Dạy học môn công nghệ 11 ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh” - Pdf 35

MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong xã hội tri thức, một xã hội mà tri thức trở
thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong xã hội
tri thức đó, con người là yếu tố trung tâm, là chủ thể kiến tạo nên xã hội. Hơn
nữa, thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống luôn đòi hỏi
ngày càng cao ở đội ngũ lao động. Bên cạnh năng lực chuyên môn, người lao
động cần có những năng lực chung, quan trọng nhất là năng lực hành động,
năng lực cộng tác làm việc, khả năng sáng tạo và linh hoạt, khả năng giải
quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập
suốt đời, khả năng sử dụng các phương tiện mới, đặc biệt là công nghệ tin
học, khả năng sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp và làm việc, tính tự lực và
tính trách nhiệm. Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc đào tạo con
người; trình độ giáo dục trở thành yếu tố tranh đua quốc tế mang lại lợi ích và
vị thế cho đất nước.
Điều 27 Luật giáo dục năm 2005 quy định mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng
tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, …
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 (Ban hành kèm theo Quyết
định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ)
trong mục IV.1 về “Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2020” đã nêu rõ:
“Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế;
chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo
đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ
và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri
thức”.
1


2


định chọn đề tài “Dạy học môn Công nghệ 11 ở trường trung học phổ thông
theo định hướng phát triển năng lực học sinh”
II. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ở trường trung học phổ
thông.
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực của học sinh thông qua học tập môn
Công nghệ và một số biện pháp nhằm phát triển năng lực cho học sinh trong dạy
học môn Công nghệ 11.
- Phạm vi nghiên cứu: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho
học sinh trung học phổ thông qua dạy học môn Công nghệ 11.
III. CẤU TRÚC BÁO CÁO
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
báo cáo được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học theo định hướng
phát triển năng lực.
Chương II. Dạy học môn Công nghệ 11 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh.
Chương III. Thực nghiệm sư phạm.

3


CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG

chủ nghĩa như Abdullina, Gonobolin, Vưgôtxki,… cũng đã đưa ra hệ thống
các kĩ năng giảng dạy và giáo dục nhằm mục đích phát triển năng lực hoạt
động thực tiễn của học sinh …
Bên cạnh đó, ở các nước phương Tây cũng xuất hiện các công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập đến việc phát triển các năng lực cần
thiết cho người học trong tổ chức dạy học.
Ở châu Á – Thái Bình Dương trong những năm gần đây, vấn đề phát
triển năng lực hoạt động thực tiễn cho người học luôn được các quốc gia quan
tâm, từ đó đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả đi sâu nghiên
cứu vấn đề này. Vào năm 1988 tại Soul – Hàn Quốc, trong Hội thảo của
Chương trình châu Á và Thái Bình Dương về canh tân giáo dục vì sự phát
triển do Tổ chức Apeid thuộc UNESCO tổ chức, các nhà khoa học đã xác
định tầm quan trọng và thống nhất khẳng định phải hình thành những năng
lực cần thiết cho người học đồng thời cũng nêu ra những bất cập trong tổ
chức quá trình dạy học làm cản trở sự phát triển năng lực ở người học.
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu kể trên, có thể thấy: các nhà
khoa học giáo dục xã hội chủ nghĩa đã khẳng định phải hình thành các năng
lực cho người học và phát triển những năng lực cần thiết cho người học trong
tổ chức quá trình dạy học ở trong các nhà trường. Bên cạnh đó, các nhà khoa
học giáo dục phương Tây và châu Á – Thái Bình Dương mặc dù rất chú ý
hình thành các năng lực cho người học thông qua các hoạt động dạy học,
nhưng lại xem xét, cải thiện, hình thành năng lực cho người học theo khía
cạnh tâm lý học hành vi hơn là tổ chức quá trình dạy học. Tuy nhiên, những
nghiên cứu trên cũng phần nào hé mở một cách tiếp cận mới: Tiếp cận đào tạo
theo năng lực.

