Nghiên cứu tỷ lệ mắc hội chứng bệnh Parkinson, tai nạn thương tích và giải pháp phòng ngừa ở người cao tuổi tại một số quận của thành phố Hà Nội - Pdf 49

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Parkinson là một trong những bệnh hay gặp nhất trong các bệnh
do rối loạn thoái hóa mạn tính hệ thần kinh trung ương. Người đầu tiên mô tả
căn bệnh này là James Parkinson từ năm 1817, lúc đó tác giả gọi là bệnh liệt
rung và sau này bệnh được mang tên ông. Bệnh Parkinson thường gặp ở
người cao tuổi và có thể gặp ở tất cả các nước, các dân tộc, các thành phần xã
hội. Tỷ lệ mắc bệnh Parkinson trong cộng đồng tại Châu Âu là 100/100.000
dân, Hoa Kỳ là 120/100.000 dân và có khoảng 1,0% số người trên 65 tuổi
mắc bệnh [14], [18], [23]. Ở Việt Nam, rất hiếm công trình nghiên cứu về
dịch tễ học về hội chứng/bệnh Parkinson; năm 2006, một nghiên cứu tại 2
quận của Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh Parkinson là 57/100.000
dân [9]. Dự báo tuổi thọ con người ngày càng tăng, tỷ lệ mắc bệnh Parkinson
cũng tăng theo [2].
Triệu chứng lâm sàng đặc trưng của Parkinson là các rối loạn vận động
như run khi nghỉ, cứng đờ, giảm vận động và tư thế không ổn định. Bên cạnh
các rối loạn vận động còn có một số các triệu chứng phối hợp hay gặp khác
như trầm cảm, suy giảm chức năng nhận thức, rối loạn thần kinh thực vật…
Một số yếu tố được cho là liên quan đến bệnh Parkinson như tuổi, giới tính,
nhiễm độc môi trường, di truyền… [46], [56], [57], [80].
Người mắc hội chứng/bệnh Parkinson đều bị ảnh hưởng rất lớn đến lao
động và sinh hoạt hàng ngày; đồng thời hay bị tai nạn thương tích, như té ngã
gây chấn thương sọ não, gãy tay, gãy chân... Cho đến nay, việc điều trị bệnh
Parkinson vẫn gặp nhiều khó khăn. Sử dụng các thuốc thay thế dopamin thực
sự là phương pháp hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng sống, kéo dài tuổi
thọ cho người bệnh Parkinson. Tuy nhiên, đáp ứng với điều trị bằng thay thế
dopamin sau 3 năm chỉ có tác dụng không tới 50% tổng số bệnh nhân [34].
Sau 5 - 10 năm đầu mắc bệnh là khoảng thời gian dao động và xuất hiện nhiều


tác dụng không mong muốn. Dần dần người bệnh trở nên tàn phế, không còn
khả năng tự phục vụ.

- Bệnh Parkinson là bệnh lý thoái hóa, nguồn gốc chưa rõ, đặc trưng bởi
quá trình thoái hóa tuần tiến nơron dopaminergic thể nhạt - liềm đen gây mất
cân bằng về sinh hóa và chức năng hệ thống ngoại tháp.
- Hội chứng Parkinson là hội chứng gồm các triệu chứng run, giảm vận
động và cứng cơ do các nguyên nhân khác nhau. Bệnh Parkinson là hội chứng
Parkinson do thoái hóa não [14]
- Tai nạn thương tích (TNTT) là những tai nạn xảy ra mà nó để lại cho
cơ thể chúng ta những vết thương có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn.
- Tai nạ thương tích do ngã là những trường hợp tai nạn gây thương tích
mà nguyên nhân do bị ngã, rơi từ trên cao xuống hoặc ngã trên cùng mặt
bằng.
1.1.2. Đặc điểm lâm sàng hội chứng/bệnh Parkinson
Lê Đức Hinh [12], mô tả hội chứng, triệu chứng bệnh Parkinson thành hai
nhóm gồm:
- Các triệu chứng cơ bản: (1) Triệu chứng run khi nghỉ: là run không
hữu ý, thấy rõ ở ngọn chi, môi, lưỡi. Run thường khu trú ở một bên cơ thể
trong nhiều năm đầu, run xuất hiện khá sớm khi lặng lẽ. Run là loại run nhỏ,
tần số 4 - 8 chu kỳ/giây, thường là run ở tư thế nửa nghỉ, khi làm động tác hữu
ý không run, run có thể tạm mất nhưng sau đó lại tái diễn. Khi ngủ hết run,
run tăng khi xúc động. Run là triệu chứng thường gặp, tuy nhiên có trường
hợp hoàn toàn không run.; (2) Triệu chứng tăng trương lực: là một trong


