TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á
KHOA Y
--------------*******-------------NGUYỄN THỊ THẢO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ
CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG
CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI MỘT TUỔI
TẠI QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
THS.BSCKII PHAN TÍN
Đà Nẵng, tháng 09 năm 2017
LỜI CẢM ƠN
Được sự tạo điều kiện của Khoa Điều dưỡng trường Đại học Đông Á và sự
đồng ý của giáo viên hướng dẫn ThS.BSCKII Phan Tín tôi đã thực hiện nghiên cứu
bài Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Khảo sát kiến thức và thái độ về Chương trình
tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ có con dưới một tuổi tại quận Sơn Trà thành phố
Đà Nẵng”.
Sau 4 năm nỗ lực học tập, giờ đây khi bài Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân
Điều dưỡng được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin trân trọng tri ân đến Ban
giám hiệu nhà trường và các thầy cô giáo khoa Điều dưỡng trường Đại học Đông Á
đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ
trợ tôi trong công việc thực hiện đề tài nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS.BSCKII Phan Tín, người
Thầy với đầy nhiệt huyết đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ y tế, những bà mẹ trên địa bàn
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
CT TCMR
UVSS
VGB
Chương trình Tiêm chủng mở rộng
Uốn ván sơ sinh
Viêm gan virus B
Tiếng Anh
BCG
Bacillus Calmette–Guérin
DTP
Diphtheria - Tetanus - Pertussis
Bạch hầu – Uốn ván – Ho gà
GAVI
The Global Alliance for Vaccines
Liên minh toàn cầu Vắc-xin và
United Nations Children's Fund
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1981 CT TCMR được triển khai thí điểm tại Việt Nam với sự hỗ trợ của
WHO và UNICEF đã trở thành 1 trong 6 chương trình sức khoẻ mục tiêu quốc gia
vào năm 1985. Từ một tỷ lệ rất thấp (5%) trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng vào
năm 1982, tỷ lệ bao phủ tăng nhanh trong vòng 11 năm đầu, đạt đến 90% vào năm
1990, chạm mốc 98% vào năm 2014[1] và tiếp tục được duy trì đến năm 2016[2].
Tại sao tỷ lệ này vẫn dậm chân tại chỗ, chưa đạt tỷ lệ cao nhất như mong đợi. Phải
chăng vấn đề này có liên quan đến hiểu biết của các bà mẹ về tiêm chủng? Nhận
thấy chưa có bài nghiên cứu nào về vấn đề này trên địa bàn quận Sơn Trà, d o đó
chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Khảo sát kiến thức và thái độ về Chương
trình Tiêm chủng mở rộng của bà mẹ có con dưới một tuổi tại quận Sơn Trà
thành phố Đà Nẵng” nhằm các mục tiêu sau:
1. Khảo sát kiến thức và thái độ về Chương trình Tiêm chủng mở rộng của bà mẹ có
con dưới một tuổi tại quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng từ tháng 09/2017 đến
tháng 05/2018.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về Chương trình Tiêm
chủng mở rộng của bà mẹ có con dưới một tuổi tại quận Sơn Trà thành phố Đà
Nẵng.
8
Chương 1
kháng và không mắc bệnh. Ông tiêm chủng cho đứa con trai 10 tháng tuổi của mình
thì kết quả cũng tương tự, đứa bé không bị bệnh đậu mùa. Từ đó, ông hoàn thành
công nghệ chế tạo thuốc tiêm chủng của mình, các công đoạn như sau:
-
Đầu tiên, lấy ít vi trùng bệnh đậu mùa trên một con bò mắc bệnh này.
-
Tiếp theo, làm cho số vi trùng này yếu đi
-
Chích các vi trùng này vào máu người (tiêm chủng đậu), những người được tiêm
chủng sẽ không mắc phải bệnh đậu mùa nữa vì máu của họ đã có một yếu tố kháng
bệnh.
Ông gọi phương pháp này là Vaccination. Đây chính là nguồn gốc của tiêm vắc-xin
ở người[3].
1.2. TÌNH HÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG TRÊN THẾ GIỚI
-
Năm 1967 – 1977, chiến dịch tiêm chủng phối hợp toàn cầu dưới sự lãnh đạo của
-
WHO đã xóa sổ hoàn toàn bệnh đậu mùa, được xác nhận vào năm 1979.