5


1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước


đề học tập, tránh quá tải về kiến thức, dành đủ thời gian cho các hoạt động
của học sinh nhằm rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ [12,tr.5].
Bàn về các giải pháp bồi dưỡng năng lực cho người học, có nhiều tác
giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra các ý kiến khác nhau. Tác giả
Bùi Văn Quân cho rằng: “Muốn thực hành được những tri thức đó cần phải cụ
thể hóa chúng trong từng lĩnh vực và hoạt động thực tiễn cụ thể” [33,tr.23].
Trong khi đó, hai tác giả Nguyễn Thị Tính và Đỗ Văn Quân cho rằng: “Việc
làm những bài tập lớn sẽ tạo cơ hội thuận lợi nhất cho người học vận dụng
những kiến thức đã được tích lũy vào việc giải quyết những vấn đề của thực
tiễn và của khoa học giáo dục đặt ra”[41,tr.9]. Còn theo tác giả Vũ Minh Tâm
thì cần phải tăng cường giáo dục ý thức tự đào tạo, tự rèn luyện những năng
lực cần thiết của người học [38].
Nhìn lại quá trình lịch sử nghiên cứu về năng lực và vấn đề phát triển
năng lực người học của các tác giả trong và ngoài nước có thể nhận thấy:
Năng lực và dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh được sự quan
tâm đông đảo của các nhà khoa học giáo dục và được nghiên cứu dưới nhiều
hình thức khác nhau và nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế
giới. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về biện pháp
dạy học môn Công nghệ 11 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
1.2. LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Khái niệm năng lực
Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “competentia” có nghĩa là
“gặp gỡ”. Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận
khác nhau.
Theo từ điển tiếng Việt: “năng lực” được hiểu là “khả năng, điều kiện
chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc “là


giản. Tuy nhiên, có thể hiểu năng lực là tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái
độ đủ để thực hiện một nhiệm vụ, một hoạt động nào đó đạt được kết quả.
8


1.2.1.2. Các đặc điểm của năng lực
Qua tìm hiểu về khái niệm năng lực, có thể thấy năng lực được thể hiện
thông qua hoạt động có kết quả của cá nhân. Vì vậy, năng lực chỉ có thể quan
sát được qua hoạt động của cá nhân ở các tình huống xác định. Tuy nhiên,
trong điều kiện như nhau, những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến
thức, kĩ năng, kĩ xảo với nhịp độ khác nhau. Năng lực là những sự khác biệt
tâm lý cá nhân làm cho người này khác người kia. Năng lực không phải là bất
kì những sự khác nhau cá biệt chung chung nào đó mà là những sự khác biệt
có liên quan đến hiệu quả của việc thực hiện một hoạt động nào đó.
Năng lực luôn tồn tại dưới hai hình thức là năng lực chung và năng lực
chuyên biệt. Trong đó, năng lực chung là năng lực cần thiết để cá nhân có thể
tham gia hiệu quả vào nhiều hoạt động và trong các bối cảnh khác nhau của
đời sống xã hội. Năng lực chung cần thiết cho tất cả mọi người. Tuy nhiên,
năng lực chuyên biệt (ví dụ: năng lực vẽ kĩ thuật, …) chỉ cần thiết với một số
người hay cần thiết trong một số tình huống nhất định.
Năng lực của học sinh được hình thành và phát triển trong và ngoài nhà
trường. Nhà trường được coi là môi trường chính thức giúp học sinh có được
những năng lực cần thiết. Song các môi trường ngoài nhà trường như gia
đình, cộng đồng, môi trường văn hóa, … cũng góp phần bổ sung và hoàn
thiện năng lực học sinh.
Năng lực và các thành tố của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ
năng lực sơ đẳng, thụ động tới năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân. Vì
vậy, để xem xét năng lực của một cá nhân nào đó, chúng ta không chỉ nhằm
tìm ra cá nhân đó có những thành tố năng lực nào mà còn chỉ ra mức độ của
những năng lực đó. Năng lực được hình thành và phát triển liên tục trong suốt

hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), người ta đã sử dụng mô hình năng lực
này để phân chia năng lực thành hai nhóm chính, đó là các năng lực chung và
các năng lực chuyên môn [8,tr.30]:
- Nhóm năng lực chung bao gồm: khả năng hành động độc lập thành
công; khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự
chủ; khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất.
10


- Năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt.
Ví dụ: Nhóm năng lực chuyên môn trong môn Công nghệ (Kĩ thuật
công nghiệp) bao gồm các năng lực sau đây: giải quyết các vấn đề kỹ thuật;
sử dụng các tiêu chuẩn về trình bày bản vẽ kỹ thuật đúng quy định; đọc và lập
bản vẽ; …
b) Dựa vào mức độ sáng tạo trong hoạt động, người ta chia năng lực thành
hai loại là năng lực tái tạo và năng lực sáng tạo.
c) Howard Gardner, giáo sư tâm lý học của đại học Harvard (Mỹ) (1996)
[48,tr.11] đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích biểu hiện của
trí tuệ con người. Ông khẳng định rằng: Mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều
phải được thể hiện hoặc bộc lộ dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao. Để
giải quyết một vấn đề “có thực” trong cuộc sống thì con người không thể huy
động duy nhất một mặt biểu hiện của trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặt
biểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau. Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá
nhân. Cũng theo Howard Gardner có thể chia ra 8 dạng “thông minh”. Thuật
ngữ “thông minh” còn được gọi là “trí tuệ” (theo cách gọi của Howard
Gardner): Trí tuệ Lôgic – Toán học (Logical – Mathematical – còn gọi là
năng lực tư duy), trí tuệ ngôn ngữ (Verbal – Linguistic – Năng lực ngôn ngữ),
trí tuệ vận động cơ thể (Bodily – Kinesthetic – Năng lực biểu diễn), trí tuệ âm
nhạc (musical – Năng lực âm nhạc), trí tuệ không gian (Visual – Spatial –
Năng lực thị giác), trí tuệ hướng ngoại (Interpersonal – Năng lực tương tác),

1.2.2. Năng lực học sinh trung học phổ thông
1.2.2.1. Năng lực của học sinh trung học phổ thông
Ở một số nước trên thế giới, việc phát triển năng lực cho học sinh đã
được đề cập trong chương trình giáo dục phổ thông.
* Năng lực của học sinh trung học phổ thông của một số nước như
Australia [32] được yêu cầu trong chương trình giáo dục gồm:
+ Năng lực đọc hiểu.
+ Năng lực làm toán.
+ Năng lực giao tiếp.
+ Năng lực giải quyết vấn đề.
12


+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin.
* Năng lực của học sinh trung học phổ thông do Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế OECD đề nghị gồm:
+ Năng lực giải quyết vấn đề.
+ Năng lực xã hội.
+ Năng lực linh hoạt, sáng tạo.
+ Năng lực sử dụng thiết bị một cách thông minh.
* Trong đề tài nghiên cứu khoa học “Tổng quan về các khung năng lực
cần đạt ở học sinh trong mục tiêu giáo dục phổ thông”, tác giả Nguyễn Thị
Minh Phương đã đề xuất 4 nhóm năng lực thể hiện khung năng lực cần đạt
cho học sinh phổ thông Việt Nam [32, tr.43-44]:
+ Năng lực nhận thức
+ Năng lực xã hội
+ Năng lực thực hành (hoạt động thực tiễn)
+ Năng lực cá nhân
1.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển năng lực
của học sinh trung học phổ thông

