i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực, không sử dụng số liệu của tác giả khác
khi chƣa đƣợc công bố hoặc chƣa đƣợc sự đồng ý. Những kết quả nghiên cứu
của tác giả chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác./.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
Học viên
Nguyễn Bá Tâm
ii
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS. Vƣơng Duy
Hƣng - giáo viên hƣớng dẫn Trƣờng Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam đã trực
tiếp tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông,
huyện Bá Thƣớc - Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Thanh Hóa đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi triển khai đề tài nghiên cứu, cung cấp những thông tin,
tƣ liệu cần thiết cũng nhƣ thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè gần
xa và ngƣời thân đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình thời gian
học tập và hoàn thành luận văn.
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các Thầy, cô và
2.1.2. Mục tiêu cụ thể................................................................................. 18
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 18
2.3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ............................................................. 18
2.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu ...................................................................... 18
2.3.2. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................... 18
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................... 19
2.4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu
BTTN Pù Luông......................................................................................... 19
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu hiện trạng sử dụng cây thuốc tại Khu
BTTN Pù Luông......................................................................................... 23
2.4.3. Phƣơng pháp xây dựng đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển
tài nguyên cây thuốc cho khu vực nghiên cứu ........................................... 26
iv
Chƣơng 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 28
3.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 28
3.1.1. Vị trí địa lý ....................................................................................... 28
3.1.2. Đặc điểm địa hình ............................................................................ 28
3.1.3. Khí hậu thuỷ văn .............................................................................. 28
3.1.4. Đặc điểm đất đai .............................................................................. 29
3.2. Điều kiện kinh tế xã hội......................................................................... 30
3.2.1. Dân số, dân tộc và lao động tại các xã vùng đệm ............................ 30
3.2.2. Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập ............................................ 30
3.2.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng .................................................................. 33
Chƣơng 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................... 36
4.1. Đa dạng tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Pù Luông ......................... 36
4.1.1. Đa dạng taxon thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu ............. 36
4.1.2. Đa dạng về dạng sống của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu ......... 41
ĐDSH
Đa dạng sinh học
TCN
Trƣớc công nguyên
STN
Sau công nguyên
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
NXBKH &KT
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
SĐVN
Sách đỏ Việt Nam
UBND
Sự đa dạng các bộ phận sử dụng làm thuốc
63
4.5
Cây thuốc có nhu cầu khai thác sử dụng ở Việt Nam có ở
Khu BTTN Pù Luông
69
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc là nhóm tài
nguyên thực vật rừng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, về thành phần loài, về
giá trị kinh tế mang lại, cũng nhƣ về giá trị sử dụng rộng rãi trong việc bảo vệ
sức khỏe cho cộng đồng. Theo kết quả điều tra tƣơng đối có hệ thống của
Viện Dƣợc liệu bộ Y tế, hiện đã ghi nhận đƣợc ở Việt Nam trên 4.000 loài
cây thuốc. Trong đó, gần 80% số loài đã biết là cây thuốc mọc tự nhiên. Phần
lớn các loài cây thuốc mọc tự nhiên, lại tập trung chủ yếu trong các quần hệ
rừng. Rừng là môi trƣờng sản sinh và tái tạo ra các loài cây thuốc có giá trị sử
dụng và kinh tế cao. Nhiều loài có trữ lƣợng tiềm tàng, lên tới hàng chục hoặc
hàng trăm ngàn tấn. Thừa nhận rằng, từ nguồn cây thuốc thiên nhiên ở nƣớc
ta, mỗi năm đã cung cấp một khối lƣợng lớn các loại dƣợc liệu, góp phần vào
sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và xuất khẩu. Tuy nhiên, do khai
thác liên tục nhiều năm, cộng với nhiều nguyên nhân tác động khác, đã làm
cho nguồn tài nguyên này bị suy giảm nghiêm trọng. Hầu hết các loài có giá
trị sử dụng cao, vốn có trữ lƣợng lớn, đến nay đều đã bị giảm sút, thậm chí
lập năm 1999 với diện tích đƣợc giao quản lý là 17.171,03 ha, trong đó diện
tích rừng đặc dụng là 16.862 ha nằm trên địa bàn 2 huyện Bá Thƣớc và Quan
Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Để có cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, từ khi
thành lập đến nay, đã có vài công trình điều tra cơ bản về khu hệ thực vật, về
thảm thực vật rừng và một vài nhóm thực vật quan trọng (Phong lan, hạt trần
…). Theo kết quả điều tra lập danh lục hệ động thực vật năm 2013 tại Khu
BTTN Pù Luông hiện có 2.487 loài thuộc 476 họ và 1.329 chi, gồm có 908
động vật; 1.579 loài thực vật, trong đó có 409 loài động thực vật trong sách
đỏ Việt Nam. Tuy nhiên hiện chƣa có bất cứ công trình điều tra nghiên cứu cụ
thể nào về nhóm tài nguyên cây thuốc ở đây. Mặc dù, nằm trong Khu bảo tồn,
đƣợc biết có vùng “Son Bá Mƣời” vốn đƣợc ngành Y tế coi là nơi có tiềm
3
năng về cây thuốc tự nhiên và cây thuốc trồng ở tỉnh Thanh Hóa. Theo khảo
sát sơ bộ thì có khoảng 48 loài cây thuốc đang bị các thƣơng lái đến để thu
mua tại cộng đồng trong và quanh Khu BTTN Pù Luông, tuy nhiên số lƣợng
thực tế còn cao hơn nhiều. Việc khai thác cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông
đang diễn ra ở mức độ cao là một thách thức đối với công tác quản lý bảo tồn.
