BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM
SỮA TƯƠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
TRẦN THỊ THÙY DUNG
HÀ NỘI – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
sữa tươi của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk” là công trình
nghiên c ứ u độc lập nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Thị
Thu Hà.
Các tài liệu tham khảo gốc, các số liệu thống kê phục vụ mục đích
nghiên cứ u công trình này được sử dụng đúng quy định có nguồn gốc rõ
ràng, không vi phạm quy chế bảo mật của Nhà nước.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn này chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác ngoài các công trình nghiên cứu của tác
giả.
Tác giả xin cam đoan những vấn đề nêu trên là hoàn toàn đúng sự thật. Nếu
sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tác giả
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh ................................................................ 3
1.1.2 Phân loại cạnh tranh ..................................................................... 5
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh ................................................................... 6
1.2 Năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp .................................. 8
1.2.1 Khái niệm ...................................................................................... 8
1.2.2 Các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm ....... 9
1.2.3 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản
phẩm .................................................................................................... 13
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm .................. 18
1.3 Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp trong ngành về nâng cao năng
lực cạnh tranh sản phẩm và bài học rút ra cho Công ty cổ phần Sữa Việt
Nam. ........................................................................................................ 20
1.3.1 Kinh nghiệm của Công ty cổ phần Sữa TH True Milk ................. 20
1.3.2 Kinh nghiệm của Công ty Sữa Cô gái Hà Lan ( Dutch Lady) ....... 23
1.3.3 Bài học rút ra cho Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk ........ 25
Tiểu kết chương 1........................................................................................
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN
PHẨM SỮA TƯƠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM ...... 27
2.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) ................... 27
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ................................................ 27
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ: ................................................................... 30
2.1.3
Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk ...... 30
2.1.4.
Kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk
32
Xây dựng và thực hiện chiến lược giá bán cạnh tranh. .......... 72
3.2.4 Từng bước hoàn thiện, mở rộng và phát triển mạng lưới kênh phân
phối. ..................................................................................................... 73
3.2.5
Không ngừng nâng cao chất lượng nhân lực của Công ty. ..... 74
3.2.6
Nâng cao năng lực xúc tiến ................................................... 77
3.2.7
Xây dựng thương hiệu, nâng cao uy tín của Vinamilk trên thị
trường. 79
Tiểu kết chương 3 .................................................................................... 80
KẾT LUẬN.......................................................................................................82
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................84
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinam .......... 31
Biểu đồ 2.1 Doanh thu, lợi nhuận của Vinamilk giai đoạn 2008-2012 .......... 32
Biểu đồ 2.2. Kết quả sản xuất kinh doanh sản phẩm sữa tươi của Vinamilk ............33
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu nguồn vốn của Vinamilk. ......................................................35
Biểu đồ 2.4 : Thị phần các sản phẩm của Vinamilk trong môi trường ngành năm2012
...............................................................................................................................53
CP:
Cổ phần
CSH:
Chủ sở hữu
ĐHĐCĐ:
Đại hội đồng cổ đông
NLCT:
Năng lực cạnh tranh
TMCP:
Thương mại cổ phần
STT:
Sữa thanh trùng
Tiếng Anh
BRC: Gobal Standard for Food Safety: Tiêu chuẩn thực phẩm toàn cầu
BVQI: Bureau Verital: Chứng nhận hệ thống chất lượng và thương hiệu
sản phẩm.
GMP: Good Manufacturing Practices: Tiêu chuẩn Thực hành sản xuất tốt
FDA: Food and Beverages: Cục Dược phẩm và Thực phẩm toàn cầu.
của nước ta, đang mở ra triển vọng lớn về thị trường nội địa cho ngành công
nghiệp sữa tươi ở Việt Nam. Tuy nhiên, sản phẩm sữa tươi của Công ty cổ
phần Sữa Việt Nam đang đứng trước nguy cơ cạnh tranh của các công ty trong
nước và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy đây là vấn đề cấp thiết
đối với sản phẩm sữa nội nói chung và của Công y cổ phần Sữa Việt Nam nói
riêng là nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của công ty.
Sau một thời gian tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như
năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa tươi của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam
Vinamilk, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: " Nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm sữa tươi của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk "
2. Đối tượng nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa tươi tại Công ty cổ phần Sữa
Việt Nam Vinamilk.
