ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA RAU CHÙM NGÂY (Moringa oleifera) TẠI HUYỆN CHƯ PĂH TỈNH GIA LAI - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT CỦA RAU CHÙM NGÂY (Moringa oleifera)
TẠI HUYỆN CHƯ PĂH TỈNH GIA LAI

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN VĂN VINH

Ngành:

NÔNG HỌC

Khóa:

2008 – 2012

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2012


ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT CỦA RAU CHÙM NGÂY (Moringa oleifera)
TẠI HUYỆN CHƯ PĂH TỈNH GIA LAI

Tác giả
NGUYỄN VĂN VINH




TÓM TẮT

Đề tài “Ảnh hưởng của một số loại phân bón đến sinh trưởng và năng suất rau
chùm ngây (Moringa oleifera) tại huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai” đã được thực hiện
năm 2012.
Thí nghiệm 2 yếu tố, được bố trí theo kiểu lô phụ (Splip Plot Design), 3 lần lặp
lại. Yếu tố A (yếu tố phụ) là ba loại phân hữu cơ, các loại phân hữu cơ được bón lót
trước khi trồng cây ra ruộng [A1: bón 30 tấn phân bò hoai/ha; A2: bón 30 tấn phân dê
ủ chế phẩm trichoderma/ha; A3: bón 30 tấn phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm/ha; A4:
không bón phân hữu cơ (đối chứng)]. Yếu tố B (yếu tố chính) là bốn loại phân bón lá
[B1: 20 ml ANHUMIX/16 lít nước, phun 7 ngày/lần; B2: 40 g Poly – Feed/16 lít nước,
phun 10 ngày/lần; B3: 50 ml AMINÔ CHELATE/16 lít nước, phun 10 ngày/lần; B4:
10 g HVP 1601WP/16 lít nước, phun 10 ngày/lần; và B5: phun nước lã (đối chứng)].
Nền phân bón (cho 1 ha): 153 kg Đạm Phú Mỹ (46% N) + 220 kg Lân Long Thành
(16% P2O5) + 60 kg KCl - Công ty cổ phần Sơn Luyến (60% K2O) (theo tỷ lệ 2:1:1).
Qua thí nghiệm theo dõi về các chỉ tiêu sinh trưởng như số lượng chồi/cây, số lá
thật trên cây, đường kính thân, đường kính tán, năng suất, cho thấy việc sử dụng phân
hữu cơ bón lót và phân bón lá cho rau chùm ngây đều mang lại hiệu quả cao về sinh
trưởng và năng suất cao hơn các nghiệm thức đối chứng không bón lót phân hữu cơ và
phun phân bón lá. Trong đó các nghiệm thức phun phân bón lá HVP 1601WP và bón
lót phân bò hoai có hiệu quả cao và khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê so với
nghiệm thức đối chứng.

iii


MỤC LỤC
CẢM TẠ ....................................................................................................................... i


2.5.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................. 13
2.5.2 Tình hình sản xuất trong nước .......................................................................... 14
2.6 Quy trình canh tác thực hiện trong thí nghiệm (Tổng hợp và cải tiến từ quy trình
trồng Nguyễn Đặng Toàn Chương, 2011) ................................................................. 16
2.6.1 Ươm cây ........................................................................................................... 16
2.6.2 Chuẩn bị đất ...................................................................................................... 16
2.6.3 Trồng và chăm sóc............................................................................................ 17
2.6.4 Thu hoạch ......................................................................................................... 18
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................. 19
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ....................................................................... 19
3.2 Vật liệu nghiên cứu.............................................................................................. 19
3.2.1 Hạt giống sử dụng trong nghiên cứu ................................................................ 20
3.2.2 Phân bón hữu cơ ............................................................................................... 20
3.2.2.1 Phân bò .......................................................................................................... 20
3.2.2.2 Phân dê .......................................................................................................... 20
3.2.2.3 Phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm ....................................................................... 20
3.2.3 Phân bón hóa học.............................................................................................. 21
3.2.4 Phân bón lá ....................................................................................................... 21
3.2.5 Thuốc trừ cỏ...................................................................................................... 21
3.2.6 Thuốc phòng trừ sâu, bệnh ............................................................................... 21
3.2.7 Một số dụng cụ sử dụng trong thí nghiệm ........................................................ 22
3.3 Phương pháp thí nghiệm...................................................................................... 22
3.4. Phương pháp xử lý số liệu .................................................................................. 25
Chương 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN ...................................................................... 26
4.1 Các chỉ tiêu giai đoạn vườn ươm......................................................................... 26
4.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến chiều cao cây trước khi
hãm ngọn ................................................................................................................... 27
4.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến đường kính thân......... 30
4.4 Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến số lá thật (lá/cây) ....... 34

