Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––––
NGÔ THANH TÙNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
XÂY DỰNG THỦY LỢI 1 Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Thị Tâm
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận
đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và
cá nhân.
Trƣớc hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS Nguyễn Thị Tâm,
ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực
hiện nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo khoa sau đại học
- trƣờng Đại học Kinh tế và QTKD - Đại học Thái nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn
thành quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang
công tác tại Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi 1, đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong quá trình nghiên
cứu thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi
hoàn thành chƣơng trình học tập và thực hiện Luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Ngô Thanh Tùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
nghiệp xây dựng 34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 36
2.1.1. Thực trạng về năng lực đấu thầu của Công ty CP Xây dựng thủy
lợi 1 nhƣ thế nào 36
2.1.2. Những vấn đề tồn tại trong việc nâng cao năng lực đấu thầu của
Công ty CPXD thủy lợi I 36
2.1.3. Giải pháp nào để nâng cao năng lực đấu thầu cho Công ty CPXD
thủy lợi I 36
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 36
2.2.1. Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu 36
2.2.2. Phƣơng pháp thu thập thông tin 37
2.2.3. Phƣơng pháp xử lý tài liệu 38
2.2.4. Phƣơng pháp phân tích thông tin 38
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG
ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
XÂY DỰNG THỦY LỢI 1 40
3.1. Tổng quan về công ty cổ phần xây dựng thủy lợi 1 40
3.1.1. Thông tin chung về doanh nghiệp 40
3.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 40
3.1.3. Nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động, cơ cấu tổ chức của Công ty 41
3.2. Thực trạng cạnh tranh đấu thầu xây dựng của công ty cổ phần xây
dựng thủy lợi 1 45
3.2.1. Kết quả cạnh tranh đấu thầu của Công ty cổ phần Xây dựng Thủy
lợi 1 trong những năm gần đây 45
3.2.2. Thực trạng cạnh tranh đấu thầu và hoàn thành các gói thầu 49
4.3.3. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bộ máy cơ quan quản lý đấu thầu
xây dựng 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Các ký hiệu và chữ viết tắt
Nghĩa các ký hiệu và chữ viết tắt
WTO
Tổ chức thƣơng mại thế giới
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
CP
Cổ phần
CPXD
Cổ phần xây dựng
XD
Xây dựng
XDCB
Xây dựng cơ bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
sự cạnh tranh hết sức gay gắt không những giữa các doanh nghiệp trong nƣớc
với nhau mà còn với các doanh nghiệp nƣớc ngoài. Sự thay đổi cơ chế đã làm
cho không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, lúng túng trong sản xuất và kinh
doanh. Tuy nhiên, có không ít doanh nghiệp đã tìm đƣợc những hƣớng đi
đúng đắn, kịp thời đề ra những giải pháp thích hợp nhằm tháo gỡ khó khăn,
tạo lập và phát huy thế mạnh của mình. Nhờ đó đã đạt đƣợc hiệu quả kinh
doanh cao, đứng vững và không ngừng phát triển.
Xây dựng cơ bản là một lĩnh vực công nghiệp đặc thù. Khác với các
lĩnh vực khác, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng diễn ra chủ yếu
thông qua hình thức đấu thầu do các chủ đầu tƣ tổ chức. Trên thế giới hình
thức đấu thầu xây dựng đã đƣợc áp dụng từ lâu. Ở nƣớc ta, hình thức đấu thầu
đã đƣơc áp dụng trong hơn 10 năm gần đây, đặc biệt là những công trình có
chủ đầu tƣ là các tổ chức hoặc doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nƣớc. Năm
1991 quy chế đấu thầu xây lắp đầu tiên đƣợc ban hành dƣới hình thức văn bản
là quyết định số 24/BXD -VKT của Bộ trƣởng Bộ Xây dựng đến năm 2005
Nhà nƣớc ban hành luật đấu thầu số 61/2005/QH11.