1
3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk
- Về thời gian: Số liệu từ năm 2010 – 2012, giải pháp đến năm 2016
4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
- Đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa tươi tại Công ty cổ
phần Sữa Việt Nam Vinamilk .
- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa
tươi tại Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk.
5. Nguồn số liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn số liệu: Luận văn chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp từ các sách,
báo được công bố và các báo cáo của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu và
trường, và là đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào
phương pháp luận và quan điểm mà các nhà kinh tế đã định nghĩa cạnh tranh
như một phạm trù kinh tế rất khác nhau
Theo cuốn Mác- Ăng Ghen toàn tập thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua,
sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận
lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa tồn tại hai loại cạnh tranh là: cạnh tranh trong
nội bộ ngành và cạnh canh giữa các ngành, dù là loại cạnh tranh nào đi nữa thì
các nhà tư bản cũng luôn đấu tranh gay gắt để lựa chọn những điều kiện sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất. Các nhà tư bản tìm cách cải tiến kỹ
thuật, nâng cao năng lực sản xuất làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá sản xuất
ra nhỏ hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Theo cuốn Kinh tế học P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình định
giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”.
3
Vào nửa sau thế kỷ XX, các nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, P.
Samuelson chủ trương phát triển nền kinh tế dựa vào cơ chế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước. Thị trường là nơi mà người bán và người mua gặp gỡ
với nhau để xác định lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm trao đổi. Tuy nhiên
cơ chế thị trường cũng có khuyết tật vốn có của nó đòi hỏi phải có sự điều tiết
của nhà nước. Thị trường hoạt động luôn tuân theo quy luật cung cầu và quy
luật cạnh tranh. Cạnh tranh là một xu thế khách quan trong nền kinh tế thị
trường nên để tồn tại, các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm
chi phí, nâng cao giá trị sử dụng cho dịch vụ, tổ chức tốt các khâu tiêu thụ...
Theo từ điển Bách Khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh trong kinh
doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các
thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi
b. Căn cứ vào tính pháp lý của cạnh tranh
- Cạnh tranh hợp pháp: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bằng các
biện pháp được pháp luật thừa nhận
- Cạnh tranh bất hợp pháp: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bằng
các biện pháp không được pháp luật thừa nhận.
c. Căn cứ vào tính chất, mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế
- Cạnh tranh tự do: là cạnh tranh trong một thị trường hoàn toàn không
có sự điều tiết, can thiệp của Nhà nước và pháp luật
- Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước: là cạnh tranh được định
hướng, bảo vệ và giới hạn bởi các thể chế, chính sách và pháp luật
d. Căn cứ vào mục đích, phương thức cạnh tranh
- Cạnh tranh lành mạnh: là cạnh tranh bằng những hình thức trung
thực, dựa trên năng lực vốn có của doanh nghiệp
- Cạnh tranh không lành mạnh: là cạnh tranh bằng những thủ đoạn,
công cụ bất hợp pháp
e. Căn cứ vào hình thái cạnh tranh:
- Cạnh tranh hoàn hảo: là loại cạnh tranh tự do, theo đó có nhiều công
ty tham gia vào thị trường với sản phẩm tương tự nhau về phẩm chất, quy
cách, chủng loại, mẫu mã....
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là cạnh tranh mà theo đó việc độc quyền
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tập trung vào một hoặc một vài tập đoàn
thống trị.
5
f. Căn cứ cấp độ cạnh tranh:
- Cạnh tranh cấp quốc gia: Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng
thể của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu: “năng lực cạnh
tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm
thương mại quốc tế nói riêng, một trong số vai trò to lớn của cạnh tranh là làm
cho giá cả hàng hóa giảm xuống, chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng nâng
cao. Cạnh tranh nếu bị hạn chế sẽ lãng phí rất nhiều nguồn lực của nền kinh tế
thế giới, làm giảm tính năng động, sáng tạo và hiệu quả của mỗi con người
cũng như toàn xã hội. Cạnh tranh không phải là sự hủy diệt mà là sự thay thế:
thay thế người thiếu khả năng bằng người có đầu óc; thay thế sản phẩm mới
có chất lượng, giá cả, dịch vụ ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn; thay thế
doanh nghiệp lãng phí các nguồn lực xã hội bằng doanh nghiệp sử dụng có
hiệu quả hơn, thay thế đáp ứng nhu cầu xã hội không đầy đủ bằng sự đáp ứng
ngày một tốt hơn.
