BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
======
CAO THỊ PHƢƠNG THÚY
DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trịnh Thị Lan
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới
cô giáo TS Trịnh Thị Lan - ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo trong Khoa
Ngữ văn trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội II cùng các thầy cô đã tận tình
giảng dạy trong những chuyên đề cao học vừa qua, giúp bản thân tôi có đƣợc
vốn kiến thức đa dạng, phong phú, sâu sắc.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã luôn nhận
đƣợc sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và ngƣời thân trong gia đình. Tôi
xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................... 11
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở
THPT theo định hƣớng phát triển năng lực của học sinh ............................... 11
1.1. Những vấn đề lí luận về dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học
sinh trong môn Ngữ văn ở trƣờng phổ thông.................................................. 11
1.1.1.Quan điểm về năng lực .......................................................................... 11
1.1.2. Quan điểm về dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh.. 14
1.1.3. Quan điểm định hƣớng phát triển năng lực học sinh trong dạy học Ngữ
văn ở trƣờng phổ thông ................................................................................... 25
1.2. Truyện cổ tích Tấm Cám và dạy học truyện cổ tích Tấm Cám trong
chƣơng trình Ngữ văn 10 THPT ..................................................................... 28
1.2.1. Khái quát về truyện cổ tích ................................................................... 28
1.2.2. Truyện cổ tích trong chƣơng trình Ngữ văn 10 và khả năng dạỵ học
truyện cổ tích trong chƣơng trình Ngữ văn 10 theo định hƣớng phát triển năng
lực .................................................................................................................... 32
1.3. Thực tiễn dạy học truyện cổ tích Tấm Cám trong nhà trƣờng ................. 37
1.3.1. Về việc dạy học truyện cổ tích Tấm Cám của giáo viên ...................... 37
1.3.2. Về việc học truyện cổ tích Tấm Cám của học sinh............................... 39
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 40
Chƣơng 2: Tổ chức dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở THPT theo định
hƣớng phát triển năng lực của học sinh .......................................................... 41
2.1. Một số yêu cầu đối với việc tổ chức dạy học truyện cổ tích “Tấm Cám” ở
THPT theo định hƣớng phát triển năng lực của học sinh .............................. 41
2.1.1. Cần đảm bảo mục tiêu bài học cơ bản cho học sinh về kiến thức, kĩ
năng và thái độ ................................................................................................ 41
2.1.2. Đảm bảo phát triển một số năng lực chung và năng lực chuyên biệt ... 42
2.1.3. Cần tổ chức linh hoạt giờ học văn truyện cổ tích Tấm Cám cho học sinh
THPT ............................................................................................................... 43
Viết tắt
Viết đầy đủ
1
THPT
Trung học phổ thông
2
KHTN
Khoa học tự nhiên
3
THCS
Trung học cơ sở
4
SGK
Sách giáo khoa
5
PDSS
Phƣơng diện so sánh
11
CTGD
Chƣơng trình giáo dục
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
1.1. Yêu cầu đổi mới của giáo dục nói chung và môn Ngữ văn ở THPT nói
riêng trong giai đoạn hiện nay
Thế giới đang thay đổi từng ngày. Nếu nhƣ ba cuộc cách mạng công
nghiệp trong lịch sử loài ngƣời trƣớc đó diễn ra phải cách nhau gần 100 năm
(lần thứ nhất từ năm 1784, lần thứ hai từ năm 1870, lần thứ ba từ năm 1969)
thì cuộc cách mạng lần thứ tƣ lại diễn ra nhanh chóng, chỉ cách lần gần nhất
gần 30 năm. Cuộc công nghiệp cách mạng lần thứ tƣ đang diễn ra từ những
năm 2000, còn đƣợc gọi là cuộc cách mạng số. Hai cuộc cách mạng công
nghiệp nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đã đem lại cơ hội
phát triển vƣợt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với
mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển.
Theo Hội Hoàng gia Anh, chỉ trong vòng 10, 15 năm nữa, 70% các nghề
nghiệp hiện có sẽ biến mất và sẽ xuất hiện những nghề nghiệp mới. Mặt khác,
những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trƣờng,
và truyền thông trong dạy và học” với quan điểm “Chuyển mạnh quá trình
giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục
nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Tiếp theo đó,
Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 (28/11/2014) về đổi mới
chƣơng trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong bản Nghị quyết có nhấn mạnh một số
nội dung nhƣ mục tiêu đổi mới “nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về
chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và
định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ
kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng
lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học
3
sinh”, “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm
việc nhóm và khả năng tư duy độc lập: đa dạng hóa hình thức tổ chức học
tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là công
nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục
gia đình và xã hội”, “Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng
giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; phản
ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình; cung cấp thông tin chính
xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt
động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh”.
