i
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Th.S ĐẶNG HOÀNG XUÂN HUY ii
LỜI CẢM ƠN
Sau gần hơn 3 tháng thực hiện đề tài tốt nghiệp với sự cố gắng của mình cùng
sự giúp đỡ nhiệt tình của quí thầy cô và mọi người xung quanh. Cuối cùng em đã
hoàn thành xong đề tài thực tập của mình.
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 5
1.1.2. Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh 7
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân 8
1.1.2.2. Đối với doanh nghiệp 8
1.1.2.3. Đối với ngành 9
1.1.2.4. Đối với sản phẩm 9
1.1.3. Các hình thức cạnh tranh 10
1.1.3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh 10
1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh 10
1.1.3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế 12
1.1.4. Các công cụ cạnh tranh. 12
1.1.4.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm. 13
1.1.4.2. Cạnh tranh bằng giá cả. 14
1.1.4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối. 15
1.1.4.4. Cạnh tranh bằng chính sách Maketing 16
1.2. KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 16
1.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh. 17
1.2.2. Khái niệm về khả năng cạnh tranh 20
1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh 23
1.2.3.1 Các nhân tố chủ quan 23
1.2.3.2. Các nhân tố khách quan 26
iv
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh 29
1.2.4.1. Thị phần 29
1.2.4.2. Năng suất lao động 30
1.2.4.3. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 30
1.2.4.3 . Uy tín của doanh nghiệp 31
1.2.4.4. Năng lực quản trị 32
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM CÀ
2.3.3. So sánh với các đối thủ cạnh tranh của công ty thông qua các chỉ tiêu đánh
giá khả năng cạnh tranh. 72
2.3.3.1. Thị phần 72
2.3.3.2 Năng suất lao động 75
2.3.3.3.Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 77
2.3.3.4. Uy tín của công ty 79
2.3.3.5 Năng lực quản trị 79
2.4.Những đánh giá chung về thực trạng cạnh tranh của công ty cổ phần cà phê Mê
Trang 81
2.4.1. Những mặt đạt được 81
2.4.2. Những tồn tại 82
2.4.3. Nguyên nhân 84
2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan 84
2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 85
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
SẢN PHẨM CÀ PHÊ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÀ PHÊ MÊ TRANG 86
3.1. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 86
3.1.1 Sự cần thiết của biện pháp 86
3.1.2. Nội dung biện pháp 86
3.1.3. Hiệu quả mang lại của biện pháp 87
3.2. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 88
3.2.1. Sự cần thiết của biện pháp 88
3.2.2. Nội dung của biện pháp 88
vi
3.2.3. Hiệu quả của biện pháp 89
3.3. NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG MARKETING 90
3.3.1. Sự cần thiết biện pháp 90
3.3.2. Nội dung biện pháp 90
3.3.3. Hiệu quả biện pháp 91
Bảng 2.10. Năng suất lao động bình quân của công ty so với các đối thủ 76
Bảng 2.11. Chênh lệch Năng suất lao động bình quân của công ty so với đối thủ 76
Bảng 2.12: Tình hình lợi nhuận của công ty và các công ty khác 77
Bảng 2.13: Tương quan tỷ suất lợi nhuận của Công ty và các đối thủ 78
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty: 38
Sơ đồ 2 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất 42
Hình 2.1 :Hệ thống kênh phân phối toàn quốc của Công ty cổ phần cà phê Mê Trang 53
Biểu đồ 1: Thị phần thị trường ngành cà phê Việt Nam năm 2009 75
viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPSS – MC : Cà phê siêu sạch – Me Trang coffee.
DN : Doanh nghiệp.
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân.
DT : Doanh thu.
DTBH và CCDV : Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
GVHB : Gía vốn hàng bán.
HĐKD : Hoạt động kinh doanh.
KCS : Bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm.
NSLĐ bq : Năng suất lao động bình quân
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn.