những triệu chứng quan trọng nhất. Tăng trương lực cơ quá mức thường thấy
ở các cơ chống đối với trọng lực, do đó, bệnh nhân (BN) thường có tư thế nửa
gấp, tăng phản xạ tư thế, giai đoạn sau có dấu hiệu bánh xe răng cưa do tăng
trương lực cơ lan tràn. Triệu chứng căng cứng thường là triệu chứng sớm
nhất. Căng cứng làm cho triệu chứng giảm động trở nên nặng hơn; (3) Triệu
chứng giảm động: mất các động tác tự nhiên của nét mặt, của chân, tay nhất là
khi cử động. Mất vẻ biểu lộ tình cảm, nét mặt như người mang mặt nạ, ít chớp

giảm hay chậm cử động (bradykinesia) phối hợp với một trong hay ba triệu
chứng run lúc nghỉ 4-6 Hz (rest tremor), đơ cứng (rigidity) và mất cân bằng tư
thế (postural instability).
- Bước thứ hai: xác định bất kỳ tiêu chuẩn loại trừ diện diện trong bệnh
sử hoặc thăm khám.
- Bước thứ ba: có ít nhất ba tiêu chuẩn hỗ trợ để chẩn đoán xác định
bệnh Parkinson. Tuy nhiên, sự hiểu biết của chúng ta về lâm sàng và sinh lý
bệnh học của bệnh Parkinson ngày càng tăng, do đó các tiêu chuẩn chẩn đoán
lâm sàng này không đủ để làm tăng độ chính xác của chẩn đoán bệnh [10].
Vào tháng 6 năm 2015, International Parkinson and Movement
Disorder Society đã đưa ra Tiêu chuẩn chẩn đoán Lâm sàng bệnh Parkinson
của MDS (Movement Disorder Society Clinical Diagnostic Criteria for PD)
[93]. Khác với tiêu chuẩn của Hội bệnh Parkinson Anh Quốc, tiêu chuẩn chẩn
đoán lâm sàng bệnh Parkinson của MDS bao gồm ba bước chính gồm có:
- Bước thứ nhất: xác định chẩn đoán hội chứng Parkinson.
- Bước thứ hai: xác định bệnh Parkinson là nguyên nhân của hội chứng
Parkinson đó.
- Bước thứ ba: xếp loại chẩn đoán lâm sàng bệnh Parkinson đó ở một
trong hai mức độ tin cậy gồm có được chẩn đoán chắc chắn là bệnh Parkinson
hay được chẩn đoán rất có thể là bệnh Parkinson.
Đối với bước thứ hai, vốn rất quyết định vì nó xác định là có hay không


có bệnh Parkinson, tiêu chuẩn chẩn đoán của MDS đưa ra ba nhóm các điểm
đặc trưng về chẩn đoán mà dựa theo đó có thể xác định chẩn đoán bệnh
Parkinson: tiêu chuẩn loại trừ tuyệt đối bệnh Parkinson; dấu hiệu cảnh báo
vốn khi hiện diện thì đòi hỏi phải được cân bằng bởi các tiêu chuẩn hỗ trợ thì
mới có thể chẩn đoán là bệnh Parkinson; tiêu chuẩn hỗ trợ bao gồm những
điểm đặc trưng làm tăng độ tin cậy của chẩn đoán bệnh Parkinson.
Về tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng Parkinson: so với tiêu chuẩn chẩn