................................................................................................................................... 35
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến đường kính tán
(cm) ............................................................................................................................ 40
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến số lượng chồi
(chồi/cây) ................................................................................................................... 43
Bảng 4.6: Tình hình sâu bệnh hại .............................................................................. 45
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến năng suất ngọn rau
chùm ngây (g/cây) ..................................................................................................... 46
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến năng suất thực thu
cây chùm ngây (g/ô) .................................................................................................. 49
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của phân hữu cơ bón lót và phân bón lá đến năng suất thực thu
cây chùm ngây quy đổi ra ha (kg/ha) ........................................................................ 50
Bảng 4.10 Chi phí phân hữu cơ bón lót ..................................................................... 51
Bảng 4.11 Chi phí phân bón lá .................................................................................. 51
Bảng 4.12 Lượng toán hiệu quả kinh tế của việc đầu tư phân hữu cơ bón lót và phân
bón lá cho cây lạc tiên làm rau trong 4 tháng đầu ..................................................... 53

vii


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của một số loại phân bón đến
sinh trưởng và năng suất của rau chùm ngây (Moringa oleifera) tại huyện Chư Păh,
tỉnh Gia Lai ....................................................................................................................23
Hình PL1: Hạt giống chùm ngây được thu thập từ hoang dại và được phơi khô .........58
Hình PL2: Hạt chùm ngây lúc mọc mầm ......................................................................58
Hình PL3: Cây chùm ngây trong bầu thời điểm 7 NSG................................................59
Hình PL4: Cây chùm ngây trong bầu thời điểm 12 NSG..............................................59
Hình PL5: làm đất, đào hố và bón lót trước khi trồng cây chùm ngây .........................60
Hình PL6: Cây chùm ngây trồng ra ruộng thí nghiệm 40 NSG (10 ngày sau trồng) ....60

ĐC

Đối chứng

ĐK

Đường kính

ĐKT

Đường kính tán

ĐKTh

Đường kính thân

EC

Thuốc dạng nhũ dầu

FAO

Food and Agriculturre Organization
(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp)

NTU

Nephelometric turbidity units (đơn vị đo độ đục)

NSG


WHO

World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

ix


Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cây chùm ngây (Moringa oleifera) được trồng rất phổ biến trên thế giới, nhất là
các quốc gia đang phát triển ở châu Á và châu Phi. Cây chùm ngây được xem là cây
trồng chống nạn thiếu dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phòng hộ giảm nhẹ
thiên tai. Hiện nay Mỹ là quốc gia nhập nguyên liệu chùm ngây thô nhiều nhất nhằm
sử dụng chiết suất trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm và đồ uống cao cấp.
Ở Việt Nam cây chùm ngây mọc hoang dại tại một số vùng có đặc tính đất cát
và thịt pha cát như Bà Rịa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đà Nẵng, Kiên Giang, đảo Phú
Quốc và là nguồn thực phẩm chính của đồng bào Chăm, Raglay (Vũ Quốc Trung,
2010). Từ lâu người dân địa phương đã biết sử dụng lá và ngọn non chùm ngây như
một loại rau giàu chất dinh dưỡng, nếu dùng thường xuyên có thể chống suy dinh
dưỡng và nhiều chứng bệnh. Cây chùm ngây cũng được các nhà sư sử dụng làm thuốc
chữa một số bệnh cứu người như cảm cúm, bao tử, gan, tiểu đường, tim mạch (Nguyễn
Công Đức, 2011).
Những nghiên cứu về cây chùm ngây mới đây cho thấy, các bộ phận của cây
chứa nhiều hợp chất dinh dưỡng gồm đạm, vitamin, beta caroten, acid amin, và nhiều
hợp chất phenol cao hơn rất nhiều so với các loại thực phẩm, trái cây thông thường
nên được hai tổ chức thế giới WHO và FAO xem như là giải pháp tốt cho các bà mẹ
thiếu sữa và trẻ em còi xương, đồng thời là giải pháp dinh dưỡng cho các nước đang
phát triển (Nguyễn Đặng Toàn Chương, 2011). Ngoài khả năng cung cấp chất dinh

- Theo dõi thời gian sinh trưởng của cây chùm ngây giai đoạn vườn ươm: ngày
ươm, ngày ra mầm.