Đứng dưới góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà
nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có quyền lựa
chọn được nhiều sản phẩm với nhiều hình thức mẫu mã khác nhau từ nhiều
nhà cung cấp khác nhau ở các nước khác nhau với chất lượng tốt và giá rẻ. Vì
vậy, việc duy trì cạnh tranh là bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Cạnh tranh chính
là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu có hiệu quả và là động
lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đứng dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc
đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp
phần xóa bỏ những độc quyền, những bất bình đẳng trong kinh doanh. Cạnh
tranh thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã
hội ngày càng sâu sắc. Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo
khả năng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài.
Đứng dưới góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh vừa là động lực vừa là điều
kiện thuận lợi để họ tự khẳng định vị trí của mình trên thị trường, tự hoàn
thiện và phát triển vươn lên giành ưu thế với các đối thủ cạnh tranh khác.
Chính vì vậy, cạnh tranh là một cuộc chạy đua không có đích của các doanh
nghiệp để đưa ra các biện pháp kinh tế, tích cực, sáng tạo nhằm tồn tại và phát
triển trên thương trường nếu họ thích nghi được với các điều kiện của thị
sự khác biệt, thương hiệu, bao bì mẫu mã... hơn hẳn so với những hàng hóa
cùng loại, tạo ra sự hấp dẫn và thu hút được khách hàng.
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có thể hiểu là sự
vượt trội so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường về chất lượng
và giá cả với điều kiện các sản phẩm, dịch vụ tham gia cạnh tranh đều đáp ứng
được các yêu cầu của người tiêu dùng, mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên
một đơn vị giá cả làm cho sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn.
8
1.2.2 Các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.2.2.1. Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được đo lường qua một số chỉ tiêu
như quy mô huy động vốn, cơ cấu nguồn vốn (tỷ lệ vốn chủ sở hữu), khả năng
thanh toán, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu….
Trong hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp, năng lực tài chính
là yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, công
nghệ... để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực tài chính là
yếu tố cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm, cái tiến mẫu mã, mở rộng
chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần và trực tiếp là nâng cao năng lực cạnh
tranh của sản phẩm.
1.2.2.2. Năng lực công nghệ và hạ tầng kỹ thuật
Công nghệ là yếu tố cơ bản, có tính chất quyết định đối với tăng năng
suất lao động của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh
sản phẩm/dịch vụ. Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển như vũ bão
hiện nay cách duy nhất để cạnh tranh một cách bền vững là doanh nghiệp phải
đầu tư trang bị những thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại, những phương
pháp sản xuất tiên tiến để tăng năng suất, giảm chi phí đến mức tối thiểu, thu
lợi nhuận cao. Công nghệ càng hiện đại, năng suất càng cao, thì chất lượng sản
lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fisher & dornhusch, 1995). Nguồn nhân
lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của
một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào
đó.
Đánh giá năng lực nhân sự trong doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các chỉ
tiêu cơ bản là: Cơ cấu và số lượng lao động; Chất lượng lao động
- Số lượng lao động: phản ánh quy mô của lực lượng lao động. Quy mô
lao động ảnh hưởng lớn tới chi phí, tới hiệu quả của việc kết hợp lao động với
các yếu tố đầu vào khác, tới năng lực sáng tạo của doanh nghiệp.
- Cơ cấu lao động: bao gồm cơ cấu về độ tuổi; giới tính; cơ cấu giữa
lao động quản lý và lao động trực tiếp…Doanh nghiệp xây dựng được cơ cấu
nhân sự hợp lý, tạo sự uyển chuyển trong hoạt động góp phần nâng cao năng
suất lao động giảm chi phí và do vậy sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh.
- Chất lượng lao động: được đánh giá qua các chỉ tiêu về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của người lao động; kỹ năng; thái độ lao động, tính
sáng tạo trong lao động sản xuất…. Các doanh nghiệp muốn sản xuất được sản
phẩm với chất lượng, giá cả tốt, số lượng lớn thì cần phải có một đội ngũ lao
10
động có chất lượng. Chất lượng ở đây thể hiện ở nhiều mặt: về chuyên môn
nghiệp vụ đó là phải nắm vững, kiến thức chuyên môn sâu, am hiểu các
nghiệp vụ; về tác phong phải nhanh nhẹn, năng động, chuyên nghiệp, có đạo
đức nghề nghiệp, có động cơ phấn đấu gắn bó với doanh nghiệp. Doanh
nghiệp nào có chất lượng nhân sự tốt sẽ có năng lực cạnh tranh trên thị trường
tốt hơn.