Nguyên nhân thứ phát

Các rối loạn thoái hóa
Bệnh
Parkinson

Hội chứng
Parkinson
thoái hóa

Thuốc

Viêm
não

Thoái hóa thể
vân- liềm đen

Thoái hóa
nhân nền não

Ứ nước
trong não

Hội chứng
Shy- Drager

Thoái hóa
đa hệ

cho thấy bệnh Parkinson xảy ra ở khắp thế giới, gặp ở nhiều nhóm chủng tộc
khác nhau và ở cả hai giới [37].
* Các nghiên cứu ở châu Âu:
Brewis và cs. (1966) ở Carlisle (Anh) cho thấy tỷ lệ bệnh mới phát hiện
trung bình hàng năm là 12,5/100.000 người trong giai đoạn 1955 - 1961. Năm
1993, Gilles Fenelon (Pháp) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh Parkinson toàn bộ là từ
84 - 187/100.000 người và tỷ lệ mới phát hiện dao động từ 15 - 24/100.000
người/năm. Ở Pháp có khoảng 70.000 - 100.000 người mắc bệnh Parkinson.
Tại Đan Mạch (2004), Wermuth L. và cs điều tra tình hình lưu hành bệnh
Parkinson cho thấy tỷ lệ bệnh ở đảo Faroe là 209/100.000 dân; đảo Greenland
là 187,5/100.000 dân và đảo Als là 98,3/100.000 dân [116].
Năm 2004, Bergareche A. và cs. [37] đánh giá sự lưu hành bệnh
Parkinson tại hai cộng đồng (Irun và Hondarribia, vùng Bidasoa) người Tây
Ban Nha ở những người trên 65 tuổi cho thấy, tỷ lệ lưu hành bệnh Parkinson là
1,5 % (CI 95%: 0,9 - 2,3) và các thể khác nhau của hội chứng Parkinson là
1,1% (CI 95%: 0,6 - 1,9). Tỷ lệ lưu hành bệnh Parkinson là 0,4% (65-74 tuổi;
4,7% (75-84 tuổi) và 2,9% (≥ 85 tuổi); đối với hội chứng Parkinson tỷ lệ lưu
hành tương ứng là 0,7%; 2,0% và 3,9%. Năm 2003, Benito-Leon J. và cs. [36]
điều tra tỷ lệ mắc bệnh Parkinson và hội chứng Parkinson ở người cao tuổi
(trên 60 tuổi) tại 3 địa điểm: vùng đô thị ở Greater Madrid (Margaritas,


Getafe), vùng nông thôn (Arevalo County, Avila) và quận ở Madrid (Lista) (n
= 5.278) cho thấy: có 118 BN có hội chứng Parkinson: 81 BN Parkinson
nguyên phát (68,6%), 26 BN mắc hội chứng Parkinson do thuốc (22,0%), 6
BN mắc hội chứng Parkinson do sa sút trí tuệ (5,1%), 3 BN có hội chứng
Parkinson do rối loạn tuần hoàn não (2,5%) và 2 BN mắc hội chứng
Parkinson không đặc hiệu (1.7%). Kết quả còn cho thấy: tỷ lệ lưu hành cho tất
cả các loại hội chứng Parkinson là 2,2% (khoảng tin cậy 95% 1,8-2,6) và cho
bệnh Parkinson là 1,5% (khoảng tin cậy 95% là 1,2-1,8). Tỷ lệ lưu hành hội

Parkinson là 133/100.000 người, tuổi trung bình khởi phát bệnh là 63 tuổi.
- Năm 2000, Tổ chức WEMOVE [117] cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh
Parkinson ở Mỹ là 57 - 371/100.000 người. Trong đó có 35 - 42% trường hợp
chưa được chẩn đoán. Tỷ lệ mới phát hiện hàng năm là 5 - 24/100.000
người/năm; có khoảng 4 - 10% trường hợp khởi phát trước 40 tuổi.
- Năm 2004, Strickland D. và cs. [108] nghiên cứu dịch tễ bệnh
Parkinson thông qua các số liệu đăng ký tại Trung tâm Y học Nebraska
Omaha, Mỹ từ 01/01/1997 - 01/2000 thấy: số lượng BN là 5.062 người, trong
đó có 117 người không được đăng ký hồ sơ. Kết quả phân tích cho thấy, tỷ lệ
lưu hành bệnh Parkinson là 329,3/100.000 cư dân.
Tại Canada, năm 2000, Tổ chức WEMOVE [117] cho biết tỷ lệ mắc
toàn bộ bệnh Parkinson là 300/100.000 người. Tỷ lệ mới phát hiện hàng năm
là 24/100.000 người/năm. Năm 2003, Lai B. C. và cs. [75] đánh giá sự lưu
hành hội chứng/bệnh Parkinson ở British Columbia (Canada) thông qua các
trường hợp đã được điều trị bệnh Parkinson giai đoạn 1996- 1998. Kết quả
cho thấy: tỷ lệ bệnh Parkinson dựa trên các trường hợp được điều trị thuốc
chống bệnh Parkinson lần lượt là 109, 121, và 125/100.000 người trong các
năm 1996, 1997 và 1998. Tỷ lệ lưu hành bệnh Parkinson dựa trên những
trường hợp sử dụng levodopa tương ứng là 126, 134 và 144. Tỷ lệ lưu hành
bệnh Parkinson tăng lên theo tuổi.