lực phi thường, khắc phục mọi khó khăn, kiên trì đi tới mục đích mới đạt
được kết quả tốt. Từ đó, cá nhân tự ý thức, tự đánh giá, tự giáo dục, tự điều
chỉnh hoạt động của bản thân để làm ra nhiều giá trị vật chất tinh thần cho xã
hội, cho bản thân ngày một tốt đẹp hơn. Vì vậy, giá trị cao nhất của nhân cách
con người đó là sản phẩm hoạt động [21,tr.13-15].
1.2.3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung
học phổ thông
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một
tên gọi khác hay một mô hình cụ thể hóa của chương trình định hướng kết quả
đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành. Ở mỗi nội dung của môn
học, mỗi nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình
thành các năng lực cho học sinh. Để mô tả năng lực học sinh, người ta thường
14


dùng các động từ chỉ hành động như: phân biệt, giải thích, phân tích, vận
dụng, xây dựng, …
Việc dạy học định hướng phát triển năng lực đòi hỏi những điều kiện
thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện vể tổ
chức, quản lý, nhân lực cũng như những nhận thức của người dạy và người
học, …
Phẩm chất và năng lực là hai bộ phận cấu thành nhân cách của mỗi
người. Phẩm chất liên hệ với hệ thống các thuộc tính tâm lý biểu hiện các mối
quan hệ xã hội cụ thể của một con người, thường được biểu hiện ở những cảm
xúc, thái độ và hành vi ứng xử. Còn năng lực liên hệ với hệ thống những
thuộc tính tâm lý, sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại
hoạt động nào đó với chất lượng cao. Phẩm chất và năng lực hoà quyện với
nhau, chi phối lẫn nhau. Năng lực bao giờ cũng bộc lộ trong hoạt động và gắn

nhiệt.
- Năng lực đọc sơ đồ cấu tạo.
Bước 2: Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh đòi hỏi sự
chuẩn bị kĩ càng của cả giáo viên và học sinh. Trong mỗi bài dạy, giáo viên
cần nghiên cứu nội dung bài học và tham khảo thông tin có liên quan tới nội
dung bài học trong các tài liệu tham khảo. Bên cạnh đó, giáo viên cần khai
thác, lựa chọn, cập nhật các thông tin trên mạng có liên quan đến nội dung bài
học. Ngoài ra, giáo viên cần giao nhiệm vụ cho học sinh (từ tiết học trước) để
học sinh có một tâm thế tiếp thu bài học tốt khi đã có sự chuẩn bị ở nhà.
Công nghệ 11 là môn học có tính ứng dụng cao, hầu hết các nội dung
môn học đều gắn với thực tiễn đời sống. Vì vậy, dạy học môn Công nghệ 11
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên cần có sự trang
bị đầy đủ về phương tiện dạy học.
Việc chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học giúp học sinh hiểu rõ
hơn về bản chất của mọi khái niệm trừu tượng, là cơ sở khoa học minh chứng
có sức thuyết phục, là sự vật trực quan sinh động nhất, giúp việc học trở nên
nhẹ nhàng, hiệu quả... Để tăng cường cơ sở vật chất cho môn học, giáo viên
16


bộ môn Công nghệ có thể đề xuất mua một số thiết bị dạy học để phục vụ cho
bài dạy hoặc khuyến khích học sinh sưu tầm một số thiết bị có trong thực tế,
hoặc khuyến khích học sinh và giáo viên tự làm thiết bị dạy học, … Ví dụ:
Trong phần Động cơ đốt trong môn Công nghệ 11, chúng ta có thể tìm mua
động cơ xe máy 4 kì (xe Honđa) và động cơ xe máy 2 kì (xe Simson). Thiết bị
này có thể dùng làm phương tiện trực quan cho các bài dạy: Bài 20. Khái quát
về động cơ đốt trong; bài 21. Nguyên lí làm việc của động cơ đốt trong; bài
22. Thân máy và nắp máy; bài 23. Cơ cấu trục khuỷu thanh truyền; bài 24. Cơ
cấu phân phối khí; bài 31. Thực hành: Tìm hiểu cấu tạo của động cơ đốt