Và mới đây nhất, Bộ giáo dục và đào tạo đã công bố Dự thảo về
Chƣơng trình giáo dục phổ thông (Chƣơng trình tổng thể) (24/01/2017)
và xin ý kiến của các cán bộ quản lí, giáo viên và nhân dân trên toàn quốc. Dự
thú với môn học. Cùng với yêu cầu nhân lực của xã hội, sự bùng nổ của các loại
hình giải trí, đặc điểm tâm lí lứa tuổi…đa phần học sinh chọn đầu tƣ học tập theo
khối KHTN. Vì vậy, môn Ngữ văn dần mất đi vai trò chính yếu của mình trong sự
đầu tƣ về công sức, thời gian học tập của học sinh.
Trƣớc thực tế đó, việc đổi mới về nội dung, mục tiêu, phƣơng pháp dạy học
Ngữ văn càng đƣợc đặt ra cần thiết để góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục và
đào tạo, hình thành những con ngƣời đáp ứng yêu cầu của xã hội mới, phát triển
đất nƣớc và hội nhập quốc tế.
1.2. Đặc điểm, vị trí, vai trò quan trọng của thể loại truyện cổ tích nói
chung, tru ện cổ tích Tấm Cám nói riêng
Trong chƣơng trình Ngữ văn THPT, các sáng tác dân gian là những giá
trị văn học đƣợc tiếp cận đầu tiên. Các tác phẩm đƣợc lựa chọn dựa trên
nguyên tắc tích hợp và phát triển chƣơng trình Ngữ văn THCS theo cấu trúc
5
lịch sử văn học. Ở chƣơng trình lớp 10, học sinh đƣợc học thêm tác phẩm
thuộc thể loại sử thi , truyền thuyết và truyện cổ tích dân gian.
Truyện cổ tích là những sáng tác tự sự dân gian, thƣờng kể về số phận
của những con ngƣời bất hạnh trong xã hội. Các sáng tác ấy đƣợc truyền
miệng và tồn tại từ hết thế hệ này đến thế hệ khác, thể hiện quan niệm đạo
đức, lí tƣởng và mơ ƣớc của nhân dân về hạnh phúc và công lí xã hội. Truyện
cổ tích cũng nhƣ nhiều sáng tác dân gian khác có ảnh hƣởng sâu sắc, trở thành
nền tảng của văn học viết Việt Nam. Truyện cổ tích không chỉ là những giấc
mơ đẹp của con ngƣời lao động xƣa với bao điều kỳ thú và hấp dẫn, mà còn là
bài học, niềm tin, ƣớc mơ về những điều tốt đẹp và lƣơng thiện. Con ngƣời
hƣớng về cổ tích không chỉ thỏa mãn cho riêng mình niềm say mê đối với văn
học mà còn tìm đến sự trong sáng và bình an cho tâm hồn. Trong nhà trƣờng,
việc đƣa vào chƣơng trình giảng dạy những câu truyện cổ cũng nhằm mục
với thực tế đời sống trong hiện tại.
Trong quá trình tiếp nhận và học tập, học sinh có thể tiếp cận văn bản
từ các nguồn khác nhau sách giáo khoa, truyện tranh, nghe kể, xem phim…)
nên sẽ có khả năng tiếp cận một số dị bản hoặc tiếp cận tác phẩm không trọn
vẹn. Điều này sẽ dẫn tới một số vấn đề phức tạp khi giảng dạy tác phẩm.
Không chỉ vậy, thực tế đời sống sẽ khiến cho học sinh đặt ra những vấn đề
liên quan đến tác phẩm cần lời giải đáp thỏa đáng nếu không sẽ dẫn đến nhiều
suy nghĩ hay hành động tiêu cực.
Do đó, việc dạy học truyện cổ tích ở THPT nói chung, Tấm Cám nói
riêng cần có sự đổi mới theo hƣớng đi chung của giáo dục hiện đại theo định
hƣớng phát triển năng lực ngƣời học để học sinh có thể vừa tiếp nhận các tri
thức, vừa rèn luyện các kĩ năng, vừa hình thành và bồi đắp các giá trị sống,
các năng lực và phẩm chất cần có.
Chính bởi những lí do cơ bản trên mà chúng tôi đã lựa chọn và nghiên
cứu đề tài Dạ học tru ện cổ tích Tấm Cám” ở trung học phổ thông theo
định h ớng phát triển năng
c của học sinh với mong muốn đóng góp một
phần nhỏ vào công cuộc đổi mới chung, phù hợp với bối cảnh và yêu cầu giáo
dục của Việt Nam trong hiện tại.
