VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH TÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH TÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Chuyên ngành
Mã số
: Chính sách công
: 834.04.02
1.3. Các bước thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên,
các yêu cầu cơ bản và phương pháp thực hiện chính sách phổ biến, giáo
dục pháp luật cho sinh viên ............................................................................ 25
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp
luật cho sinh viên............................................................................................ 34
Chương 2 ................................................................................................................... 39
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC ................ 39
PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI ............. 39
2.1. Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách phổ biến giáo dục pháp luật cho
sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội ...................................................... 39
2.2. Kết quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội...................................................................... 54
2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho
sinh viên tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội ................................................. 60
Chương 3 ................................................................................................................... 64
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ................................... 64
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
SINH VIÊN .................................................................................................... 64
3.1. Mục tiêu và định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ biến,
giáo dục pháp luật cho sinh viên .................................................................... 64
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục
pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội ............................... 68
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục
pháp luật cho sinh viên ......................................................................................
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 81
luật vào cuộc sống. Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống
được bắt đầu bằng hoạt động PBGDPL.
Thực hiện chính sách PBGDPL là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp
luật và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân, tất cả mọi người đều phải “Sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật” thì việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như
một yếu tố khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội
có trật tự, kỷ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị
chân chính, trong đó ý thức pháp luật đóng một vai trò quan trọng.
1
Tại các trường đại học và cao đẳng, chính sách PBGDPL được thực hiện
thông qua các hoạt động, chương trình giáo dục chính khóa và ngoại khóa,
đây là hoạt động có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện của con
người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong đó có việc hình thành ý thức
pháp luật và văn hóa pháp lý trong nhân dân. Thực hiện chính sách PBGDPL
cho sinh viên nhằm trang bị tri thức pháp luật cơ bản, định hướng, phát triển
nhân cách và tư cách công dân, nâng cao nhận thức, góp phần điều chỉnh hành
vi, hình thành thói quen tự giác xử sự đúng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp
luật và có tri thức pháp luật về chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề lĩnh vực
mình được đào tạo.
Trong những năm qua, xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công
tác PBGDPL, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này. Trong rất nhiều văn
kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã đề cập đến công tác PBGDPL.
Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ: “Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, PBGDPL với nhiều hình thức phong phú, sinh động, đặc biệt là
Bộ Nội vụ, có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình
độ đại học và sau đại học trong lĩnh vực công tác nội vụ và các ngành nghề
khác có liên quan; hợp tác quốc tế; nghiên cứu khoa học và triển khai áp dụng
tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Như các cơ sở
đào tạo khác trong hệ thống giáo dục, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã tổ
chức thực hiện chính sách PBGDPL thông qua các hoạt động, chương trình
giáo dục chính khóa, giáo dục ngoại khóa và đạt được một số kết quả nhất
định. Đã có những thay đổi theo hướng đa dạng hóa và chuyển dần từ truyền
thụ một chiều sang phát huy tính chủ động, tích cực của sinh viên; giảng viên
đưa ra nhiều tình huống cụ thể và sáng tạo phương pháp mới nhằm tăng tính
tích cực, sáng tạo của sinh viên, tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả PBGDPL.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc thực hiện PBGDPL vẫn
3
còn một số hạn chế như chưa kết hợp hài hòa giữa trang bị kiến thức pháp luật
với việc hình thành kỹ năng, ý thức pháp luật và thói quen chấp hành pháp
luật của sinh viên. Chính vì vậy, công tác PBGDPL trong những năm qua đã
được Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường cùng các đoàn thể và đặc biệt là đội
ngũ giảng viên chuyên ngành triển khai thực hiện sâu rộng nhằm nâng cao
nhận thức pháp luật cho sinh viên, góp phần ngăn chặn kịp thời các hành vi vi
phạm pháp luật, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, tăng cường sự đoàn kết nội bộ,
góp phần giữ vững trật tự trị an trong nhà trường.
Để việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên thực sự mang lại
hiệu quả, có tác động tích cực nhằm nâng cao ý thức tuân thủ và xây dựng
thói quen chấp hành pháp luật cho sinh viên, thì việc tìm hiểu thực trạng thực
hiện chính sách PBGDPL và đưa ra những định hướng, giải pháp hoàn thiện
chính sách ấy là một đòi hỏi khách quan, cần có sự đi sâu nghiên cứu bài bản
và nghiêm túc. Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Thực hiện chính
sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn Trường Đại
trường đại học như: nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy giáo dục pháp luật
cho sinh viên; hoàn thiện pháp luật về giáo dục pháp luật cho sinh viên; chuẩn
hóa nội dung chương trình, giáo trình giảng dạy chính khóa; đổi mới phương
pháp dạy và học pháp luật trong chương trình chính khóa; xây dựng chương
trình giáo dục pháp luật ngoại khóa và đổi mới cách thức hoạt động giáo dục
pháp luật ngoại khóa; nâng cao chất lượng giảng viên giảng dạy pháp luật
trong các trường đại học; tăng cường công tác xã hội hóa trong các hoạt động
giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học.