chú ý các hoạt động học tập đó phải thiết thực, phù hợp với mức độ phát triển
về xã hội và trình độ học sinh. Đồng thời các hoạt động học tập cần khơi dậy
tính tò mò đối với người học và phải được liên hệ với những kinh nghiệm
sống hàng ngày của học sinh, từ đó học sinh sẽ hiểu được ý nghĩa của việc
học và tích cực hơn đối với việc học.
Từ những phân tích trên cho thấy, xuất phát từ mục tiêu phát triển năng
lực cho người học đòi hỏi người học sinh phải thao tác trí tuệ và thao tác vật
chất tốt. Do đó, phương pháp dạy học phải đảm bảo đạt được cả hai yếu tố đó.
Cần tạo điều kiện để học sinh thực hiện và luyện tập những hoạt động thành
phần tương ứng với nội dung và mục tiêu học tập. Đồng thời, học sinh cần
được luyện tập vận dụng kết hợp các thành phần kiến thức, kĩ năng, thái độ
trong những tình huống ứng dụng phức hợp.
Một người giáo viên khi tổ chức dạy học theo định hướng phát triển
năng lực cần phấn đấu để trong mỗi tiết học người học sinh được hoạt động
nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và suy nghĩ nhiều hơn
nhằm phát triển năng lực cho người học. Có thể nói, quyết định hiệu quả của
quá trình dạy học là những gì học sinh làm chứ không phải là những gì giáo
viên làm. Hoạt động phải nhằm vào mục tiêu kĩ năng, năng lực của học sinh
hơn là chỉ nhằm vào nội dung kiến thức.
1.2.3.3. Kiểm tra đánh giá năng lực học sinh
A. V. Petrovski đã quan niệm: “Kĩ năng là năng lực sử dụng các dữ
kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện
18


những thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm
vụ lí luận hay thực hành xác định”. Nói một cách cụ thể: kĩ năng là năng lực
hoặc là sự biểu hiện của năng lực. Kĩ năng đòi hỏi trước hết con người phải
có tri thức, kinh nghiệm cần thiết về hành động. Kĩ năng chỉ có được khi con
người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn có

luyện tác phong công nghiệp, tuân thủ quy trình công nghệ. Kết hợp sự đánh
giá của cá nhân học sinh, của nhóm học sinh và của giáo viên, trong đó sự
đánh giá của giáo viên là quyết định.
1.3. THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
1.3.1. Mục đích, phương pháp và tiến trình khảo sát
1.3.1.1. Mục đích khảo sát
Điều tra và đánh giá thực trạng dạy học môn Công nghệ và vấn đề phát
triển năng lực cho học sinh ở một số trường trung học phổ thông của tỉnh
Nam Định. Cụ thể là:
+ Tìm hiểu thực trạng dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ
thông theo hướng phát triển năng lực cho học sinh.
+ Thực trạng học môn Công nghệ của học sinh ở trường trung học phổ
thông hiện nay.
1.3.1.2. Phương pháp khảo sát
- Phương pháp quan sát sư phạm: Bằng phương pháp này, tác giả đã
tiến hành dự giờ một số tiết môn Công nghệ của một số giáo viên dạy môn
Công nghệ của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để thu thập thông tin phục vụ
cho việc đánh giá dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
- Phương pháp chuyên gia: Trực tiếp trao đổi và xin ý kiến của 18 giáo
viên để lấy ý kiến tư vấn, góp ý trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu và
đề xuất biện pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
- Tham quan phòng học bộ môn của trường.
- Khảo sát bằng phiếu hỏi
20


- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu giáo án của giáo viên,
bài thực hành của học sinh để phân tích, đánh giá sự chuẩn bị và hoạt động