Năm 2003, Nicoletti A. và cs. [84] điều tra dịch tễ bệnh Parkinson ở
vùng nông thôn tỉnh Cordillera (Bolivia) với số đối tượng là 9.955 người. Kết
quả cho thấy tỷ: lệ bệnh Parkinson là 50,2/100.000 người (CI95%: 18,5124,5) và 286/100.000 người (CI95%: 28-543) ở các đối tượng trên 40 tuổi.
Tại Colombia, năm 2004, Sanchez J. L. và cs. [98] đánh giá sự lưu
hành tỷ lệ hội chứng/bệnh Parkinson ở Antioquia từ 01/01/1996 đến
31/12/2000 thấy tỷ lệ bệnh Parkinson là 30,7/100.000 (CI95%: 29,2 - 322) và
tỷ lệ hội chứng Parkinson là 42,1/100.000 (CI95%: 40,3 - 43,8). Tỷ lệ bệnh
Parkinson ở người trên 50 tuổi là 176,4/100.000 (CI95%: 166,6 - 186,3) và

Parkinson ở Singapore là tương đương với các nước phương Tây.
Năm 2003, Kim J. S. và cs. [71] nghiên cứu thống kê y tế ở Hàn Quốc
thấy thấy, số người có triệu chứng của bệnh Parkinson trong cả nước tăng từ
44.619 người (1995) lên 96.229 người (2000). Theo ước tính, tỷ lệ lưu hành
bệnh/hội chứng Parkinson là 19/100000 người, thấp hơn so với Nhật Bản.
Năm 2004, Woo J. và cs, nghiên cứu tỷ lệ lưu hành bệnh Parkinson ở
cộng đồng người Trung Quốc và người Australia ở Sydney với cỡ mẫu là
1.080 người trên 55 tuổi. Kết quả cho thấy: tỷ lệ lưu hành bệnh Parkinson ở
cộng đồng người Trung Quốc là 0,5% (số đối tượng từ 55 tuổi trở lên) và
0,186% (đối tượng
bình thường khác [100].
De Rijic M. C. và cs. [48] thấy rằng, những người >65 tuổi ở châu Âu
có 2,3% người mắc hội chứng Parkinson và 1,8 % mắc bệnh Parkinson và tỷ
lệ mắc tăng dần theo tuổi. Các tác giả thấy từ tuổi 65 trở lên, tỷ lệ mắc bệnh
Parkinson tăng dần theo nhóm tuổi (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Tỷ lệ mắc hội chứng và bệnh Parkinson
theo nhóm tuổi ở châu Âu, năm 2000
Đơn vị tính: %
Nhóm tuổi
70- 74
75- 79
80- 84

65- 69
≥85
Hội chứng và bệnh
Hội chứng Parkinson
0,9
1,5
3,7
5,0
5,1
Bệnh Parkinson
0,6
1,0
2,7
3,6
3,5
Nghiên cứu của Hauser và cs, cho thấy tuổi mắc bệnh trung bình là 60
tuổi, ở lứa tuổi trên 40 thì tỷ lệ mắc là 1/250 người, nhưng ở những người trên