7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Nghiên c u về việc dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở tr
ng THPT.
cách thức tiếp cận tác phẩm cũng nhƣ phƣơng pháp giảng dạy trong nhà
trƣờng. Trong đó, tiêu biểu phải kể đến Nguyễn Thanh Hùng đã đƣa ra bài
viết thể hiện quan điểm nên dạy truyện cổ tích Tấm Cám theo tiến trình cốt
truyện, nếu không sẽ chỉ nhìn Tấm Cám “nhƣ một sự bội ƣớc cổ tích”; tác giả
Bùi Minh Đức tập trung đề xuất phƣơng pháp dạy- học Tấm Cám theo định
hƣớng phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo; tác giả Trịnh Thị Lan thì đề xuất
hƣớng khai thác Tấm Cám bằng cách vận dụng ngôn ngữ học văn bản,
Nguyễn Thị Kim Dung chọn hƣớng dạy học tích hợp…Có thể nhận thấy, các
tác giả đã đề xuất những hƣớng tiếp cận phù hợp, bám sát sự đổi mới của
phƣơng pháp dạy học với mục đích đạt đƣợc mục tiêu giáo dục trong quá
trình triển khai bài học. Những hƣớng tiếp cận này cũng là đƣờng hƣớng gợi
mở, so sánh, đối chiếu cho chúng tôi khi triển khai thực hiện nghiên cứu đề tài
này.
2.2. Nghiên c u về dạy học theo định h ớng phát triển năng
và dạy học Ngữ văn theo định h ớng năng
c nói chung
c nói riêng.
Nghiên cứu về dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực của học
sinh nói chung đã đƣợc đề cập đến trong những năm 90 của thế kỉ, đƣợc vận
dụng linh hoạt trong nền giáo dục của nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, các nhà
giáo dục hàng đầu cũng đã rất tâm huyết với vấn đề này, tập trung nghiên cứu
những cơ sở lí luận, nguyên tắc vận dụng phù hợp với đặc điểm tình hình
riêng của đất nƣớc. Những tác giả đó phải kể đến Nguyễn Văn Cƣờng, Lê
Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội….Đối với riêng môn Ngữ văn, những tác
giả đó phải kể đến Đỗ Ngọc Thống, Bùi Mạnh Hùng, Phạm Minh Diệu, Bùi
Minh Đức….Những công trình nghiên cứu hoặc những kinh nghiệm sẻ chia
10
dân gian nói chung, truyện cổ tích và truyện cổ tích Tấm Cám nói riêng.
Chúng tôi cũng đã phân tích các tài liệu viết về năng lực và giáo dục theo
định hƣớng năng lực để từ đó so sánh và hình thành cơ sở khoa học cho vấn
đề nghiên cứu.
6.2. Ph ơng pháp phân tích hệ thống
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để xử lý các kết quả khảo sát, kết quả
thực nghiệm để làm cơ sở đánh giá tính đúng đắn và khả thi của đề tài.
6.3. Ph ơng pháp th c nghiệm
Chúng tôi cũng đã xây dựng các dự án để thiết kế bài dạy thực nghiệm,
tiến hành thực nghiệm và phân tích kết quả thực nghiệm.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
luận văn đƣợc triển khai qua 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học truyện cổ tích Tấm
Cám ở THPT theo định hƣớng phát triển năng lực của học sinh.
Chƣơng 2: Tổ chức dạy học truyện cổ tích Tấm Cám ở THPT theo định
hƣớng phát triển năng lực của học sinh.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
11
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học truyện cổ tích Tấm Cám
ở THPT theo định hƣớng phát triển năng lực của học sinh
1.1. Những vấn đề lí luận về dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực
Theo P.A. Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lí của con ngƣời chi
phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng nhƣ hiệu quả
thực hiện một hoạt động nhất định. [23,tr.12]
Xavier Roegiers (1996) lại cho rằng năng lực là sự tích hợp các kĩ năng
tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho
trƣớc, để giải quyết những vấn đề mà tình huống này đặt ra.[23, tr.12]
Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của hội đồng châu
Âu, sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng lực, F.E.Weinert kết luận:
“năng lực đƣợc thể hiện nhƣ một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc
những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con ngƣời đủ điều kiện vƣơn tới một
mục đích cụ thể”. Cũng trong diễn đàn này, J.Coolahan UB châu Âu 1996,
p.26) cho rằng : năng lực đƣợc xem nhƣ là những khả năng cơ bản dựa trên
cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hƣớng của một con ngƣời
đƣợc phát triển thông qua thực hành giáo dục”.
Tác giả Đỗ Ngọc Thống đã đƣa ra nhận xét rằng: với các khái niệm đã
đƣa ra về năng lực, dù câu chữ và cách phát biểu có khác nhau những tất cả
đều khẳng định: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải
biết làm know- how), chứ không chỉ biết và hiểu (know- what). Tất nhiên,
hành động làm), thực hiện ở đây là phải gắn với ý thức và thái độ; phải có
kiến thức và kĩ năng chứ không phải làm một cách “máy móc” và “mù
quáng”.