Năm 1974, WHO khởi xướng CT TCMR, xây dựng trên nền tảng thành công loại
bỏ bệnh đậu mùa, gồm 6 bệnh: Lao, bại liệt, bạch hầu - uốn ván - ho gà, sởi.Trong
Haemophilus influenzae loại b (Hib) gây viêm màng não và viêm phổi. Vắc-xin Hib
đã được giới thiệu ở 191 quốc gia vào cuối năm 2016. Tỷ lệ bao phủ toàn cầu với 3
liều vắc-xin Hib được ước tính là 70%. Có sự khác biệt lớn giữa các vùng. Trong
khu vực của WHO ở Châu Mỹ, mức độ bao phủ ước tính khoảng 90%, trong khi đó
chỉ có 28% ở khu vực Tây Thái Bình Dương của WHO. Khu vực Đông Nam Á của
-
WHO đã nâng mức bao phủ từ 56% vào năm 2015 lên 80% vào năm 2016.
Viêm gan siêu vi B là một bệnh nhiễm virus tấn công vào gan. Thuốc chủng ngừa
bệnh viêm gan siêu vi B cho trẻ sơ sinh đã được đưa vào sử dụng trên toàn quốc ở
186 quốc gia vào cuối năm 2016. Mức độ bao phủ toàn cầu với 3 liều vắc-xin VGB
ước tính là 84% và cao tới 92% ở Tây Thái Bình Dương. Ngoài ra, 101 quốc gia đã
giới thiệu một liều vắc-xin VGB cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu tiên của cuộc
-
đời, và mức độ bao phủ toàn cầu là 39%.
Sùi mào gà ở người là bệnh nhiễm virus phổ biến nhất ở đường sinh dục, có thể gây
ra ung thư cổ tử cung, các loại ung thư khác và mụn cơm sinh dục ở cả nam và nữ.
Thuốc chủng ngừa papillomavirus ở người đã được giới thiệu ở 74 quốc gia vào
-
cuối năm 2016.
Sởi là một bệnh truyền nhiễm rất mạnh do siêu vi khuẩn gây ra, thường gây sốt và
phát ban, và có thể dẫn đến mù lòa, viêm não hoặc tử vong. Vào cuối năm 2016,
85% trẻ em đã được tiêm một liều vắc-xin sởi vào ngày sinh nhật lần thứ hai, và
164 quốc gia đã đưa vào liều thứ hai trong chương trình chủng ngừa định kỳ và
nhận được ba liều vắc-xin bại liệt. Mục tiêu xóa bỏ toàn cầu, bại liệt đã được ngăn
chặn ở tất cả các nước ngoại trừ Afghanistan, Pakistan và Nigeria. Các quốc gia
thường xuyên có xung đột và mất ổn định - vẫn có nguy cơ cho đến khi bệnh bại liệt
-
hoàn toàn bị xóa sổ.
Rotavirus là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh tiêu chảy nghiêm trọng ở trẻ
em trên toàn thế giới. Vắc-xin Rotavirus đã được giới thiệu ở 90 quốc gia vào cuối
năm 2016, trong đó có sáu ở một số vùng của đất nước, và phạm vi bảo hiểm toàn
-
cầu được ước tính là 25%.
Rubella là một bệnh do virus thường thấy ở trẻ em. Nhiễm trùng trong giai đoạn đầu
mang thai có thể gây tử vong cho thai nhi hoặc hội chứng rubella bẩm sinh, có thể
dẫn đến các khuyết tật của não, tim, mắt và tai. Thuốc chủng ngừa rubella đã được
giới thiệu trên toàn quốc ở 152 nước vào cuối năm 2016, và tỷ lệ bao phủ toàn cầu
-
được ước tính là 47%.
Uốn ván là bệnh do vi khuẩn phát triển khi không có oxy gây nên, ví dụ vết thương
bẩn bị băng kín. Các bào tử của C.tetani có mặt trong môi trường không phân biệt
vị trí địa lý. Nó tạo ra một độc tố có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng hoặc tử
vong. Vắc-xin phòng bệnh uốn ván ở mẹ và trẻ sơ sinh đã được giới thiệu ở 106
nước vào cuối năm 2016. Khoảng 84% trẻ sơ sinh được bảo vệ thông qua tiêm
chủng. Uốn ván mẹ và sơ sinh vẫn tồn tại như các vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở 18
-
gia để đạt được các mục tiêu tiêm vắc xin khu vực và toàn cầu. Nó khuyến cáo nhân
rộng các nỗ lực vận động để nâng cao hiểu biết về giá trị của vắc-xin và sự khẩn cấp
của việc đạt được các mục tiêu GVAP. Ban Thư ký sẽ báo cáo lại Hội nghị Y tế vào
năm 2018, 2020 và 2022 về những thành tựu đạt được trong các mục tiêu và mục
tiêu GVAP[6].