TSCĐ và ĐTNH : Tài sản cố định và đầu tư ngắn hạn.
số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê của công ty cổ phần cà phê
Mê Trang” làm khóa luận tốt nghiệp. Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Th.s
Đặng Hoàng Xuân Huy và các Anh/Chị phía công ty em đã hoàn thành xong đề tài tốt
nghiệp. Vì kiến thức và thời gian còn hạn chế nên đề tài của em vẫn còn nhiều sai xót,
mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô và các anh chị trong công ty để đề tài
được hoàn thiện hơn. Trong đề tài này em đi sâu vào tìm hiểu và phân tích thực trạng
2
cạnh tranh sản phẩm công ty bằng việc đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm cà phê
thông qua các công cụ, chỉ tiêu trên cở sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao
khả năng cạnh tranh sản phẩm của Công ty.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh rất quan trọng, nhưng
theo sự hiểu biết của tác giả thì Công ty cổ phần cà phê Mê Trang hiện chưa có một báo
cáo hay đề tài tập trung vào vấn đề này, trên thực tế chỉ có những kế hoạch, những đề xuất
riêng lẻ. Trong luận văn này, ngoài việc kế thừa có chọn lọc những kết quả, những đề
xuất đã có, luận văn bổ sung thêm về lý luận, những kiến nghị mới, phù hợp với tình hình
thực tiễn và xu hướng phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh nhằm định hướng
nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh sản phẩm cà phê của công ty cổ
phần cà phê Mê Trang.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm cà
phê thông qua các công cụ, chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh, đồng thời so
sánh với các đối thủ hiện tại trên thị trường.
- Trên cơ sở phân tích,đánh giá, so sánh khả năng cạnh tranh của sản phẩm dưa
ra một số biện pháp góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh doanh
sản phẩm cà phê của công ty.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Mê Trang.
4
- Các phân tích và biện pháp đưa ra có tính khả thi, có thể áp dụng ngay vào tại
công ty làm tham khảo cho các vấn đề nghiên cứu nâng cao hơn, hoặc vận dụng trực tiếp
và thực tế kinh doanh sản phẩm tại công ty.
Hạn chế đề tài.
Do hạn thời gian thực tập ngắn, phạm vi, đối tượng nghiên cứu hẹp, kiến thức và
kinh nghiệm thực tế của bản thân còn hạn chế nên một số vấn đề trong đề tài chưa được
phân tích sâu, rất mong sự góp ý của quý thầy cô cùng các Anh/Chị và câc bạn để đề tài
hoàn thiện hơn.
Bố cục đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo,luận văn bao gồm: 3
chương như sau:
Chương I: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chương II: Thực trạng và khả năng cạnh tranh sản phẩm cà phê tại công ty cổ
phần cà phê Mê Trang.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm cà phê
tại công ty cổ phần cà phê Mê Trang.
lợi thế và con người cạnh tranh nhau để vươn lên khẳng định những vị trí của mình cả về
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để những người dưới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có
uy tín và vị thế trong quan hệ với các đối tác. Như vậy, có thể cạnh tranh đã hình thành và
bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đếm vĩ mô, từ một cá nhân đến
tổng thể toàn xã hội. Điều này xuất phát từ một lẽ đương nhiên nước ta đã và đang bước
vào giai đoạn phát triển cao về lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, mà bên cạnh đó cạnh
tranh vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự do là nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh,
cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển. Bởi vậy để
giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh
nghiệp phải thường xuyên động não, tích cực nhạy bén và nằn động, thường xuyên cải
tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạ
tầng, mua sắm them thiết bị máy móc hiện đại, loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ và lạc
hậu và điều quan trọng phải có phương pháp tổ chức, quản lý có hiệu quả người lao động.
Thực tế cho thấy, ở đâu thiếu sự cạnh tranh thường ở đó biểu hiện sự trì trệ và yếu kém sẽ
dẫn doanh ngiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi quy luật vận động của nền kinh tế thị
trường. Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hành hóa các doanh nghiệp
cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Do đó, cạnh
tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến
mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm
cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn. Cạnh
tranh là một điều kiện đồng thời là một yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát triển.
Bên cạnh những mặt tích cực cạnh tranh để lại nhiều hạn chế và tiêu cực đó là sự phân
hóa sản xuất hàng hóa, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanh gặp nhiều khó khăn
do vốn thiếu, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ thấp và có thể làm cho doanh
nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp phải những rủi ro khách quan mang lại như thiên
tai, hỏa hoạn… hoặc rơi vào những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi.
7
cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại những mặt
hạn chế, không lành mạnh như tạo sự phân hoá giàu nghèo, lối làm ăn vi phạm pháp
luật như trốn thuế, lậu thuế, lậu hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà
nước và pháp luật nghiêm cấm.