Trong thời điểm hiện tại, thế giới đang công nhận mô hình năng
lực phổ biến của Anh, đƣợc gọi là mô hình ASK để áp dụng trong yêu cầu
phát triển nghề nghiệp. Năng lực đƣợc bao gồm ba yếu tố cơ bản: Kiến thức
( Knowledge), Kỹ năng Skill), Thái độ ( Attitude).
13
(Nguồn: Internet)
1.1.2.1. Yêu cầu của dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học
sinh
Chƣơng trình giáo dục định hướng năng lực định hƣớng phát triển
năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra đƣợc bàn đến
nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hƣớng giáo
dục quốc tế. Giáo dục định hƣớng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực
ngƣời học. Chƣơng trình này chủ trƣơng giúp học sinh không chỉ biết học
thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng
tri thức học để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra, nghĩa là phải
gắn với đời sống thực tiễn.
Giáo dục định hƣớng năng lực nhằm đảm bảo chất lƣợng đầu ra của
việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân
cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn
nhằm chuẩn bị cho con ngƣời năng lực giải quyết các tình huống của cuộc
sống và nghề nghiệp. Chƣơng trình này nhấn mạnh vai trò của ngƣời học với
tƣ cách chủ thể của quá trình nhận thức.
Khác với chƣơng trình định hƣớng nội dung hay còn gọi là chƣơng
trình giáo dục định hƣớng đầu vào), chƣơng trình dạy học định hƣớng năng
15
lực tập trung vào việc mô tả chất lƣợng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối
cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lƣợng dạy học chuyển từ việc
“điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.
Chƣơng trình dạy học định hƣớng năng lực không quy định những nội
dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá
trình giáo dục, trên cở sở đó đƣa ra những hƣớng dẫn chung về việc lựa chọn
nội dung, phƣơng pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo
Nội
dung
Việc lựa chọn nội dung
HS một cách liên tục.
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt đƣợc
dựa vào các khoa học kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình
giáo dục chuyên môn, không gắn huống thực tiễn. Chƣơng trình chỉ quy định
với các tình huống thực những nội dung chính, không quy định chi
tiễn. Nội dung đƣợc quy tiết.
định chi tiết trong chƣơng
16
trình.
Phƣơng
pháp
Giáo viên là ngƣời truyền
- Giáo viên chủ yếu là ngƣời tổ chức,
thụ tri thức, là trung tâm hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri
dạy học của quá trình dạy học. HS thức. Chú trọng sự phát triển khả năng
tiếp thu thụ động những tri giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;
giá kết
xây dựng chủ yếu dựa trên có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học
quả học
sự ghi nhớ và tái hiện nội tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các
tập của
dung đã học.
tình huống thực tiễn.
HS
[1, tr. 9]
1.1.2.2. Hệ thống các năng lực cần đƣợc hình thành và phát triển cho học
sinh
Để xác định các năng lực chung cho chƣơng trình giáo dục của một
quốc gia, cần dựa trên các yêu tố cơ bản:
17
(1) Yêu cầu phát triển của đất nƣớc trong một giai đoạn cụ thể, nhất là
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và đào tạo một thế hệ công dân đáp ứng
đƣợc những thách thức trong tƣơng lai.
(2) Thực trạng năng lực của học sinh nói riêng và của ngƣời lao động nói
chung của đất nƣớc
(3) Xu thế quốc tế về phát triển năng lực cho học sinh trong nhà trƣờng
1.1.2.3.1. Những định hƣớng chung, tổng quát về đổi mới phƣơng pháp
dạy học các môn học thuộc chƣơng trình giáo dục định hƣớng phát triển năng
lực
Để phát triển năng lực ngƣời học, các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong
quá trình giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh,
từ đó hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng SGK, nghe, ghi chép,
tìm kiếm thông tin,...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập,
sáng tạo của tƣ duy. Ngƣời giáo viên có thể chọn lựa một cách linh hoạt các
phƣơng pháp chung và phƣơng pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy
nhiên, dù sử dụng bất kỳ phƣơng pháp nào cũng phải đảm bảo đƣợc nguyên
tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hƣớng dẫn
của giáo viên”. Việc sử dụng phƣơng pháp dạy học gắn chặt với các hình
thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tƣợng và điều kiện cụ
thể mà có thể thiết kế những hình thức tổ chức thích hợp nhƣ học cá nhân,
học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp... Đối với những giờ học thực hành,
giáo viên cần chuẩn bị tốt về phƣơng pháp để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ
năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho
ngƣời học. Để hình thành và phát triển năng lực của học sinh, giáo viên cũng
nên sử dụng đa dạng các phƣơng tiện dạy học, kết hợp sử dụng công nghệ
thông tin phù hợp, kích thích sự yêu thích, sự sáng tạo, thông minh của học
sinh.