Một số nghiên cứu dịch tễ học cho rằng có một số nghề có nguy cơ mắc
bệnh Parkinson hơn các nghề nghiệp khác. Tsui J. K. và cs. [111] nghiên cứu
trên 414 BN Parkinson và 6.659 người làm nhóm chứng thấy bệnh Parkinson
có liên quan tới nghề giáo viên (OR = 2,5), chăm sóc sức khỏe (OR = 2,07).
Nghiên cứu của Racette B. A. và cs. [95] lại cho rằng nghề hàn có thể là yếu
tố nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Ngoài ra, các nghiên cứu còn cho thấy những


nghề như nghề nông tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật, thợ hầm lò, thợ tiếp
xúc với kim loại nặng cũng có nguy cơ mắc bệnh Parkinson cao hơn so với
các nghề khác [56], [64].
1.2.2.4. Nhiễm độc môi trường
Nhiều nghiên cứu khác nhau về dịch tễ học đã khẳng định yếu tố môi
trường cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh Parkinson [80].
Nghiên cứu bệnh - chứng của Gorell J. M. và cs. [57] cho những người
tiếp xúc với môi trường có kim loại nặng (mangan, đồng, chì, sắt, thủy ngân,
kẽm…) có nguy cơ mắc bệnh Parkinson và các bệnh thoái hóa thần kinh khác.
Pezzoli G. và cs, nghiên cứu trên 990 BN Parkinson, trong đó có 188
BN có tiền sử tiếp xúc với môi trường có hydrocacbon thì có tuổi mắc bệnh
trung bình thấp hơn (55,2 ± 9,8 tuổi so với 58,6 ± 10 tuổi) và có các triệu
chứng của bệnh nặng nề hơn [92].
Ngoài ra, các nghiên cứu còn nhấn mạnh đến vai trò của thuốc trừ sâu,
các thuốc bảo vệ thực vật đối với sự phát sinh, phát triển bệnh Parkinson [96].
Adam D, Ritz B. và cs [29], Le Couteur D. G. và cs [76] cho biết
những người sống ở vùng nông thôn, làm nông nghiệp, tiếp xúc nhiều với
môi trường có thuốc trừ sâu… thì tỷ lệ mắc bệnh Parkinson cao hơn so với
các đối tượng khác.
1.2.2.5. Yếu tố di truyền
Nhờ sự phát triển của công nghệ sinh học, các nghiên cứu mới đây đã
khẳng định yếu tố di truyền là một trong những yếu tố nguy cơ của bệnh

nguy cơ cao mắc bệnh Parkinson.
* Thuốc lá: Nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc lá làm giảm nguy cơ mắc
bệnh Parkinson. Ross G. W. và cs. [97] cho rằng hút thuốc nói chung và
nicotin nói riêng có thể là một yếu tố bảo vệ thần kinh. Trên động vật thực
nghiệm, nicotin kích thích sự giải phóng dopamin ở thể vân, đồng thời bảo vệ
neuron ở liềm đen. Tuy nhiên, tác giả khuyến cáo cần nghiên cứu thêm trước


khi đưa kết luận có tính chất khẳng định và chính xác.
Hermanowicz N. và cs. nghiên cứu sự ảnh hưởng của thuốc lá tới bệnh
Parkinson ở cả nam và nữ thấy rằng có mối liên quan nghịch giữa hút thuốc
và bệnh Parkinson mở ra một hướng điều trị mới trong tương lai [65]. Kelton
M. C. và cs xác định sự liên quan giữa hàm lượng nicotin và chức năng vận
động ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson. Các tác giả thấy rằng kích thích hệ
nicotinic có thể làm phục hồi một số chức năng nhận thức và vận động ở BN
mắc bệnh Parkinson [53]. Kích thích não sâu là một biện pháp hiệu quả trong
điều trị bệnh Parkinson tiến triển [43].
* Cà phê: Cà phê cũng được coi là yếu tố bảo vệ trong bệnh Parkinson.
Ascherio A. và cs. [32] nghiên cứu trên 47.351 nam và 88.565 nữ thấy rằng
uống cà phê với liều lượng thích hợp có thể ngăn chặn được nguy cơ mắc
bệnh Parkinson và cà phê được coi như là yếu tố bảo vệ. Ross G. W. và cs.
[97] cho rằng cafein làm tăng hoạt tính của các thụ cảm thể dopamin và có tác
dụng như những chất đồng vận với dopamin. Mức sử dụng cafein có mối
tương quan nghịch với nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Nhưng liều lượng sử
dụng chưa được chứng minh.
* Oestrogen: Oestrogen cũng có liên quan đến bệnh Parkinson.
Benedetti M. D. và cs. [35] nghiên cứu trên 72 BN nữ mắc bệnh Parkinson thấy
rằng những người phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn, mãn kinh trước 46 tuổi và
những người đã sử dụng oestrogen ít nhất 6 tháng sau khi mãn kinh có tỷ lệ
mắc bệnh Parkinson nhiều hơn so với nhóm chứng và nhóm sử dụng oestrogen