* Về cơ sở vật chất của nhà trường
Thông qua tìm hiểu trực tiếp tại các trường và thông qua phỏng vấn
trực tiếp giáo viên, cho thấy: hầu hết các trường trung học phổ thông của tỉnh
Nam Định, nhất là các trường trung học phổ thông thuộc địa bàn huyện Hải
Hậu bước đầu đã được trang bị các thiết bị kĩ thuật dạy học như: bảng tương
tác, máy chiếu hắt, máy tính, máy chiếu projector, tuy nhiên chưa được đầy
đủ. Các thiết bị kĩ thuật kể trên có khả năng phục vụ hữu ích cho việc thực
hiện hiệu quả dạy học định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
Tuy nhiên, trong thực tế, cơ sở vật chất trang thiết bị cho dạy học môn
công nghệ chưa được các nhà trường chú trọng hoặc xây dựng. Đồ dùng dạy
học chủ yếu do giáo viên sưu tầm và tự xây dựng còn hạn chế, đơn lẻ, chưa có
hệ thống, … Vì vậy, điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu dạy
và học môn Công nghệ 11 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
* Về giáo viên
Thông qua phỏng vấn trực tiếp giáo viên, phiếu hỏi giáo viên và phiếu
hỏi học sinh, kết quả cho thấy: Phần lớn giáo viên môn Công nghệ ở các
trường trung học phổ thông của tỉnh Nam Định đều có trình độ đạt chuẩn, các
giáo viên này hầu hết được đào tạo từ khoa Sư phạm kĩ thuật của các trường
như: trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học Sư phạm Hà Nội II,
trường Đại học Sư phạm kĩ thuật Hưng Yên. Đây là một thuận lợi khá lớn
trong dạy học phát triển năng lực cho học sinh.
Khi tham gia các tiết dự giờ của giáo viên môn Công nghệ, tác giả nhận
thấy rằng, phương pháp dạy học tích cực được một số thầy cô sử dụng phổ
biến hiện nay bao gồm:
- Phương pháp dùng lời kết hợp với phương pháp sử dụng các phương
tiện trực quan (tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, mô hình, vật thật, kết hợp với tổ
chức hoạt động và thảo luận theo nhóm).
- Phương pháp dạy học có sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học
hiện đại như: máy tính, máy chiếu hắt, máy chiếu projector, …
22

nhiên, đối với những tiết học mà giáo viên chỉ áp dụng các phương pháp dạy
23


học truyền thống như thuyết trình, nếu có đặt câu hỏi thì những câu hỏi đó rất
dễ để học sinh có thể trả lời, học sinh không cần phải suy nghĩ, tổng hợp các
kiến thức. Nhất là với các tiết học không dùng các thiết bị dạy học thì học
sinh học tập một cách rất thụ động.
* Về học sinh
Do môn Công nghệ không thi tốt nghiệp, không thi đại học nên phần
lớn học sinh học tập chưa chủ động, chưa chú ý nghe giảng, học tập còn mang
tính đối phó. Trong giờ học, học sinh chủ yếu là nghe và ghi chép theo lời
giảng của thầy cô giáo, xem sách giáo khoa, quan sát đồ dùng dạy học (tranh
ảnh, mô hình, mô phỏng, …). Về nhà, học sinh cũng chỉ cố gắng làm những
bài tập mà thầy cô giao cho. Hầu hết các em ít hoặc chưa được tham gia học
theo nhóm các phương pháp dạy học tích cực như phương pháp dạy học theo
góc, phương pháp dạy học dự án. Trong giờ học thực hành, nhiều em không
thường xuyên trực tiếp làm thực hành, chủ yếu xem thầy cô và một số bạn
trong nhóm làm. Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy
tính, máy chiếu projector chưa được thường xuyên. Học sinh ít được hoạt
động, ít động não, không chủ động và tích cực lĩnh hội kiến thức. Học sinh
còn lúng túng khi phải giải quyết những vấn đề gắn với thực tiễn, ...
1.3.2.2. Kết quả định lượng
Thông qua thực tế điều tra với 18 giáo viên, kết quả cho thấy việc phát
triển năng lực cho học sinh bước đầu đã được giáo viên chú ý:
- Một số ít các thầy cô đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để
tích cực hoá hoạt động của học sinh, có 83% số giáo viên được hỏi không
thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực; tất cả các giáo viên
được hỏi đều chưa sử dụng phương pháp dạy học theo dự án.
- Để chuẩn bị cho một bài dạy trên lớp, có 66,7% số giáo viên trả lời

lượng dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status