Mặt khác, trong những năm gần đây, đã xuất hiện nhiều dự án xây
dựng có qui mô lớn, sử dựng vốn ngân sách hoặc vốn vay của các tổ chức tín
dụng trong và ngoài nƣớc đòi hỏi phải tổ chức đấu thầu xây dựng trên cơ sở
cạnh tranh. Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là quá trình đƣợc bắt đầu từ
việc tìm kiếm thu thập thông tin, đƣa ra các giải pháp tham gia đấu thầu, ký
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
kết, thực hiện hợp đồng cho tới khi hoàn thành dự án, bàn giao, đƣa vào sử
dụng và bảo hành công trình theo đúng yêu cầu của Chủ đầu tƣ. Theo đó bất
kì một doanh nghiệp nào tham gia vào lĩnh vực xây dựng nếu không tiếp cận
kịp với guồng quay của nó thì tất yếu sẽ bị đánh bật ra khỏi thị trƣờng xây
dựng. Chính vì vậy, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây
* Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa lý luận về: năng lực cạnh tranh nói chung và
thực tiễn cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng nói riêng
- Đánh giá về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tìm ra những
nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của công ty.
- Đƣa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh, các chỉ tiêu
phản ánh năng lực cạnh tranh và các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh
trong đấu thầu xây dựng của công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi 1.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Nâng cao khả năng cạnh tranh tại Công ty cổ
phần Xây dựng Thủy lợi 1 và một số doanh nghiệp xây dựng khác.
- Về mặt thời gian: luận văn khảo sát hoạt động kinh doanh và đánh giá
tình hình cạnh tranh của công ty Cổ phần Xây dựng thủy lợi 1 trong khoảng
thời gian từ năm 2009 đến 2011 và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của Công ty trong thời gian tới.
- Về mặt nội dung: nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây
dựng của công ty Cổ phần Xây dựng thủy lợi 1.
4. Đóng góp của luận văn
-Đóng góp về lý luận khoa học : Hệ thống hóa lý luận về cạnh tranh nói
chung và cạnh tranh đấu thầu xây dựng nói riêng, luận văn làm rõ nhận thức về
tính cần thiết của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng, luận văn phân tích thực
trạng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng thủy
lợi 1, chỉ ra những ƣu điểm, lợi thế, những tồn tại, hạn chế và những vấn đề đang
đặt ra hiện nay đối với Công ty qua việc tạo lập, phát huy lợi thế, nâng cao năng
lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng;
- Đóng góp thực tế cho công ty: Đề xuất một số phƣơng hƣớng, giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng, qua đó,
trƣờng, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ đƣợc nhiều sản phẩm
hàng hoá để đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất. Câu nói cửa miệng của nhiều ngƣời
hiện nay "thƣơng trƣờng nhƣ chiến trƣờng", phản ánh phần nào tính chất gay
gắt khốc liệt đó của thị trƣờng cạnh tranh tự do.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng,
nó đƣợc coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi
doanh nghiệp mà của nền kinh tế nói chung.
Sự cạnh tranh buộc ngƣời sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt
tốt hơn nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thƣờng xuyên
cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất
vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý
sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu
cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thƣờng trì trệ và kém phát triển.
Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho ngƣời tiêu dùng. Ngƣời
sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lƣợng hơn, đẹp hơn,
có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao
hơn để đáp ứng với thị hiếu của ngƣời tiêu dùng.
Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống thị trƣờng tự do vì càng nhiều doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng
sẽ càng có chất lƣợng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách
hàng giá trị tối ƣu nhất đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ.
Cạnh tranh đƣơc coi nhƣ là linh hồn của nền kinh tế. Cạnh tranh là môi
trƣờng, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, xóa bỏ
những độc quyền, bất bình đẳng trong kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm,
thúc đẩy khoa học công nghệ, chuyên môn hóa trong phân công lao động xã
hội… Cạnh tranh tạo cho nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho
Song so với các ngành sản xuất khác. Ngành xây dựng cơ bản có những
đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng, đƣợc thể hiện rất rõ ở sản xuất xây lắp và quá
trình tạo ra sản phẩm của ngành. Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến
trúc, có đủ điều kiện đƣa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Sản phẩm xây lắp
mang đặc điểm là quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời
gian xây dựng lắp đặt dài. Đặc điểm này làm cho việc tổ chức quản lý và sử
dụng vốn, quản lý nguồn nhân lực rất phức tạp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Quá trình từ khi khởi công công trình cho đến khi công trình hoàn
thành bàn giao đƣa vào sử dụng thƣờng là dài, nó phụ thuộc vào quy mô, tính
chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công đƣợc chia
làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công việc khác nhau.