2


- Theo dõi một số các đặc điểm sinh trưởng của cây chùm ngây giai đoạn kiến
thiết cơ bản: chiều cao cây, số lá trên thân chính, đường kính thân cây, đường kính tán,
số lượng chồi.
- Bước đầu ghi nhận năng suất rau chùm ngây.
- Theo dõi tình hình sâu bệnh hại xuất hiện trên ruộng thí nghiệm.
1.4 Giới hạn đề tài
- Các nghiên cứu về cây chùm ngây chưa được công bố nhiều, vì vậy tài liệu
tham khảo còn hạn chế.
- Đây là loại cây lâu niên vì vậy với thời gian thí nghiệm hạn hẹp, chưa đánh
giá được đầy đủ năng suất ở các giai đoạn sau thời gian kiến thiết cơ bản của vườn
cây.

3


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về cây chùm ngây
2.1.1 Nguồn gốc
Cây chùm ngây Moringa oleifera xuất xứ từ vùng Nam Á, có lịch sử hơn bốn
ngàn năm, nhưng phổ biến rất nhiều ở cả Châu Á và Châu Phi. Moringa oleifera là
loài được trồng phổ biến nhất trong chi Moringa, bao gồm 13 loài thuộc nhóm cây gỗ
và cây bụi phân bố trong phạm vi vùng Himalaya của Ấn Độ, Sri Lanka, Đông Bắc và
Nam Tây Phi, Madagascar và Ả Rập. Ngày nay nó đã được trồng tại nhiều vùng nhiệt

2 lần lượng protein của sữa; hơn 4 lần vitamin A của cà rốt; hơn 3 lần kali của chuối
(Donovan, 2007).
Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa có những hoạt tính như
kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u bướu, hạ nhiệt, chống
kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ
cholesterol, chống oxy hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm. Cây
đã được dùng để trị nhiều bệnh trong y học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam
Á. (Donovan, 2007).
Hạt chùm ngây có chứa một số hợp chất “đa điện giải” (polyelectrolytes) tự
nhiên có thể dùng làm chất kết tủa để làm trong nước. Kết quả thử nghiệm lọc nước:
nước đục (độ đục 15 - 25 NTU, chứa các vi khuẩn tạp 280 - 500 cfu ml, khuẩn E. coli
từ phân 280 - 500 MPN/100 ml) dùng hạt chùm ngây làm chất tạo trầm lắng và kết tụ,
đưa đến kết quả rất tốt (độ đục còn 0,3 – 1,5 NTU; vi khuẩn tạp còn 5 - 20 cfu; và
khuẩn E. coli còn 5 - 10 MPN/100 ml). Phương pháp lọc này rất hữu dụng tại các vùng
nông thôn của các nước nghèo và được áp dụng khá rộng rãi tại Ấn Độ (Jaiswal và ctv,
2005).
5


2.2 Đặc điểm thực vật học của cây chùm ngây
Cây chùm ngây có dạng sống là cây gỗ nhỏ, cao từ 8 – 10 m. Lá kép lông chim,
dài 30 - 60 cm, hình lông chim với nhiều lá chét màu xanh mốc, không lông, dài 1,3 –
2,0 cm, hình trứng, mọc đối có 6 - 9 đôi, rộng 0,3 - 0,6 cm; lá kèm bao lấy chồi. Hoa
thơm, to, dạng hơi giống hoa đậu, tràng hoa gồm 5 cánh, màu trắng, vểnh lên, rộng
khoảng 2,5 cm. Bộ nhị gồm 5 nhị thụ xen với 5 nhị lép. Bầu noãn 1 buồng có 3 lá
noãn. Quả nang dài từ 30 - 120 cm, rộng 2 cm, khi khô mở thành 3 mảnh dày, chỗ có
hạt hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh. Hạt nhiều (khoảng 20 hạt/quả), màu đen,
tròn dẹp có 3 cạnh, to khoảng 1 cm, có 3 cánh mỏng bao quanh, một năm cây cho
khoảng 15.000 đến 20.000 hạt. Cây trổ hoa vào các tháng 1 và 2.
2.3 Vai trò của các loại phân dùng trong nghiên cứu

