lực cạnh tranh cao [2],[8].
- Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp
Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có khả năng
cung cấp một số lượng sản phẩm lớn, doanh thu lớn, thị phần ngày một tăng
trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên cơ sở chi phí
thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao. Một nhà sản xuất được gọi là nhà sản xuất
có khả năng cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng sản phẩm chất lượng cao
với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp
các yếu tố để xác lập vị thế so sánh tương đối hay tuyệt đối, tốc độ tăng
trưởng, phát triển bền vững, ổn định của doanh nghiệp trong mối quan hệ so
được biểu hiện qua hai mặt là chi phí và sự khác biệt hoá của sản phẩm.
Lợi thế về chi phí đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể tạo ra sản
phẩm đảm bảo chất lượng với chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Chi phí
8
thấp tạo ra lợi thế về giá cả cho sản phẩm. Các nhân tố nguồn lực mà doanh
nghiệp có như các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật, nguồn cung ứng đầu
vào, vị trí địa lý ảnh hưởng trực tiếp đến lợi thế về chi phí [2] [8] [9].
Sự khác biệt hoá của sản phẩm là tạo ra những sản phẩm có nét độc
đáo, đặc trưng riêng biệt khác hẳn với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Trong
xu thế cạnh tranh ngày càng hướng về chất lượng sản phẩm. Đây là một yếu
tố thu hút khách hàng, tạo được niềm tin và trung thành của khách hàng. Lợi
thế về sự khác biệt cho phép doanh nghiệp định mức giá bán cao hơn đối thủ
cạnh tranh có nghĩa là doanh nghiệp sẽ thu được doanh thu và lợi nhuận lớn.
Lợi thế cạnh tranh là cái đang tồn tại hữu hình trong doanh nghiệp, doanh
nghiệp có thể tận dụng chúng một cách triệt để, hiệu quả nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh sản phẩm
Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế hội nhập quốc tế cũng như liên
khu vực diễn ra ngày một nhanh chóng thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh
của toàn bộ nền kinh tế cũng như từng thành phần trong nền kinh tế có một ý
nghĩa vô cùng to lớn. Việc nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ giúp cho doanh
nghiệp nắm bắt các cơ hội, hạn chế các nguy cơ và có thế kiếm soát được
không gian cạnh tranh mới. Mục tiêu không chỉ đơn giản là đuổi kịp đối thủ
cạnh tranh, mà luôn phải nghĩ cách đi đầu tạo ra những sản phẩm mới, với
những ưu việt mới hơn hẳn đối thủ cạnh tranh. Ở đây doanh nghiệp phải tìm ra
một hướng đi riêng của chính mình. Mục tiêu không chỉ đơn giản là đuổi kịp sự
đổi mới, quy trình sản xuất của đối thủ cạnh tranh và học hỏi các phương pháp
quan hệ chính trị - kinh tế - xã hội, tăng cường mối quan hệ hợp tác, hiểu biết
lẫn nhau giữa các nước [8], [10].
Nước ta đã và đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, hội nhập kinh tế
quốc tế có nghĩa là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá thương mại, đưa
các doanh nghiệp tham gia vào thị trường và thực hiện cạnh tranh trên thị
10
trường quốc tế. Hội nhập kinh tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có những
đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường. Hội nhập kinh tế
chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong nước và nước ngoài.
tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm
quản lý.
Thách thức hàng đầu khi hội nhập là tính cạnh tranh ngày càng khốc
liệt trên cả thị trường trong nước và xuất khẩu, do các hàng rào bảo hộ cả thuế
quan và phi thuế quan cũng như các chính sách ưu đãi đang dần bị loại bỏ. Vì
vậy, doanh nghiệp phải không ngừng lớn lên, không ngừng tăng trưởng, luôn
đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động để sản xuất kinh doanh có
hiệu quả cao, tăng năng lực cạnh tranh.
Mục đích cao nhất của mỗi doanh nghiệp là tồn tại và phát triển. Để
làm được điều đó, doanh nghiệp cần phải phát huy hết các ưu thế, tạo ra
những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Cũng trong nền kinh tế đó,
khách hàng là người tự do lựa chọn nhà cung ứng, là người quyết định sự tồn
tại của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự tìm đến khách hàng và
khai thác nhu cầu nơi họ. Doanh nghiệp phải tự giới thiệu, quảng cáo làm cho
người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện
nay, doanh nghiệp có được một khách hàng đã khó nhưng để giữ được khách
hàng còn khó hơn. Nâng cao khả năng cạnh tranh là làm cho khách hàng quay
người mua nào có đủ khả năng chi phối giá cả thị trường. Điều đó có nghĩa
các doanh nghiệp sản xuất và bán sản phẩm của mình tại mức giá hiện hành
trên thị trường. Xuất phát từ đặc điểm này mà hàng rào cản trở sự nhập cuộc
hay rút lui của các nhà sản xuất là không có, thông tin thị trường là hoàn hảo,
mọi thông tin thị trường là rõ ràng, chính xác. Trong thị trường cạnh tranh hoàn
hảo thì công cụ cạnh tranh chủ yếu không phải là giá cả mà là những nỗ lực
nhằm giảm chi phí cá biệt. Đối với thị trường này không có hiện tượng cung
cầu giả tạo và không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính của nhà nước.