Các công việc chủ yếu thực hiện ở ngoài trời nên nó chịu ảnh hƣởng lớn của
điều kiện thiên nhiên, thời tiết làm ảnh hƣởng lớn dến tiến độ thi công công
trình vì vậy quá trình tập hợp chi phí kéo dài, phát sinh nhiều chi phí ngoài dự
toán, chi phí không ổn định và phụ thuộc nhiều vào từng giai đoạn thi công.
Do vậy trình độ, năng lực quản lý đối với các doanh nghiệp xây dựng rất
phức tạp và gặp nhiều khó khăn.
Sản phẩm xây lắp rất đa dạng nhƣng lại mang tính chất đơn chiếc. Mỗi
công trình đƣợc tiến hành thi công theo đơn đặt hàng cụ thể, phụ thuộc vào
yêu cầu của khách hàng và theo thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi thực
hiện các đơn vị xây lắp phải bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật,
đảm bảo chất lƣợng công trình.
Sản phẩm xây lắp dƣợc đƣợc tiêu thụ theo giá trị dự toán hoặc giá thoả
thuận với chủ đầu tƣ từ khi ký kết hợp đồng, do đó tính chất hàng hoá của sản
phẩm xây lắp thể hiện không rõ. Nếu có năng lực tốt thì doanh nghiệp có thể
giảm bớt chi phí và tăng lợi nhuận.
tƣ cách của mỗi nhà thầu đƣợc bộc lộ rõ. Do vậy, lợi thế hiện đang có phần
nghiêng về những nhà thầu đã thể hiện đƣợc tính thích ứng cao trong năm
2012 đầy khó khăn. Sự thích ứng này có đƣợc nhờ tính chuyên nghiệp của
nhà thầu, và năng lực cạnh tranh của nhà thầu.
1.1.3. Đặc điểm của đấu thầu xây dựng
Trong quá trình xây dựng cơ bản, để thực hiện các công việc Chủ đầu
tƣ có thể lựa chọn các phƣơng thức nhƣ tự làm, giao thầu, đấu thầu. Mỗi
phƣơng thức có những đặc trƣng và điều kiện ứng dụng riêng. Phƣơng thức
đấu thầu xây dựng đƣợc áp dụng phổ biến nhất trong nền kinh tế thị trƣờng
đối với hầu hết các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu có năng lực
thực hiện những công việc có liên quan tới quá trình tư vấn, xây dựng, mua
sắm thiết bị và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình xây dựng nhằm
đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, các yêu cầu kỹ thuật của dự án.
Đấu thầu xây dựng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia đấu thầu xây dựng. Đấu thầu xây dựng là
một trong những phƣơng thức cạnh tranh nhằm lựa chọn các nhà thầu thực
hiện những công việc nhƣ: tƣ vấn, khảo sát thiết kế, thi công xây lắp, mua
sắm trang thiết bị cho các công trình, hạng mục công trình xây dựng. Xét về
thực chất, đây là một hoạt động mua bán mang tính đặc thù, tính đặc thù ở
đây đƣợc thể hiện qua quá trình thực hiện của chủ thể tham gia. Thực chất
đây là hoạt động cạnh tranh xuất phát từ mối quan hệ cung - cầu, diễn ra giữa
hai chủ thể: cạnh tranh giữa bên mời thầu (chủ đầu tƣ) với các nhà thầu và
cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau. Các bên tham gia đấu thầu phải đảm
bảo tuân thủ qui định của pháp luật về điều kiện tham gia đấu thầu. Đối với
chủ đầu tƣ, phải là đơn vị có đủ năng lực về tài chính, có khả năng tổ chức
hiện để hoàn tất việc mua bán. Hoạt động này diễn ra giữa ngƣời mua (chủ dự
án) với ngƣời bán (nhà thầu) và giữa các nhà thầu với nhau nhằm bán đƣợc
sản phẩm của mình. Thông qua cạnh tranh đấu thầu sẽ hình thành giá thầu -
giá của hàng hóa đem ra bán đây cũng chính là giá dự toán của công trình.