khó tan và chuyển nó vào hợp chất không bền vững
Quần thể vi sinh vật trong đất sử dụng chất hữu cơ có trong đất là nguồn thức
ăn chính. Vì vậy đất càng nhiều chất hữu cơ thì quần thể vi sinh vật có lợi sẽ càng phát
triển mạnh và là yếu tố dễ chuyển hóa các nguồn dinh dưỡng như N, P, K cho cây
trồng sinh trưởng, phát triển, đồng thời sự phát triển của vi sinh vật đất là yếu tố quan
trọng để đánh giá độ phì nhiêu của đất.
Phân hữu cơ bón vào đất có tác động rất rõ đối với việc cải thiện các tính chất
vật lý của đất. Cơ chế của vấn đề này là sau khi chất hữu cơ được phân giải sẽ tạo ra
các acid mùn có tác dụng gắn kết các hạt đất tạo thành cấu trúc bền vững làm cho độ
tơi xốp của đất tăng lên, khả năng giữ ẩm và độ thấm nước cao hơn và hạn chế được
sự rửa trôi, xói mòn đất.
Phân hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất, phẩm chất
của cây trồng. Quan nhiều kết quả thí nghiệm về phân hữu cơ đối với năng suất cây
trồng trên hầu hết các loại đất cho thấy nếu không kết hợp phân hữu cơ với vô cơ thì
phân vô cơ bón nhiều cũng không cho năng suất cao bằng việc bón kết hợp hai loại
phân này với nhau (Mai Thị Mộng Cúc, 2010).

7


Ngoài ra, theo Dương Văn Chín (2007) vai trò chất hữu cơ chủ yếu được nhấn
mạnh ở khía cạnh cải thiện cơ cấu đất đai, gia tăng độ phì, còn có một vai trò khác là
phục hồi chức năng của đất bị xói mòn, dẽ chặt, kiềm hóa, sa mạc hóa làm giảm năng
suất và đe dọa đến việc sử dụng lâu dài cho mục đích trồng trọt. Sự trộn lẫn phân hữu
cơ vào trong đất làm gia tăng khả năng giữ nước của đất, điều đó rất cần thiết cho
vùng khô hạn. Mặt khác, hệ thống hữu cơ chứng minh tính ổn định và sự đàn hồi trong
việc phản ứng lại với những sự thay đổi thời tiết đột ngột.
2.3.1.3 Các loại phân hữu cơ
Về khía cạnh nông học có nhiều giải pháp, nhưng có lẽ thường xuyên hay định
kỳ bón phân hữu cơ vào đất để duy trì chất hữu cơ trong đất là một trong những giải

các lọai phân bón được tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân để cung cấp chất
dinh dưỡng cho cây trồng thông qua lá.
Theo Lê Văn Tri (2000), có hai cách chính để bón phân cho cây trồng đó là bón
phân qua rễ và bón qua lá. Nếu kết hợp cả hai cách trên sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
hơn. Khi bón phân qua lá, lượng phân được hòa tan vào nước ở nồng độ cho phép,
phun ướt đẫm lá, thân cây, quả và nó được chuyển vào bên trong và được sử dụng
ngay để kích thích toàn bộ cây. Nếu bón với nồng độ cao, cây sẽ bị ngộ độc và chết.
Nếu bón với nồng độ thấp thì hiệu quả không rõ. Vì vậy, trong một quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây phải bón nhiều lần ở những nồng độ thích hợp. Phân bón
lá có thể có các chất đa lượng, trung lượng, vi lượng, hoặc các chất kích thích tăng
trưởng.
Từ những năm 1950, các nhà khoa học Mỹ đã chứng minh được rằng cây trồng
có thể tiếp nhận chất dinh dưỡng qua lá, chủ yếu qua khí khổng của lá. Hiệu quả sử
dụng của các chất dinh dưỡng phun qua lá hơn từ 10 – 20 lần so với bón qua đất. Các
nhà khoa học Ý còn thấy rằng nhiều chất dinh dưỡng hữu cơ khác như các acid amin
cũng có thể đi vào cây qua lá.
9