1.1.2.2. Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh
doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững. Để tồn tại
và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài
mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Họ cạnh tranh để giành những lợi thế
về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản
phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu người tiêu dùng
nhất. Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và
đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp
đó mới có khả năng tồn tại và phát triển. Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần
thiết.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác maketing bắt đầu từ
việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản
xuất cho ai? Nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp xác định được nhu cầu thị trường
và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất những gì mà doanh
nghiệp có. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng
cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn. Muốn vậy các doanh nghiệp phải áp dụng
9
những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công
tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, cử các cán bộ đi học để nâng
cao trình độ chuyên môn. Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho doanh nghiệp một vị trí xứng
đáng trên thị trường tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện
mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh
tế.
1.1.2.3. Đối với ngành
muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người mua muốn mua với giá
thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả
thuận giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy
luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc này hàng hóa trên
thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ
sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn
giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu
được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt cả về giá cả và chất lượng,
nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi
khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay go
và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất
nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố có vai trò quan
trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp
phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế và lợi thế cho mình.
1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh
Theo tiêu thức này cạnh tranh được chia thành bốn loại:
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn giản của
cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn để tác động
đên giá cả thị trường. Nhóm người mua tham gia trên thị trường này chỉ có cách thích
ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả do thị
trường quyết định.
11
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến
trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả
của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại các dịch vụ trong và sau khi
bán hàng. Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không
đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem
cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp
để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí
cá biệt của hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả là trình độ sản xuất
ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn
có thể bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau
nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh
các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác. Như vậy giữa các ngành kinh tế do
điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác khác nhau như môi trường kinh doanh, thu
nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu
tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác. Điều đó
dẫn đến tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi
nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành. Kết quả
là những ngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản
xuất tăng. Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hoá có xu hướng giảm xuống,
làm giảm tỷ suất lợi nhuận. Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp
khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản
xuất của ngành này giảm, dẫn đến cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hoá tăng và
làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
1.1.4. Các công cụ cạnh tranh.
Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố, các kế
hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm
vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thoả mãn mọi nhu cầu
của khách hàng. Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu được lợi nhuận cao. Nghiên
cứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh
tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh
13
nghiệp. Từ đó phát huy được hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh
14
nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh.
Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở
chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng
hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm. Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm
tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết
mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó.
1.1.4.2. Cạnh tranh bằng giá cả.
Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một
số hàng hoá dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao
phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu
ảnh hưởng của quy luật cung cầu. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế” họ có quyền lựa chọn
những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương
nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản
phẩm là tối ưu nhất. Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục
vụ mục đích kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm
lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả. Giá cả đã thể hiện như một
vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị
trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường.
Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệp đánh giá
được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng sản
phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và
lợi sẽ thu được nhiều hơn.
Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được áp dụng khi
cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn và lời nhanh.
Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giá thấp. Họ chấp
nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau này chiếm được cả thị trường
rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng. Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu
Người tiêu dùng.
16
+ Kênh rút gọn: Người sản xuất=>Đại lý=> Người bán lẻ=> Người tiêu dùng.
Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo nhu cầu của
người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà sử dụng
các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả bởi nhiều khi kênh
phân phối có tác dụng như những người môi giới nhưng đôi khi nó lại mang lại những
trở ngại rườm rà.
1.1.4.4. Cạnh tranh bằng chính sách Maketing
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách maketing đóng
một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có xu hướng
tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập thông tin thông qua sự phân tích và đánh giá
doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất những gì? kinh doanh những gì mà khách
hàng cần, khách hàng có nhu cầu. Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh
nghiệp thường sử dụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình thức
quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng. Kết thúc quá trình bán hàng, để
tạo được uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động
dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán.
Như vậy chính sách maketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụng phụ để hỗ trợ các chính
sách khác. Do vậy chính sách maketing không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động
của doanh nghiệp.
1.2. KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế những doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng các doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế
đất nước phát triển. Tuy nhiên để cạnh tranh được và cạnh tranh một cách lành mạnh
không phải là dễ bởi nó phụ thuộc vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của