Thứ ba, về phƣơng thức tổ chức đấu thầu, theo qui định của pháp luật
có ba phƣơng thức đấu thầu cơ bản mà chủ đầu tƣ dự án có thể lựa chọn tổ
chức đấu thầu, đó là: đấu thầu một túi hồ sơ, đấu thầu hai túi hồ sơ và đấu
thầu hai giai đoạn.
Đấu thầu một túi hồ sơ, là phƣơng thức mà nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu
trong một túi hồ sơ. Phƣơng thức này đƣợc áp dụng đối với đấu thầu mua sắm
và xây lắp.
Đấu thầu hai túi hồ sơ, là phƣơng thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ
thuật và đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm. Túi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
hồ sơ đề xuất kỹ thuật sẽ đƣợc chủ dự án xem xét trƣớc. Theo đó, những hồ
sơ sau khi đánh giá đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ đƣợc mở tiếp túi hồ
sơ đề xuất về giá để xem xét tiếp. Phƣơng thức này trong lĩnh vực xây dựng
thƣờng chỉ áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn tƣ vấn.
Phƣơng thức đấu thầu hai giai đoạn chỉ áp dụng cho các trƣờng hợp sau:
- Các gói thầu mua sắm và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồng trở lên;
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết
bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt
phức tạp.
- Dự án thực hiện theo hợp đồng chìa khóa trao tay;
Phƣơng thức đấu thầu hai giai đoạn đƣợc thực hiện theo qui trình sau:
- Giai đoạn 1: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ trình bày các đề
xuất về kỹ thuật và phƣơng án tài chính cho bên mời thầu. Bên mời thầu xem
thù, đó là: nguyên tắc công bằng, bí mật, công khai, có đủ năng lực và trình
độ, và đảm bảo cơ sở pháp lý.
Nguyên tắc công bằng thể hiện quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham
gia quan hệ đấu thầu. Theo đó, các nhà thầu phải đƣợc đảm bảo đối xử bình
đẳng trong việc tiếp nhận thông tin từ chủ đầu tƣ, bình đẳng trong việc trình
bày các giải pháp kinh tế - kỹ thuật của mình trƣớc chủ đầu tƣ, trong quá trình
thực hiện các thủ tục tham gia đấu thầu (nộp hồ sơ, tham gia mở thầu ).
Nguyên tắc bí mật đòi hỏi chủ đầu tƣ cũng nhƣ các nhà thầu phải
giữ bí mật về các thông số trong hồ sơ dự thầu của các nhà thầu nhƣ: mức
giá bỏ thầu, các giải pháp kỹ thuật của nhà thầu Mục đích của nguyên
tắc này là tạo ra tính khách quan và sự công bằng giữa các nhà thầu với
nhau, đồng thời, cũng là biện pháp bảo vệ nhằm tránh thiệt hại cho chủ
đầu tƣ trong trƣờng hợp các nhà thầu bỏ thầu thấp hơn giá dự kiến do có
sự rò rỉ thông tin.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Nguyên tắc công khai là một trong những yêu cầu bắt buộc trong đấu
thầu xây dựng (trừ những công trình đặc biệt, là bí mật quốc gia). Các công
trình xây dựng khi đem ra đấu thầu đều phải đảm bảo tính công khai các
thông tin cần thiết nhƣ: tính năng của công trình, điều kiện của các nhà thầu
tham gia đấu thầu, thời gian mở hồ sơ dự thầu Các thông tin này phải đƣợc
công khai trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng theo qui định của pháp
luật. Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tạo ra sự công bằng giữa các nhà thầu và thu
hút đƣợc nhiều nhà thầu, nâng cao chất lƣợng công tác đấu thầu.