Đây là nguyên nhân dẫn đến việc giảm thiểu về số lƣợng và mức độ phong
phú của các loài cây thuốc, thậm chí dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng một số loài
ngoài tự nhiên.
Nhƣ vậy, ở Khu BTTN Pù Luông hiện nay còn thiếu các kết quả điều
tra, đánh giá toàn diện về hiện trạng tài nguyên cây thuốc. Đây là những cơ sở
dữ liệu rất quan trọng để xây dựng các giải pháp quản lý, bảo tồn tài nguyên
thực vật cho Khu bảo tồn. Xuất phát từ những lý do nêu trên tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông,
huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá”.
Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ là bộ số liệu rất có giá trị nhằm bổ sung dẫn liệu
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B. (1960) chỉ ra rằng, vào
khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục
tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lƣơng thực, cây có hoa đẹp) trong
các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Nhƣ vậy, tầm quan trọng của các cây
làm thuốc đƣợc loài ngƣời nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các
giống cây thuốc quý đƣợc thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh.
Châu Úc đƣợc mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xƣa nhất trên
thế giới. Ngƣời ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cƣ ở đây từ hơn
60.000 năm về trƣớc và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài
5
cây thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này nhƣ cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus
globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn đƣợc sử dụng rất hữu hiệu trong
việc chữa bệnh. Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dƣợc thảo của thổ dân đã bị
mất đi khi ngƣời châu Âu đến định cƣ. Ngày nay, đa phần các dƣợc thảo ở
châu Úc bắt nguồn từ phƣơng Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nƣớc vùng ven
Thái Bình Dƣơng.
Dƣợc thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y
học truyền thống cổ điển. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200
SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng
sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết
hàng trăm cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500
năm. Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một
cuốn sách dƣợc thảo có tên “De material Medica”. Quyển sách này bao gồm
600 loại thảo mộc, gây ảnh hƣởng mạnh mẽ đến y học phƣơng Tây và là sách
tham khảo chính đƣợc dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII. Cuốn sách còn
đƣợc dịch ra nhiều ngôn ngữ nhƣ: tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tƣ và tiếng Hebrew.
Vào thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa
vẻ bề ngoài của một loài cây – “dấu hiệu của thần thánh”- và công dụng y học
Nói đến dƣợc thảo của châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia
có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ. Lịch sử nền Y học
Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, ngƣời ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ
để chữa bệnh nhƣ: sử dụng nƣớc cây Chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết
thƣơng và tắm ghẻ. Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản 1985
đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh nhƣ: Rễ gấc (Momordica
cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sƣng tấy, đau
khớp, sốt rét, vết thƣơng tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale) giải nhiệt,
chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bƣớu cổ. Từ những kinh nghiệm dân gian,
7
các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây thuốc, về
các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rút thành những cuốn sách
có giá trị. Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trong cuốn sách
“Thủ hậu bị cấp phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây
cỏ. Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê đƣợc 12000 vị thuốc trong
tập “Bản thảo cƣơng mục” đƣợc NXB Y học trích dẫn 1963. Và gần đây nhất
cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các
loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc đƣợc biết từ trƣớc tới nay.
Văn minh của ngƣời Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5.000 năm
dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ. Trong bộ sử thi Vedas đƣợc viết
vào năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dƣợc thảo thời
kỳ đó. Trong đó, nhiều loài cây đƣợc xem là những “cây thiêng” dành cho
những vị thần đặc biệt, chẳng hạn nhƣ cây Trái nấm (Aegle marmelos) là cây
dành cho thánh thần của ngƣời Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu
có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây đƣợc trồng gần
các đền thờ. Những công dụng của cây thuốc này đƣợc ghi lại trong cuốn sách
dƣợc thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN. Sau này, vào khoảng 100
năm SCN, một học giả ngƣời Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dƣợc thảo cũng
Nhiều loài Hoàng Liên (Coptis spp) cũng đƣợc xếp vào danh lục thực
vật nguy cấp ở nhiều nƣớc Đông Á. Loài Ba gạc (Rauvolfia serpentine (L.)