Theo kết quả nghiên cứu sản xuất phân bón lá của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa
(1993), cây cối không những hấp thụ chất dinh dưỡng qua rễ mà còn hấp thụ qua lá
trong khi diện tích lá của cây lại gấp hàng chục lần diện tích mà rễ cây ăn tới.
2.3.2.2 Tình hình sử dụng phân bón lá trên một số loại cây rau ăn lá
Theo Hoàng Trọng Yêm (1995), hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới ngoài
việc sử dụng nhiều loại phân vi lượng còn sử dụng các chất tăng trưởng và kìm hãm
tăng trưởng thực vật. Các chất này có thể tăng trưởng năng suất từ 10 – 20% đối với
cây trồng.
Theo Bùi Đình Dinh (1995), nhờ các tiến bộ về hóa học, về sinh học, các dạng
phân phun qua lá đã được cải tiến và sử dụng có hiệu quả, phân phun qua lá mang lại
hiệu quả kinh tế cao.

trong lĩnh vực này sẽ làm cho kiến thức hiểu biết của ta về thiên nhiên trở nên manh
mún và có nguy cơ dẫn đến thất bại.
- Trong các hệ sinh thái, mỗi tác động từ bên ngoài đưa vào hệ, thường tạo ra
những phản ứng dây chuyền, lan rộng ra trong không gian theo các mạng lưới dinh
dưỡng, năng lượng, thông tin.
Bón phân là để làm tăng năng suất cây trồng. Năng suất phải đáp ứng được nhu
cầu của con người. Vì vậy, nếu phân bón còn để lại dư lượng trong nông sản, nếu
trong nông sản có nhiều NO3-, nhiều kim loại nặng thì nông sản không đáp ứng được
nhu cầu của con người.
- Tạo cơ sở cho việc đa dạng hoá sản xuất trên từng đơn vị diện tích.
- Một chế độ bón phân hợp lý đảm bảo duy trì độ phì nhiêu của đất.
- Chế độ bón phân hợp lý và cân đối đảm bảo không ngừng cải thiện các đặc
tính vật lý và sinh học của đất.

11


- Chế độ bón phân hợp lý góp phần nâng cao khả năng hoạt động và tính hữu
ích của tập đoàn vi sinh vật đất.
- Bón phân hợp lý làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Thay vì có hệ số sử
dụng phân bón hiện nay là 40 - 50%, bón phân hợp lý có thể nâng cao hệ số sử dụng
này lên 60 - 70% và cao hơn.
- Cần luôn ý thức được rằng: bón nhiều phân không hẳn đã tốt. Nồng độ phân
hoá học cao có thể gây hại đối với cây.
- Trong nhiều trường hợp, năng suất cây trồng cao chưa hẳn đã đảm bảo hiệu
quả kinh tế cao.
- Không nên để cho cây quá kiệt quệ rồi mới bón phân.
- Cây trồng sử dụng phân bón trong suốt thời gian sinh trưởng. Vì vậy, cây chia
ra làm nhiều lần để bón mới phát huy được tác dụng của phân bón ở mức cao.
- Để có thể bón phân hợp lý cần theo dõi và nắm sát trạng thái của cây trên

nghiên cứu như: chi phí giống, số cây bị chết (vì không đủ ánh sáng), chi phí chuẩn bị
đất, ông kết luận rằng để sản xuất chùm ngây thành rau ăn lá trong điều kiện đất cát,
được cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, thoát nước tốt thì mật độ trồng
tốt nhất là 10 x 10 cm (1.000.000 cây/ha).
- Theo Price (2007), chùm ngây có thể phát triển và cho năng suất lá lên đến
270 tấn/ha. Cây chùm ngây được trồng ở mật độ 10 x 10 cm (1.000.000 cây/ha), bón
lót phân chuồng (tốt nhất là phân bò), lá được thu hoạch khi cây đạt đến độ cao khoảng
50 cm trở lên. Để thu hoạch, cần cắt ở độ cao 15 – 20 cm tính từ mặt đất, cây con có
thể chết 20-30% ở năm đầu tiên, tuy nhiên cây sẽ đâm chồi khá mạnh sau khi cắt. Vỏ
cây sẽ dày lên và hóa gỗ, tuy nhiên chồi non sẽ vẫn tiếp tục được sinh ra, tạo nên các
cành mới. Tại nghiên cứu này, cây chùm ngây được trồng tại vùng đất cát, thoát nước
tốt, có độ cao 30 m, lượng mưa hàng năm là 1.300 mm, cây được tưới vào mùa khô.