- Tác giả Dương Thị Thanh Mai với luận án Phó Tiến sĩ Luật học
(1996): “Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam – hình thức
đặc thù của giáo dục pháp luật” [21] đã phân tích vai trò của giáo dục pháp
luật trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam. Luận án nêu
rõ những đặc trưng của công tác giáo dục pháp luật và đưa ra những giải pháp
5
nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp.
- Tác giả Lê Thị Thùy với luận văn thạc sĩ Luật học (2015): “Giáo dục
pháp luật cho sinh viên trường cao đẳng nghề qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”
[27] đánh giá khách quan về thực trạng giáo dục pháp luật cho sinh viên
trường cao đẳng nghề Thanh Hóa, thông qua đó có phương pháp đổi mới
chương trình dạy và học bộ môn giáo dục pháp luật, nâng cao chất lượng
công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường.
- Tác giả Đinh Xuân Thảo với Luận án Phó Tiến sĩ Luật học (1996):
“Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và
dạy nghề ở nước ta hiện nay”[26] đã nêu thực trạng giáo dục pháp luật trong
các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, từ đó rút ra kinh
nghiệm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho
sinh viên.
- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Trung Nghĩa (2000): “Giáo
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chính sách PBGDPL cho sinh viên
đại học đồng thời kết hợp với phân tích thực trạng và đánh giá chất lượng
PBGDPL cho sinh viên của trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian từ
năm 2014 - 2017, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách PBGDPL
cho sinh viên đại học ở nước ta hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách PBGDPL cho
sinh viên của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội; chỉ rõ những thành tựu, hạn
chế, nguyên nhân;
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả
thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên trong thời gian tới.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách
PBGDPL cho sinh viên và thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL
cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội dưới góc độ khoa học chính
sách công.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách
PBGDPL cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách
PBGDPL cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ năm 2014 - 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật
cho sinh viên.
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp
luật cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
- Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện
chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN
1.1. Nhận thức chung về thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục
pháp luật cho sinh viên
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm “chính sách” và “chính sách công”
- Khái niệm “chính sách”
"Chính sách" là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu
và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên đến nay vẫn khó có thể đưa ra
một định nghĩa duy nhất. Theo cách hiểu thông thường, chính sách là chương
trình hành động do các nhà lãnh đạo, quản lý đưa ra để giải quyết một vấn đề
nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Chính sách là khái niệm thường
được đề cập trong khoa học hành chính, nhưng thực sự nó còn là phạm trù của
khoa học chính trị.
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, có thể có các định nghĩa khác nhau về
chính sách:
Theo từ điển tiếng Anh, chính sách (policy) là một đường lối hành động
Tác giả của "Understanding Public Policy" (1984) Thomas R. Dye lại
đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công, song định nghĩa này lại
được nhiều học giả tán thành. Theo ông, "chính sách công là cái mà Chính
phủ lựa chọn làm hay không làm" [43].
Theo Peter Aucoin trong tác phẩm "The New Public Management:
Canada in Comparative Perspective" (1995) cho rằng "chính sách công bao
gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành". Aucoin cho rằng, chính
sách có thể vừa là hành động riêng biệt của Chính phủ (quyết định của chính
quyền thành phố về sự phát triển ở một vùng cụ thể) vừa là kết quả của hàng
loạt quyết định đa dạng (chính sách môi trường là sự kết hợp của một số
lượng lớn các quyết định hành động và quyết định không hành động của
11
nhiều Chính phủ). Thông thường, thuật ngữ "chính sách" được sử dụng theo
nghĩa thứ hai – một chính sách được cấu thành từ một loại quyết định [41].
B. Guy Peter trong : "American Public Policy: Promise and
Performance" (2006) đưa ra định nghĩa: "chính sách công là toàn bộ các hoạt
động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của
mọi công dân". Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính
sách công là Nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công
đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng [38].
William N. Dunn trong "Public Policy Analysis: An Introduction" (2007)
cho rằng "chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên
quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan
nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra". Ông dùng thuật ngữ "sự lựa
chọn" - đây là điểm đáng lưu ý để tránh sự nhầm lẫn giữa chính sách với các
khái niệm khác như quyết định hành chính [45].
Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các quan niệm về chính
Dunn quan niệm “Các hành động chính sách công có hai mục đích chính: điều
chỉnh và phân bổ”, trong đó các hành động điều chỉnh là những hành động
được thiết kế để bảo đảm sự tuân thủ các tiêu chuẩn hoặc thủ tục nhất định,
các hành động phân bổ đòi hỏi đầu vào như tiền bạc, thời gian, nhân sự và
thiết bị. Các hành động điều chỉnh và phân bổ có thể có kết quả là phân phối
và phân phối lại, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước đối với các chương
trình và dự án”[45].