PARKINSON
1.3.1. Tình hình tai nạn thương tích ở người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh
Parkinson
1.3.1.1. Trên Thế giới
Ngày 15 tháng 5 năm 2006, tại Manila, Thủ đô của Philippines, Tổ
chức Y tế thế giới (WHO) [119] đã đưa ra cảnh báo về tình hình tử vong do
thương tích và sự già hóa dân số. Tai nạn giao thông và tự tử có thể sẽ nằm
trong nhóm 15 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên thế giới vào năm 2020.
Ước tính hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 5 triệu người chết do
TNTT. Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, TNTT là nguyên nhân của trên 1,2
triệu ca tử vong mỗi năm, tức là cứ mỗi ngày có gần 3.300 người chết do


thương tích. Trên 90% số trường hợp TNTT xảy ra ở các nước có thu nhập
thấp và trung bình, đặc biệt trong nhóm tuổi lao động và thanh niên. Ước tính
trên toàn thế giới có khoảng 600 triệu người trên 60 tuổi, con số này sẽ gấp
đôi vào năm 2025 [118]. Nguyên nhân chính gây tử vong:
- Tự tử - khoảng 343.000 ca tử vong;
- Tai nạn giao thông - khoảng 302.000;
- Đuối nước - khoảng 171.000.
Theo Shigeru Omi giám đốc của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương
"Cách tiếp cận thông thường dựa vào nhiệm vụ công việc chẳng bao lâu sẽ
không được chấp nhận nữa, chúng ta, những chuyên gia về sức khỏe cộng
đồng cần phảỉ hợp tác với các ban ngành và những người liên quan tìm ra
nguyên nhân của thương tích và những trường hợp tử vong do thương tích”.
Tác giả Shigeru Omi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức
trong cộng đồng và sự cần thiết phải thay đổi quan điểm: “Chúng ta phải yêu
cầu các nhà lãnh đạo hỗ trợ các nguồn lực mà chúng ta cần. Chúng ta phải
nâng cao năng lực của tổ chức và nguồn nhân lực để đối phó với những thách
thức trong công tác phòng chống thương tích và bạo lực”.

- Phần lớn các trường hợp tai nạn do ngã (1/2 đến 2/3) là xảy ra ở tại
gia đình (Nevitt, 1989; Wilkins, 1999). Do đó, cần phải quan tâm đến chăm
sóc NCT đề phòng TNTT tại gia đình [83], [120].
Tại Australia, Virginia Routley và cs. [115] ở Trung tâm nghiên cứu tai
nạn trường Đại học tổng hợp Monash thấy trong giai đoạn 1991- 1992 có
10.081 người lớn bị TNTT tại nhà vào điều trị bệnh viện Western, bệnh viện
vùng Latrobe, bệnh viện Preston & Northcote Community Hospital và bệnh
viện Hoàng gia Melbourne Hospital. Các tác giả thấy những trường hợp này
chiếm 35,0% các loại thương tích vào điều trị, trong số đó có 21,0% phải điều
trị tại bệnh viện. Lứa tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 20 - 24 tuổi.