Benth. ex Kurz) đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác lâu đời
ở Ấn Độ, Bănglađét, Srilanka, Thái Lan.
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hƣớng của thế giới.
Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thƣ Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra
nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây
thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thƣ, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế
phẩm có dƣợc tính mạnh đƣợc điều chế từ một loài Hoa hồng (Cantharanthus
9
roseus). Đặc biệt ở Madagasca, ngƣời ta dùng cây này để chữa bệnh máu
trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên
đến 90%.
Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là hợp chất tự
nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu cây
thuốc theo các nhóm hợp chất đƣợc tiến hành và đã thu đƣợc nhiều kết quả
tốt. Tuy nhiên, hƣớng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện
đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao. Do vậy, đây là các nghiên cứu
đƣợc triển khai ở các nƣớc phát triển và một số các nƣớc đang phát triển . Các
cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất ancanoit, flavonoit, cumarin hiện đang
đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới- WHO năm 1985, trong số
250.000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao đã biết, có gần 20.000 loài
thực vật đƣợc sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến
thuốc. Trong đó, ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc trên 5.000 loài,
riêng về thực vật có hoa ở một vài nƣớc Đông Nam Á đã có tới 2.000 loài là
cây thuốc, vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1.900 loài. Cũng theo WHO thì mức
độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con ngƣời, cho sự
phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết
hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân
tộc là một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền
đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tƣơng lai.
Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức
quan trọng. Các nƣớc trên thế giới đang hƣớng về thực hiện chƣơng trình
Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc.
11
1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam có nền Y học cổ truyền giàu truyền thống, phong phú về các
cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc. Cùng với 4000 năm dựng nƣớc và giữ nƣớc,
ngƣời Việt Nam đã phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh,
dần dần đã tích luỹ đƣợc kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc.
Nền Y học cổ truyền qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên chịu ảnh hƣởng rất
lớn của Y học cổ truyền Trung Quốc.
Ngay từ thời Vua Hùng dựng nƣớc (2900 năm TCN), qua các văn tự
Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam chích quái liệt
truyện, Long Uý bí thƣ...) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây
cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh.
Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và
“Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” của Tuệ Tĩnh. Trong tài liệu này đã mô tả hơn 630
vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng
hàn. Ông đƣợc coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nƣớc ta, là “Vị thánh
thuốc Nam”. Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau nhƣ: “Tuệ Tĩnh y
thƣ”, “Thập tam phƣơng gia giảm”, “Thƣơng hàn tam thập thất trùng pháp”.
Tới thế kỷ XVIII, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn
thứ hai “Y tông Tâm tĩnh” cho nƣớc ta. Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô
nhƣng phần nào cũng đƣa ra đƣợc công dụng làm thuốc của nhiều loài thực
vật. Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam” và đƣợc tái bản vào năm 2000. Công trình liệt kê gần 800 loài cây,
con và vị thuốc, trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố, thu hái và chế
biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng.
Năm 1966, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc
dƣợc sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây
13
thuốc” và đƣợc in lần thứ hai vào năm 1976. Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi
Xuân Chƣơng đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”, với 519 loài cây
thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện.
Liên quan đến vấn đề cây thuốc, tập thể các nhà khoa học Viện Dƣợc
liệu đã xuất bản cuốn “Dƣợc điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công
trình nghiên cứu về cây thuốc trong những năm qua. Viện Dƣợc liệu, Bộ Y tế
cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dƣợc liệu, điều tra ở 2795 xã, phƣờng,
thuộc 35 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc, đã có những
đóng góp đáng kể trong công tác điều tra sƣu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc
và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian.
Có rất nhiều công trình về cây thuốc ở Việt Nam với quy mô lớn nhỏ
khác nhau đã đƣợc công bố nhƣ: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng và cộng sự
đã cho ra đời cuốn “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với khoảng 300
loài cây thuốc đƣợc khai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn
quốc. Trình Đình Lý (1995) đã xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích”, cho biết
trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho
nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin,
50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây.
Võ Văn Chi (1997) đã biên soạn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, gồm
khoảng 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa có 2.500 loài thuộc
Với phƣơng châm xây dựng nền Y học hiện đại - dân tộc và đại chúng,
Nhà nƣớc đã có nhiều nỗ lực để đầu tƣ cho công tác điều tra, nghiên cứu về
cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ cho yêu cầu chữa bệnh và
chăm sóc sức khoẻ toàn dân.
Tuy nhiên, phần lớn số loài đƣợc ghi nhận đều xuất phát từ kinh nghiệm
sử dụng của các cộng đồng các dân tộc ở các địa phƣơng trong cả nƣớc.