1.3. TÌNH HÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG TẠI VIỆT NAM
Chương trình Tiêm chủng mở rộng bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ
1981 với sự hỗ trợ của WHO và UNICEF. Đến năm 1985 CT TCMR được đẩy
mạnh và triển khai trên cả nước. Từ 1986, CT TCMR được coi là một trong 6
chương trình y tế quốc gia ưu tiên.
Năm 1989, Việt Nam đã đạt mục tiêu tiêm chủng phổ cập 6 loại vắc-xin
phòng bệnh với tỷ lệ tiêm chủng toàn quốc là 87%. Từ 1993 đến nay tỷ lệ tiêm
chủng liên tục đạt trên 90%[7]. CT TCMR đã mang lại thành công lớn trong việc
giảm tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết ở trẻ em do 7 bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra. Chi phí
cho CT TCMR trong 15 năm (1996-2010) vào khoảng 154,5 triệu đô la Mỹ, bao
gồm 41,8 triệu cho vắc-xin phòng bệnh Bạch hầu – ho gà – uốn ván, 28,3 triệu cho
bệnh bại liệt, 8,6 triệu cho liều sởi đầu tiên, 5,41 triệu cho liều sởi thứ hai, 0,25 triệu
đô la cho các chiến dịch Bạch hầu – ho gà – uốn ván , 46,8 triệu cho các chiến dịch
tiêm chủng và 23,4 triệu cho các chiến dịch sởi. Kết quả thu được 2,3-5,7 triệu ca
bệnh và 10.000-26.000 ca tử vong được ước tính đã bị ngăn ngừa bởi CT TCMR
vào năm 1980-2010[8].
13
Các cột mốc quan trọng trong lịch sử của CT TCMR quốc gia bao gồm:
- Năm 1981: Bắt đầu CT TCMR quốc gia vào năm 1981.
- Năm 1991: Cung cấp vắc-xin uốn ván cho phụ nữ mang thai.
- Năm 1997: Bắt đầu sản xuất vắc-xin địa phương với 9 trong số 10 vắc-xin
TCMR vào năm 2008.
nhiễm có
Vắc-xin, đối tượng, lịch tiêm chủng vắc-xin bắt buộc trong tiêm
Vắc-xin
Chương trình chủng mở rộng
Đối tượng
Lịch tiêm/ uống
14
1
sử dụng
vắc-xin tại
Bệnh
viêm Vắc-xin viêm gan B Trẻ sơ sinh
Việt Nam
gan virus B
2
Bệnh lao
3
Bệnh
dướI 1 tuổi tháng sau khi sinh
bạch Vắc-xin phối hợp có Trẻ em
Lần 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi
hầu
4
Liều sơ sinh: tiêm trong vòng 24
Bệnh ho gà
Lần 2: ít nhất 1 tháng sau lần 1
Trẻ em
Lần 3: ít nhất 1 tháng sau lần 2
Tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 18 tháng
dưới 2 tuổi
tuổi
Vắc-xin phối hợp có Trẻ em
Lần 1: khi trẻ đủ 2 tháng tuổi
chứa thành phần ho dưới 1 tuổi
Trẻ em
Tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 18 tháng
dưới 2 tuổi
tuổi
ván Phụ nữ có1. Đối với người chưa tiêm hoặc
thai
không rõ tiền sử tiêm vắc-xin
hoặc chưa tiêm đủ 3 mũi vắc-xin
có chứa thành phần uốn ván liều
cơ bản:
- Lần 1: Tiêm sớm khi có thai
15
lần đầu
- Lần 2: ít nhất 1 tháng sau lần 1
- Lần 3: ít nhất 6 tháng sau lần 2
hoặc kỳ có thai lần sau
- Lần 4: ít nhất 1 năm sau lần 3
hoặc kỳ có thai lần sau
- Lần 5: ít nhất 1 năm sau lần 4
hoặc kỳ có thai lần sau
2. Đối với người đã tiêm đủ 3
dưới 1 tuổi
liệt Trẻ
Lần 3: ít nhất 1 tháng sau lần 2
em Tiêm khi trẻ đủ 5 tháng tuổi
dưới 1 tuổi
16
Lần 2: ít nhất 1 tháng sau lần 1
7
Bệnh
do Vắc-xin
Trẻ
Haemophilus
Haemophilus
Influenzae
Influenzae
Trẻ
em Tiêm khi trẻ đủ 9 tháng tuổi
dưới 1 tuổi
Vắc-xin phối hợp có Trẻ
em Tiêm khi trẻ đủ 18 tháng tuổi
chứa thành phần sởi
Bệnh
9
dưới 2 tuổi
viêm Vắc-xin viêm não Trẻ em từ Lần 1: khi trẻ đủ 1 tuổi
não Nhật Bản Nhật Bản B
B
10 Bệnh Rubella
1
tuổi
Vắc-xin phối hợp có Trẻ
chứa
thành
đến
e) Trẻ có cân nặng dưới 2000g.