Như vậy, có thể hiểu thực hiện chính sách là “Toàn bộ quá trình đưa
chính sách công vào thực tiễn cuộc sống thông qua việc ban hành các văn
bản, chương trình, dự án và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục
tiêu chính sách công”
1.1.1.3. Khái niệm “pháp luật”
Pháp luật dưới góc độ luật học được hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự có
tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung
13
của một quốc gia, khu vực, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện
pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế.
Pháp luật thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án
trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để
đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý. Cách thức mà pháp luật được thực thi
được biết đến như là một hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở
tập quán tại mỗi quốc gia. Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để
thi hành pháp luật. Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên
nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi pháp luật trước khi được cho phép
có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và
trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực
hiện việc tạm giam, tạm giữ.
Xuất phát từ các vấn đề đã phân tích ở trên có thể hiểu định nghĩa pháp
So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm
song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác
định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là
các phương thức giáo dục cụ thể.
Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả
đã khá thống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là
hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác
động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm
mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù
hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành.
Tóm lại, phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) hiểu theo nghĩa rộng là
công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc
thực hiện PBGDPL (xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai
chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện
pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện
chương trình, kế hoạch PBGDPL) và hiểu theo nghĩa hẹp là: truyền đạt tinh
15
thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ
tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định
pháp luật hiện hành.
1.1.1.5. Khái niệm “sinh viên”
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “Student” có nghĩa
là người làm việc, học tập, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. “Sinh viên”
là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang
học ở bậc phổ thông.
Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” được diễn nghĩa ra là người
bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh
diện giáo dục, đào tạo”, trong đó “mục tiêu giáo dục phải chuyển mạnh từ
chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang tập trung phát triển toàn diện năng
lực và phẩm chất người học”
1.1.2. Vai trò, nội dung và hình thức thực hiện chính sách phổ biến,
giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.1.2.1. Vai trò của thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật
cho sinh viên
Thực thi chính sách công có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình
chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của
thực thi chính sách. Có thể có 4 khả năng xảy ra, (1) chính sách công tốt và
thực hiện tốt dẫn đến thành công; (2) chính sách công tốt, nhưng thực hiện tồi
dẫn đến thất bại; (3) chính sách công tồi nhưng thực hiện tốt dẫn đến thành
công; (4) chính sách công tồi và thực hiện tồi dẫn đến thất bại kép [46]
Có thể thấy, đối với chính sách PBGDPL cho sinh viên, việc tổ chức thực
hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, nó là giai
đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách. Vai trò của tổ chức thực hiện chính sách
PBGDPL cho sinh viên được thể hiện ở những phương diện sau:
- Thứ nhất, từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách PBGDPL
cho sinh viên. Các mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thông qua quá
trình thực thi chính sách, bởi thực thi chính sách bao gồm các hoạt động có tổ
17
chức được thực hiện bởi các chủ thể giáo dục, các tổ chức xã hội… trong nhà
trường hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích đã tuyên bố trong chính
sách. Trong quá trình thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên, nhà
trường phải ban hành các văn bản, hoặc các chương trình để hiện thực hóa các
mục tiêu, mục đích của chính sách và tiến hành các hoạt động để thực hiện
các văn bản, chương trình đó.
- Thứ hai, khẳng định tính đúng đắn của chính sách PBGDPL cho sinh
trường”; Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 20172021; Quyết định số 3957/QĐ-BGDĐT ngày 28/9/2017 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành Kế hoạch tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao chất
lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” đến năm 2021,
thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên gồm các nội dung sau:
- Trang bị kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật
Việc PBGDPL cho sinh viên có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp sinh
viên nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và
quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật; giúp sinh viên nắm các kiến
thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân, quyền và lợi ích của công dân. Tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục các quy định mới liên quan đến giáo dục, các hành vi bị nghiêm cấm và
chế tài xử lý; chú trọng giáo dục ý thức tôn trọng, chấp hành, bảo vệ pháp
luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; tác động của chính sách pháp luật;
nội dung chính sách pháp luật về hỗ trợ và khởi nghiệp, về phòng chống bạo
lực học đường, về cải cách hành chính, về an toàn thực phẩm, về bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng…
Việc trang bị kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật cho sinh viên
của các nhà trường nhằm góp phần đào tạo lực lượng sinh viên có phẩm chất
đạo đức tốt, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, tích cực học tập, rèn luyện để sau
khi ra trường, trên các cương vị của mình cơ bản thực hiện tốt chức trách,
19