Nguyên tắc có đủ năng lực và trình độ đòi hỏi chủ đầu tƣ và các bên dự
thầu phải có năng lực thực sự về kỹ thuật và tài chính để thực hiện những điều
kiện cam kết khi tham gia đấu thầu. Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tránh đƣợc
thiệt hại cho các bên khi thực hiện các cam kết đã đề ra, qua đó, nâng cao chất
Lập tài liệu mời thầu
Điều chỉnh bổ sung tài liệu
mời thầu
Nhận và quản lý hồ sơ dự thầu,
bảo lãnh của các nhà thầu
Mua hồ sơ mời thầu
Chuẩn bị lập hồ sơ dự thầu,
khảo sát nghiên cứu chung
về dự án
Tƣ vấn (nếu cần)
Kiểm tra tài liệu, nộp hồ sơ
và bảo lãnh dự thầu cho chủ
đầu tƣ Mở thầu trong vòng 48h sau
khi đóng thầu
Đánh giá sơ bộ hồ sơ dự thầu
Đánh giá chi tiết hồ sơ dự
thầu trên các phƣơng diện,
điều kiện đƣợc chuẩn hóa
Mở thầu,
xem xét và
đánh giá
hồ sơ
Ký hợp
đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là sự cố
gắng giành đƣợc quyền thực hiện các dự án thông qua gọi thầu với điều
kiện thuận lợi và tối ƣu nhất trên cơ sở nguồn nội lực và ngoại lực có khả
năng khống chế đƣợc của doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích
kinh tế - xã hội. Cụ thể, cạnh tranh đấu thầu có thể đƣợc hiểu trên các
khía cạnh sau:
- Theo nghĩa hẹp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu
thầu là quá trình doanh nghiệp đƣa ra những giải pháp về kỹ thuật, trang thiết
bị, nhân lực, tiến độ thi công, giá bỏ thầu, ƣu thế về kinh nghiệm thể hiện
tính ƣu việt của mình so với nhà thầu khác nhằm thỏa mãn các yêu cầu của
bên mời thầu trong việc thực hiện dự án. Cách hiểu này chỉ giới hạn ở khâu
đấu thầu, chƣa chỉ ra đƣợc sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong suốt
quá trình sản xuất kinh doanh, do đó rất khó xác định đƣợc tính toàn diện của
cạnh tranh trong quá trình đấu thầu.
- Theo nghĩa rộng, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự ganh đua
quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm thông tin, đƣa ra
các giải pháp về kỹ thuật, ƣu thế về kinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án,
giá bỏ thầu nhằm đảm bảo trúng thầu và thực hiện các cam kết theo hợp
đồng ký kết với chủ đầu tƣ. Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng thƣờng đƣợc
hiểu theo nghĩa rộng, nó có một số đặc điểm sau:
ra nhƣ tính năng, thời gian sử dụng, mức độ an toàn, tính hiệu quả, mỹ thuật
công trình… Cạnh tranh thông qua chất lƣợn là côn cụ hữu hiệ trong đấu
thầu xây dựng. Đây là sự cạnh tranh không giới hạn. Vì vậy, việc nâng cao
chất lƣợng, hoàn thiện cải tiến sản phẩm là cơ sở của sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh. Phƣơng thức cạnh tranh này đòi
hỏi doanh nghiệp phải có năng lực thực sự về đội ngũ nhân lực, thiết bị công
nghệ, tài chính và phẩm chất kinh doanh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
* Cạnh tranh bằng giá dự thầu
Trong cạnh tranh,doanh nghiệp có trúng thầu hay không thông thƣờng
giá dự thầu có tác dụng quyết định. Bảng giá dự thầu hợ lý vừa làm cho
doanh nghiệp sinh lời, vừa tiết kiệmvốncho chủ đầu tƣ. Bảng giá dự thầu liên
quan đến rất nhiều yếu tố nhƣ trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật,
đội ngũ làm hồ sơ thầu…đồng thời nó cũng thể hiện tổng hợp các phẩm chất
của doanh nghiệp xây dựng nhƣ:
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp.
- Kỹ thuật thi công, khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến.
- Phẩm chất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để giá dự thầu của doanh nghiệp có ƣu thế cạnh tranh đòi hỏi phải có
chính sách về giá một cách linh hoạt dựa trên cơ sở: năng lực thực sự của
doanh nghiệp, mục tiêu tham gia đấu thầu, quy mô, đặc điểm của dự án, vị trí
thi công.
Thông thƣờng,các nhà thầu thƣờng căn cứ vào giá dự toán đƣợc lập ban
đầu để tiến hành xây dựng giá bỏ thầu. Giá bỏ thầu đƣợc phân làm các mức
khác nhau liên quan đến các mục tiêutƣơng ứng về lợi nhuận, công ăn việc
làm hoặc thâm nhập thị trƣờng mới.
Tóm lại, bảng giá dự thầu phải đƣợc xây dựng dựa trên nhiệm vụ công