1.2.2.4. Năng lực xúc tiến
Hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp nhằm mục đích quảng bá, truyền
thông về sản phẩm đến đông đảo khách hàng, trong điều kiện kinh tế khó
hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm ngay lập tức hoặc mua nhiều hơn.
Các công cụ xúc tiến bán mà các doanh nghiệp hay sử dụng đó là tặng kèm đồ
chơi thông minh cho trẻ em, cào trúng thưởng vé du lịch, tặng kèm thêm sản
phẩm...
- Quan hệ công chúng: Quan hệ công chúng là truyền thông phi cá nhân
cho một doanh nghiệp, những sản phẩm của doanh nghiệp mà không phải trả
tiền một cách trực tiếp hoặc ẩn dưới dạng hoạt động tài trợ. Doanh nghiệp có
thể truyền thông tới khách hàng thông qua một bài báo có ý kiến cá nhân của
người viết về sản phẩm của doanh nghiệp (chất lượng, tiện ích, an ninh...).
1.2.2.5. Năng lực quản trị
Năng lực quản trị của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu thông qua
chiến lược và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, phương pháp lãnh đạo, hệ
thống kiểm soát của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Có khả năng xây dựng chiến lược phù hợp cho doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài cần phải xây dựng cho mình
định hướng chiến lược kinh doanh hợp lý thì doanh nghiệp đó sẽ giành được
lợi thế cạnh tranh tốt hơn so với các đối thủ khác;
- Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên
và biến thành sức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức doanh nghiệp đó sẽ tận
dụng được những lợi thế tiềm ẩn của tổ chức mình. Đây là một đòi hỏi đối với
các nhà quản trị cấp cao. Không thể nói doanh nghiệp có được một cấu trúc tốt
nếu không có một sự nhất quán trong cách nhìn nhận về cơ cấu doanh nghiệp.
Một cơ cấu tốt đồng nghĩa với việc có được một cơ cấu phòng ban hợp lý,
quyền hạn và trách nhiệm được xác định rõ ràng. Bên cạnh đó ở mỗi phòng
ban việc thực hiện tốt nề nếp tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn tới phương thức
12
thông qua quyết định của nhà quản trị, quan điểm của họ đối với các chiến
13
Chính trị ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, ngược
lại chính trị không ổn định sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế. Bên
cạnh đó, doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế được điều chỉnh bởi hệ
thống luật pháp, những quy định có thể là cơ hội vàng và cũng có thể là những
khó khăn cho doanh nghiệp, hệ thống luật pháp đầy đủ minh bạch sẽ tạo ra
một môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm nền tảng cơ sở hình thành một môi
trườn kinh doanh hấp dẫn.
Như vậy, hệ thống pháp luật và chính sách là cơ sở pháp lý để các
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Nó tạo ra khuôn
khổ hoạt động cho doanh nghiệp, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
bình đẳng, vì vậy tính ổn định và chặt chẽ của nó tác động rất lớn đến khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Môi trường pháp lỹ sẽ tạo ra những thuận
lợi cho một số doanh nghiệp này nhưng tạo ra những bất lợi cho doanh nghiệp
khác. Việc nắm bắt kịp thời những thay đổi của các chính sách để có những
điều chỉnh nhằm thích nghi với điều kiện mới là một yếu tố để doanh nghiệp
thành công.
- Sự biến động kinh tế: Môi trường kinh tế đóng vai trò quan trọng
trong sự vận động và phát triển của thị trường, có sức mua mới có thị trường,
tổng sức mua phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, tùy
thuộc vào sự phát triển kinh tế của các lĩnh vực khác nhau, tình hình lạm phát,
tiết kiệm, sự thay đổi kết cấu tiêu dùng cũng như sự thay đổi kết cấu sức mua,
cơ cấu tiêu dùng do đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động Marketing của
công ty. Các yếu tố kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng hay sự suy thoái kinh
tế chung, tỷ lệ lạm phát kinh tế, giá cả, công ăn việc làm, cơ cấu thu nhập và
mức tăng trưởng thu nhập, sự thay đổi cơ cấu chi tiêu trong dân cư, cơ sở hạ
tầng kinh tế mà trực tiếp là hệ thống giao thông, bưu chính và các ngành dịch
vụ khác. Việc tìm hiểu môi trường kinh tế giúp công ty qua đó có thể tìm hiểu
các chiến lược marketing . Là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình
sản xuất nên đây là yếu tố quan trọng quyết định việc sản xuất của doanh
nghệp có hiệu quả hay không. Sự phát triển của khoa học công nghệ có thể tạo
ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mới nhưng cũng có thể làm cho nhiều doanh
nghiệp khó khăn, đi đến phá sản. Khoa học công nghệ hiện đại sẽ làm cho chi
phí cá biệt của các doanh nghiệp giảm, chất lượng sản phẩm chứa hàm lượng
khoa học công nghệ cao. Doanh nghiệp phải luôn chủ động trong việc ứng
dụng các thành tựu khoa học tiên tiến vào sản xuất để tạo ra những sản phẩm
chất lượng cao mà giá cả hợp lý.