12
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có ít người bán và nhiều
người mua, sản phẩm trong thị trường là không đồng nhất. Mỗi loại sản phẩm
về công dụng chung nhất thì không có sự khác nhau, nhưng có một số thuộc
tính khác nhau và có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau. Do đó, người mua ít
có điều kiện để so sánh giá cả của sản phẩm này với sản phẩm khác có cùng
công dụng. Hàng rào cản trở sự gia nhập và rút lui trong thị trường này cao
hơn so với trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nó đòi hỏi sự cố gắng lớn,
chi phí lớn và rủi ro cao. Khi có đối thủ mới gia nhập hay rút lui thì ngay lập
tức các đối thủ hiện tại sẽ nhận ra điều này và đưa ra các hành động phù hợp
một cách nhanh chóng. Giá cả có thể được sử dụng làm công cụ cạnh tranh
nhưng không phải là công cụ hàng đầu mà công cụ hàng đầu là tính độc đáo
của sản phẩm hay chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Thường thì các doanh
nghiệp trong thị trường này luôn cố gắng tạo ra hình ảnh của riêng mình và sử
dụng nó để lôi kéo khách hàng về phía mình. Loại cạnh tranh này rất phổ biến
trong giai đoạn hiện nay.
- Thị trường độc quyền
Đây là loại hình cạnh tranh mà trên thị trường có một số ít người bán
trường thì cường độ cạnh tranh với người mua không cao lắm. Như vậy,
không có nghĩa là doanh nghiệp đã hoàn toàn giành thế chủ động trước khách
hàng mà điều đó chỉ có ý nghĩa trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó
các doanh nghiệp phải tự đổi mới cho phù hợp với khách hàng.
- Cạnh tranh giữa người mua với người mua
Đó là quá trình ganh đua diễn ra giữa những người mua với nhau trong
quá trình mua nhằm mục đích mua được hàng hoá có giá trị sử dụng lớn với
chất lượng cao. Quá trình cạnh tranh này chủ yếu diễn ra khi lượng cung trên
thị trường nhỏ hơn lượng cầu trên thị trường hoặc với những hàng hoá mang
đặc tính duy nhất như đồ cổ hay những bức tranh nổi tiếng…Lúc này cường
14
độ cạnh tranh là cao nhất, giá cả của hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng
người mua vẫn sẵn sàng chấp nhận mua. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là
người bán sẽ được lợi và người mua nhận được thứ mà mình cần với chi phí
cao hơn.
- Cạnh tranh giữa người bán với người bán
Đây là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường, mang tính gay go khốc liệt
nhất và có ý nghĩa sống còn với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cạnh tranh
với nhau, thủ tiêu lẫn nhau nhằm giành giật khách hàng và thị trường. Kết quả
của cuộc cạnh tranh này là một sự đào thải có chọn lọc. Các doanh nghiệp
chiến thắng có cơ hội để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô sản
xuất, tăng thị phần tạo ra sự phát triển vững chắc. Thực tế cho thấy khi sản xuất
hàng hoá càng phát triển, số người bán tăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt.
Các doanh nghiệp thành công là các doanh nghiệp dám đối đầu với cạnh tranh,
tạo được vũ khí cạnh tranh có hiệu quả và dám chấp nhận “luật chơi”.
1.1.4.3. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm.
- Quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo
và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn,
quy cách đã xác định trước.
- Quan điểm xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự
phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh
tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Trình độ kĩ thuật chính là
các chỉ tiêu an toàn, vệ sinh, công dụng... chi phí sản xuất, chất lượng, chi phí
sử dụng và chi phí môi trường. Cũng có quan điểm khác cho rằng chất lượng
được xem xét ở hai khía cạnh là chất lượng chuẩn mực và chất lượng vượt
trội. Sản phẩm luôn đổi mới sẽ tạo ra chất lượng vượt trội từ đó tạo ra sự khác
biệt so với đối thủ cạnh tranh.