15
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật trong những năm qua đã có nhiều
công trình nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về cây thuốc cổ
truyền của dân tộc Thái, Mƣờng, Tày, Nùng ... đã cập nhật và bổ sung cho dữ
liệu về cây thuốc dân tộc Việt Nam.
Lƣu Đàm Cƣ (2005), trong nghiên cứu “Cây thuốc truyền thống của
ngƣời Dao, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”, đã xác định đƣợc 312 loài cây thuốc
thuộc 88 họ mà ngƣời Dao ở Sa Pa sử dụng. Báo cáo khoa học hội nghị toàn
quốc, nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, định hƣớng y dƣợc học.
NXB KH và KT, Hà Nội)
Theo thống kê của ngành Lâm nghiệp, diện tích rừng nƣớc ta từ 14,3
triệu ha vào năm 1943, đến năm 1993 chỉ còn 9,3 triệu ha (Bộ lâm nghiệp,
1995) trong đó diện tích rừng nguyên sinh còn lại không tới 1% tổng diện tích
lãnh thổ (Averyanov, L.V. et al., 2004.). Rừng bị phá huỷ sẽ làm cho toàn bộ
tài nguyên rừng ở đó mất đi, trong đó có cây thuốc. Trong quá trình điều tra
dƣợc liệu ở Việt Nam từ năm 1961 đến nay, Viện Dƣợc liệu đã phát hiện nhiều
vùng rừng có cây thuốc phong phú, nay đã bị phá huỷ làm nƣơng rẫy, trồng cà
phê, cao su (ở miền Nam) hoặc thay vào đó là các công trình dân sự, Bên cạnh
các hoạt động có chủ ý của con ngƣời, nạn cháy rừng, lũ lụt và lở đất cũng làm
mất đi nhiều vùng rừng có nhiều cây thuốc quý hiếm mọc tập trung.
Hơn nữa, do sức ép của thị trƣờng tài nguyên cây thuốc bị khai thác
Từ những công trình nghiên cứu trên cho thấy cho đến nay chƣa có
công trình điều tra, nghiên cứu tổng thể và chi tiết, cụ thể về nhóm tài nguyên
cây thuốc ở đây. Mặc dù, nằm trong Khu bảo tồn, đƣợc biết có vùng “Son Bá
Mƣời” vốn đƣợc ngành Y tế coi là nơi có tiềm năng về cây thuốc tự nhiên và
cây thuốc trồng ở tỉnh Thanh Hóa. Theo khảo sát sơ bộ thì có khoảng 48 loài
cây thuốc đang bị các thƣơng lái đến để thu mua tại cộng đồng trong và quanh
17
Khu BTTN Pù Luông, tuy nhiên số lƣợng thực tế còn cao hơn nhiều, trong đó
có khoảng 33 loài cây thuốc quý hiếm, nguy cấp có tên trong Nghị định số
32/2006/NĐ-CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Thủ tƣớng Chính phủ về
Quản lý Thực vật; Sách Đỏ Việt Nam, phần II – Thực vật, NXB. Khoa học tự
nhiên và Công nghệ, năm 2007 và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (năm
2007) Việc khai thác cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông đang diễn ra ở mức
độ cao là một thách thức đối với công tác quản lý bảo tồn. Đây là nguyên
nhân dẫn đến việc giảm thiểu về số lƣợng và mức độ phong phú của các loài
cây thuốc, thậm chí dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng một số loài ngoài tự nhiên.
18
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên
cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định đƣợc hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu vực
giữa chúng cũng có mối quan hệ thân thuộc với nhau ở mức độ nhất định đó là
mối quan hệ tiến hóa. Mối quan hệ đó không những thể hiện qua sự tƣơng đồng
về hình thái cấu tạo mà còn thể hiện qua sự giống nhau về nguồn gien hữu ích
trong cơ thể chúng. Vì vậy các taxon cùng bậc thƣờng có giá trị sử dụng giống
nhau. Lợi dụng đặc tính này ngƣời ta đã và đang đi tìm các loài cây đáp ứng yêu
cầu nguyên liệu công nghiệp, y dƣợc, thực phẩm... đặc biệt là nguyên liệu thay thế
các loài cây quen dùng nhƣng đã cạn kiệt.
Bƣớc đi trong phƣơng pháp này là: Nghiên cứu phân loại, đánh giá tính đa
dạng thành phần loài thực vật làm thuốc, đƣa ra các biện pháp bảo tồn.
a) Chuẩn bị
- Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đã và đang nghiên cứu về nhóm tài
nguyên cây thuốc.
- Chuẩn bị đầy đủ các loại bảng biểu, sổ ghi chép để ghi lại những kết
quả điều tra đƣợc.
- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết nhƣ: Thƣớc dây, máy GPS, Máy ảnh,
địa bàn....
- Chuẩn bị các tƣ trang cá nhân phục vụ cho quá trình điều tra ngoài
thực địa.