Nghiên cứu Virginia Routley và cs. [115] thấy ngã gây thương tích
chiếm từ 27 - 35%. Đối với những người trên 65 tuổi thì tần suất ngã cao hơn
so với những người trẻ tuổi và thường gây hậu quả gãy xương đùi (60%).
Về vị trí và mức độ tổn thương: Virginia Routley và cs. [115] thấy các
thương tích do cắt và đụng dập là 26,0%, đặc biệt là ở vùng tay, mặt và đầu;
gãy xương là 17,0%, chủ yếu là cẳng tay, ngón tay, xương đùi; các tổn thương
ở khớp gối, khớp cổ chân là 9,0%; các tổn thương viêm, phù nề, đau là 8,0%;
ngộ độc là 7,0% và dị vật vào mắt là 3,0%.
Richter M. và cs. (2002) điều tra các TNTT thường gặp ở NCT thấy
rằng đa số do tai nạn giao thông (TNGT) và do ngã. Các tác giả cũng thấy
rằng đối với những trường hợp tai nạn do ngã có nhiều nguyên nhân gây nên,
nhưng chủ yếu là do suy giảm trí nhớ, hội chứng/bệnh Parkinson và các tổn
thương thần kinh sau tai biến mạch máu não. Vì vậy, các tác giả cũng đã đề
xuất các biện pháp luyện tập, hướng dẫn cho người bệnh để quản lý sớm bệnh
và đề phòng tai nạn do ngã ở NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson [63].
1.3.1.2. Ở Việt Nam
Theo Vũ Văn Phúc, ở Việt Nam các TNTT có xu hướng tăng lên đáng
kể. Giai đoạn 2012-2020 mỗi năm phải chi cho an sinh xã hội 13,5% GDP

- Người cao tuổi được cung cấp các dịch vụ y tế tại nhà nếu có yêu cầu;
- Cung cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho NCT trên 80 tuổi và NCT cô
đơn có hoàn cảnh khó khăn.
Tuy nhiên, với hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém như hiện nay thì Việt
Nam vẫn chưa có sự chuẩn bị tốt cho tình hình già hoá dân số. Chính vì vậy,
những vấn đề cần can thiệp đối với NCT cần được tiến hành một cách toàn
diện trên các nhóm đối tượng: NCT từ 60 tuổi trở lên; người chăm sóc chính
và các thành viên trong hộ gia đình; các thành viên cộng đồng; các tổ chức,
đoàn thể xã hội và người cung ứng các dịch vụ y tế.
Đối với TNTT khi xảy ra nếu được hỗ trợ, can thiệp đúng, nhanh chóng


kịp thời của những người được đào tạo thuần thục về cấp cứu ban đầu có thể
hạn chế được tử vong, hạn chế biến chứng làm nặng lên các tổn thương. Đối
với NCT điều này lại càng quan trọng hơn gấp nhiều lần [13].
Theo điều tra dân số 1/4/2009, dân số của cả nước là 85,8 triệu người
[2], riêng Hà Nội trên 7 triệu người. Tỷ lệ NCT của cả nước ước tính khoảng
9,6 triệu người (Hà Nội khoảng 672.000 người). Như vậy tại thời điểm này,
Việt Nam có khoảng 90.000 người mắc hội chứng/bệnh Parkinson, trong đó
Hà Nội có khoảng 6.700 người mắc hội chứng/bệnh Parkinson.
1.3.2. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh
Parkinson
1.3.2.1. Các biện pháp quản lý và điều trị bệnh nhân mắc hội chứng/bệnh
Parkinson
* Mục đích, yêu cầu:
Yêu cầu của mọi phương pháp chiến lược điều trị bệnh Parkinson nhằm
giải quyết bốn vấn đề là [14], [8]:
- Giảm bớt tối đa các triệu chứng bệnh lý, trước hết là các biểu hiện của
hội chứng ngoại tháp.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của BN.

- Chỉ điều trị để người bệnh có thể đảm bảo được cuộc sống sinh hoạt
hàng ngày, chứ không nên điều trị hết hoàn toàn các triệu chứng.
- Dùng thuốc tăng liều dần để bệnh nhân có thể thích nghi.
- Cần cân nhắc giữa việc cải thiện triệu chứng (cái lợi trước mắt) với
các tác dụng ngoại ý khi dùng thuốc (tác hại lâu dài).
- Sử dụng dopamin ở người trẻ tuổi dễ gây các triệu chứng rối loạn vận
động hơn là người cao tuổi, nhưng người trẻ tuổi lại chịu đựng được phương
pháp đa trị liệu tốt hơn NCT.
- Tuy ít có biến chứng vận động hơn người trẻ tuổi, nhưng NCT lại hay
tổn thương chức năng nhận thức hơn khi dùng nhiều dopamin.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status