13


Yêu cầu dinh dưỡng cần cung cấp cho mỗi hecta từng năm là: 1.800 kg Ca, 0,5 kg Cu,
1.400 kg Mg, 380 kg P; 0,6 kg Bo, 280 kg N, 0,3 kg Zn.
- Rajakrishnamoorthy và ctv. (1994) trồng cây chùm ngây có thể không cần
tưới nước liên tục (có thể tưới mỗi tuần một lần trong thời tiết nóng), tuy nhiên có thể
áp dụng biện pháp tưới nhỏ giọt với lượng 4 ngày/lít có thể nâng cao sản lượng lên đến
57% so với việc trồng cây vào mùa mưa.
- Theo Foidl (2001), mật độ trồng có ảnh hưởng lớn đến khối lượng sản phẩm
thu được như sau:
Bảng 2.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất rau chùm ngây
Mật độ cây trồng (số cây/ha)

Khối lượng lá tươi được thu hoạch (tấn/ha)

95.000

Theo Đặng Kha (2010), trạm khuyến nông liên quận 12 và Gò Vấp, tp. HCM đã
xây dựng mô hình trình diễn trồng cây chùm ngây tại phường Thạnh Xuân và phường
Thạnh Lộc thuộc quận 12 từ tháng 8/2009 đến tháng 5/2010. Sau 9 tháng thực hiện mô
hình, kết quả thu được như sau: tốc độ sinh trưởng của cây khá nhanh, các cây không
cắt ngọn sau 8 tháng trồng đạt chiều cao 2,5 m - 3,2 m, đường kính thân đạt 2 cm, cây
được 7 cành cấp 1; cây ít bị sâu bệnh, có xuất hiện sâu ăn đọt non nhưng không đáng
kể.
Hiện đã có một số công ty thực hiện trồng và mua bán các sản phẩm từ cây
chùm ngây như công ty TNHH Lê Hoàng tại tỉnh Bình Thuận, công ty TNHH TM-DV
Văn Kiếm Nhân và công ty TNHH Hanh Thông tại thành phố Hồ Chí Minh, với các
mặt hàng khá đa dạng như hạt giống, cây con, rễ khô, trà hoa, bột dinh dưỡng, lá khô
và rau tươi. Với sản phẩm từ cây chùm ngây khá mới mẻ, các sản phẩm được bán với
giá khá cao: hạt chùm ngây được bán với giá 2.000 đồng/hạt, cây con cao 30 - 40 cm
được bán với giá 30.000 đồng/cây, rau tươi 120.000 đồng/kg.
Nhận xét: các kết quả nghiên cứu về cây chùm ngây chủ yếu tập trung vào tác
dụng của sản phẩm từ chùm ngây, những nghiên cứu về tác ảnh hưởng phân bón còn
rất hạn chế, hầu như chưa có một nghiên cứu nào về ảnh hưởng của một số loại phân
bón đến sinh trưởng và năng suất rau chùm ngây được thực hiện trong nước. Một số cá
nhân đã có đầu tư nhất định cho việc phát triển sản phẩm từ cây chùm ngây, tuy nhiên
việc gieo trồng chủ yếu là tự phát mà chưa chọn ra loại phân bón lót và phân bón lá
thích hợp để chùm ngây sinh trưởng tốt, tăng năng suất và giảm chi phí cho người
trồng thực hiện. Tại thành phố Hồ Chí Minh, trạm khuyến nông phường 12 quận Gò
Vấp đã thực hiện thí điểm trồng cây chùm ngây, tuy nhiên đây chỉ là mô hình trình
diễn miêu tả tốc độ phát triển và hình thái cây chùm ngây chứ chưa khuyến cáo ra loại
phân bón phù hợp nhất với cây chùm ngâyn. Từ tình hình sản xuất cây chùm ngây
trong nước cho thấy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân đến sinh trưởng,
năng suất rau chùm hiện nay là rất cần thiết cho sự phát triển cây chùm ngây trong
nước.

15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status