15
Đối với việc tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học và áp dụng những
tiến bộ khoa học công nghệ, đó là những cơ sở hữu ích để tìm ra cách thức chế
biến sữa phù hợp với khẩu vị tiêu dùng khác nhau. Đây cũng là một trong số
những thách thức tìm hiểu thị trường nhanh hơn thông qua các kênh tư vấn về
chính sách khoa học công nghệ.
- Môi trường văn hóa xã hội: Môi trường văn hóa chính là tâm lý, thói
quen, tập tục và sở thích sử dụng các sản phẩm mà mình cảm thấy yên tâm tin
tưởng về uy tín chất lượng.
Sự tiếp cận các nguồn thông tin trở nên dễ dàng, qua loa đài, báo chí ti vi,
tranh ảnh, băng rôn...khiến con người càng cảm thấy có nhu cầu ngày càng cao
đối với việc chăm sóc và thỏa mãn các nhu cầu về thể chất.
Một điều thú vị nữa cũng không kém phần quan trọng trong quan điểm
của người Á Đông việc tôn vinh hình ảnh quốc gia thông qua thương hiệu mạnh
trước các dòng sản phẩm của nước ngoài (dù có chính sách hỗ trợ của nhà nước)
cùng có một ý nghĩa đối với người tiêu dùng.
1.2.3.2. Các yếu tố thuộc môi trường vi mô
Theo Micheal Porter, trên quy mô ngành công nghiệp, có 5 yếu tố ảnh
cách tối đa với chi phí hợp lý nhất. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh gay
gắt, khách hàng có nhiều sự lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nên luôn gây
những áp lực đối với doanh nghiệp. Tìm hiểu áp lực từ phía khách hàng cũng
chính là trả lời câu hỏi khách hàng muốn gì, họ yêu cầu đòi hỏi gì từ doanh
nghiệp cung cấp khi họ mua dịch vụ.
- Nhà cung cấp: Để sản xuất sản phẩm cần rất nhiều nguyên liệu đầu
vào. Để đảm bảo ổn định nguồn cung cấp sản phẩm đầu vào với giá cả cạnh
tranh, doanh nghiệp cần duy trì mối quan hệ với nhiều nhà cung cấp. Việc duy
17
trì với nhiều đầu mối cung cấp sản phẩm đầu vào vừa giúp doanh nghiệp cạnh
tranh về giá, vừa giúp ổn định về chất lượng, cung cấp sản phẩm ra thị trường.
Nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực
cạnh tranh sản phẩm. Nếu nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào đảm bảo
chất lượng và giá cả hợp lý sẽ giúp sản phẩm có chất lượng đảm bảo và giá
thành cạnh tranh. Ngược lại, nếu chất lượng, giá cả không đảm bảo sẽ ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hơn nữa, nếu nguồn cung
cấp nguyên liệu đầu vào không đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến uy tín, kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế là sản
phẩm của các đối thủ cạnh tranh, có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thay
cho những sản phẩm mà doanh nghiệp đang cung cấp. Sản phẩm thay thế rất
phức tạp, đa dạng và phong phú, hấp dẫn, nhiều tiện ích phù hợp với thị hiếu
của khách hàng, cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm cũ ở nhiều khía cạnh, tạo
ra nguy cơ cho doanh nghiệp. Đây chính là thách thức lớn của doanh nghiệp.
Tóm lại, những nhân tố trên là tất cả những vấn đề hiện hữu trong nền
kinh tế thị trường thời kỳ toàn cầu hóa, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của sản phẩm dịch vụ mà các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.