f) Các trường hợp tạm hoãn tiêm chủng khác theo hướng dẫn của các nhà sản xuất đối
với từng loại vắc-xin[11].
1.7. GIỚI THIỆU TÓM TẮT ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT: Quận Sơn Trà
Quận Sơn Trà được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của
các phường An Hải Tây, An Hải Bắc, An Hải Đông, Nại Hiên Đông, Mân Thái,
Phước Mỹ, Thọ Quang (khu vực III thành phố Đà Nẵng cũ). Quận Sơn Trà có 5.972
ha diện tích tự nhiên và 18.201 người, gồm 7 phường:
1.
Phường An Hải Bắc
2.
Phường An Hải Đông
3.
Phường An Hải Tây
4.
Phường Mân Thái
5.
Phường Nại Hiên Đông
6.
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
z = 1,96 với độ tin cậy là 95%
p = 0,5 (ước tính tỷ lệ % của tổng thể)
q = 1- p = 0.5
e = 0,048 (sai số cho phép)
- Theo công thức trên chúng tôi có cỡ mẫu là 417
- Phân bố mẫu của mỗi phường trên địa bàn quận Sơn Trà là: 417 : 7 = 60
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng:
- Mục đích tiêm chủng.
- Đối tượng của tiêm chủng.
- Số lần đưa trẻ đi tiêm chủng trong năm đầu đời.
- Các đường dùng vắc-xin trong tiêm chủng.
- Các bệnh phòng được bằng biện pháp tiêm chủng.
- Lịch tiêm chủng cho trẻ.
- Thời gian theo dõi sau tiêm chủng.
- Phản ứng thông thường sau tiêm chủng.
- Dấu hiệu nguy hiểm sau tiêm chủng .
2.2.2. Thái độ của bà mẹ về tiêm chủng:
20
- Tiêm chủng mở rộng là cần thiết.
- Trẻ dưới 1 tuổi tiêm quá nhiều vắc-xin.
- Tiêm chủng làm trẻ bị ốm.
- Tiêm chủng làm trẻ tử vong.
- Chương trình Tiêm chủng mở rộng dừng hoạt động.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Mô tả cắt ngang.
- Tiêm chủng làm trẻ tử vong.
- Chương trình Tiêm chủng mở rộng dừng hoạt động.
2.4. CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ
- Đánh giá về kiến thức: có 10 câu hỏi, mỗi câu có 4 đáp án: 1 đáp án đúng, 3
đáp án sai tương đương 1- 0. Tổng điểm cao nhất là 10, thấp nhất là 0. Đánh giá
kiến thức tốt khi tổng điểm từ 8- 10; trung bình khi tổng điểm từ 5- 7 và kém khi
tổng điểm
0
413
0
100
- Tỷ lệ đối tượng từng nghe đến “Chương trình Tiêm chủng mở rộng” 100%
- Tỷ lệ đối tượng không biết “Chương trình Tiêm chủng mở rộng” 0%
3.2.2. Mục đích của tiêm chủng
Bảng 3.2. Mục đích của tiêm chủng
24
Mục đích
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Không biết
9
2,2
Phòng bệnh
404
97,8
Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng hiểu biết mục đích của tiêm chủng rất cao: 97,8% - 404
người. Tuy nhiên, vẫn còn 2,2% - 9 người không biết mục đích của tiêm chủng.
3.3.3. Đối tượng của tiêm chủng
Bảng 3.3. Đối tượng của tiêm chủng
Đối tượng
Tỷ lệ đối tượng hiểu biết số lần đưa trẻ đi tiêm chủng trong năm đầu chiếm
-
65,6% - 272 người.
Tỷ lệ đối tượng không biết chiếm 34,4 % - 141 người.
25