KHÔNG GIAN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG NGÂM KHÚC - Pdf 49

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG NGÂM KHÚC

1. Những vấn đề chung
1.1. Thể loại ngâm khúc
Ngâm khúc là một thể loại cơ bản có vị trí quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam. Ngâm khúc là
những ca khúc trữ tình dài hơi thể phản ánh những bi kịch trong đời sống nội tâm của con người khi đối diện với
hiện thực cuộc sống trong một giai đoạn lịch sử nhất định, được viết bằng thể Song thất lục bát và bằng ngôn
ngữ dân tộc (chữ Nôm).
Ngoài ra còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau vể thể loại này:

Theo từ điển thuật ngữ văn học: “ Ngâm khúc là thể thơ trữ tình, dài hơi, thường được làm theo thể Song
thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day
dứt”. Vì thế ngâm khúc còn được gọi là khúc vãn hay thán.
Theo từ điển văn học (bộ mới): “Khúc còn gọi là tản khúc, một hình thức thơ cả cổ của Trung Quốc, gắn
chặt với âm nhạc, có nội dung trữ tình, ra đời trên cơ sở những lời ca điệu hát dân gian đời Kim (1115 - 1234) và
phát triển mạnh mẽ ở đời Nguyên (1280 - 1368) . Khúc gồm hai loại tiểu lệnh và sáo số. Tiểu lệnh là những khúc
hát lẻ có màu sắc địa phương và phong cách dân gian khá đậm. Sáo số là những tổ khúc bao gồm từ hai khúc
hát trở lên có cùng cung điệu….”Ở Việt Nam chữ khúc được dùng để chỉ những tác phẩm bằng thơ dài theo thể
lục bát hoặc song thất lục bát, có nội dung trữ tình…
Trần Đình Sử trong “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” xác định ngâm khúc “là một thể loại
văn học trung đại Việt Nam, tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ tìm lại giá trị nhân sinh mà không được, không cam
chịu mất mát giá trị mà đành bất lực và do bất lực mà mà lòng bất lực ngày càng mạnh thêm, day dứt hơn và
nhấn mạnh chức năng của thể loại này như sau: “Có thể nói khúc ngâm có nhiệm vụ phơi trải lòng đau xót, sầu
tủi, tiếc hận của mình” .
Về mặt nội dung: ngâm khúc thể hiện cảm hứng trữ tình, bi thương, qua tâm trạng nhân vật trữ tình, với
những trạng thái tình cảm khác nhau như đau xót, sầu tủi, tiếc hận,… với nội dung phong phú, đa dạng: tuổi trẻ
tàn phai, tình yêu chia lìa, hanh phúc tan vỡ, người thân qua đời,…Nhân vật trữ tình bộc lộ tâm trạng qua sự hồi
tưởng, bằng hình thức kể, thuật, tả, vì vậy nỗi đau buồn, thương tiếc cứ tiếp nối, triền miên, tạo thành một dòng
tình cảm bi kịch. Từ tình cảm bi kịch toát lên khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người.
Về mặt nghệ thuật: ngâm khúc bao gồm một số đặc điểm về kết cấu, hình tượng con người, ngôn ngữ, lời thơ,
không gian, thời gian… Trong phạm vi bài làm này chúng tôi đi vào tìm hiều không gian nghệ thuật trong

nhìn và diễn ra trongtrường nhìn của chủ thể trữ tình.Điểm nhìn là nơi nhân vật ngồi để tự bạch tâm trạng của
mình. Ví như người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm là trong căn phòng:
Bóng cờ tiếng trống xa xa
Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng
Còn trường nhìn là nhân vật nghĩ đến đâu thì trường nhìn tới đó. Do đó toàn bộ không gian trong Ngâm khúc
là không gian nghệ thuật. Nó có một chức năng duy nhất là giúp cho chủ thể trữ tình tự bạch tâm trạng của
mình hay nói cách khác không gian trong Ngâm khúc mang tâm trạng của chủ thể trữ tình. Không gian nghệ
thuật trong Ngâm khúc được biểu hiện như sau:
2.1. Không gian mơ hồ mang tính ước lệ tượng trưng
Đây không phải là không gian đặc thù của ngâm khúc mà là của chung thơ cổ phương Đông. Là loại
không gian không có thật mà nó chỉ là cái cớ để nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc của mình.
Ở đây không gian mơ hồ được hiểu là không gian không rõ ràng, không cụ thể, chân thực. Đó là một
lũng Tây, cầu Hán Dương, bến Tiêu Tương…có thực ở Trung Hoa nhưng đi vào Ngâm khúc chỉ mang ý nghĩa
tượng trưng mà thôi.
Hẹn cùng nhau lũng Tây nham ấy
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm


Ngập ngừng lá rụng cành trâm
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao
Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ
…Bến Tiêu Tương thiếp hãy còn trông
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng…
Tất cả cái gì là vật chất, là thực thể, bao nhiêu màu sắc, âm thanh dường như đã bị tác giả xóa nhòa đi trong
những nét bút mơ hồ mênh mông. Một con sông, một đoạn đường, một nhịp cầu,…. được gói ghém trong một
không gian ước lệ.
Trong Chinh phụ ngâm cũng có dành một đoạn để mô tả giờ xuất phát của bộ đội. Tuy nhiên bức tranh vẫn
chỉ có những nét thông thường như nhạc ngựa, trống hành quân, hàng cờ bay….chứ không hề có một sự chính
xác về số lượng, về trang bị bộ đội, bộ mặt của những người lính cũng mơ hồ, không được nói đến. Ngay cả bộ

Giang tay muốn bứt tơ hồng


Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra…
Không gian giả tưởng: Trong không gian chật hẹp, tù túng, gắn bó đó con người luôn cảm thấy bức bối,
ngột ngạt và muốn vượt thoát ra ngoài . Trong thực tế họ không thể thoát ra khỏi không gian ấy cho nên họn tự
giải thoát bằng cách tưởng tượng nên mới sinh ra không gian giả tưởng.Trong Chinh phụ ngâm người chinh phụ
thả hồn mình để đến với cảnh chiến trường nơi có người chồng đang chiến đấu, bản thân người vợ không thể ra
nơi chiến địa đó được Nghìn vàng xin gửi tới non yên. Chinh phụ cũng nhận thức được điều đó cho nên không
gặp được chồng như thế nàng lại quay về tìm chồng trong giấc mơ xưa:
Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
Những Dương Đài, Tương Phố chỉ là những điển tích mang tính ước lệ, tượng trưng chỉ giấc mộng Vu Sơn trong
văn học xưa. Chinh phụ đã mơ mộng, khát khao cảnh ái ân với chồng nhưng tất cả đều là cái hư và khi tỉnh lại
người chinh phụ nhận thức cái tính chất vô nghĩa của nó
Sum vầy mấy lúc tình cờ
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân
Mộng không thành, nàng lại lên cao trông ngóng nhưng vẫn không tìm thấy bóng dáng của người chinh phu.
Điều đó khiến người chinh phụ hóa đá
Lòng này hóa đá cũng nên
E không lệ ngọc mà lên trông lầu
Tóm lại, trong không gian chật hẹp con người cảm thấy tù túng, ngột ngạt tuy nhiên khi vươn mình ra
ngoài không gian cao rộng thì họ lại cảm thấy bơ vơ, choáng ngợp, sợ hãi. Sự tương phản giữa hai loại không
gian này xét cho cùng cũng mang một ý nghĩa tượng trưng, một mặt nó gợi lên sự liên tưởng về cuộc sống ngột
ngạt tăm tối của thực tại.Mặt khác, nó thể hiện khát vọng của con người muốn thoát khỏi cuộc sống ấy. Nhưng
thoát ra để rồi đi về đâu , bầu trời hạnh phúc chỉ còn đọng lại trong hoài niệm còn bầu trời tương lai trong dự
cảm lại u ám, não nề đầy khí âm huyền. Đó chính là cái không gian được cảm nhận qua cái tôi trữ tình mang
tâm trạng bi quan bế tắc về cuộc đời. Đặng Thai Mai cho đó là một không gian đã thấm nhuần trong màu sắc
của tình cảm để mà đúc thành một khối tâm trạng của con người.
3. KẾT LUẬN

số phận của nhân vật chưa được làm rõ, tác phẩm kết thúc nhưng câu chuyện của nhân vật vẫn chưa được kết
thúc. Thì tương lai chưa được xác định, cho nên thời gian chưa kết thúc và mang tính chất mở.
2. Thời gian mơ hồ, mang tính ước lệ, tượng trưng
Trong tác phẩm ngâm khúc, không có kiểu thời gian lịch sử, sự kiện như trong tiểu thuyết lịch sử. Ở thể loại này,
thời gian chính xác không được quan tâm đến, cho nên không hề có những mốc thời gian chính xác kiểu như
tháng giêng năm Minh Mệnh thứ hai, mùa thu năm Canh Dần… Tất cả thời gian trong ngâm khúc đều mang
tính chất phiếm chỉ, do đó rất mơ hồ, tượng trưng.
Chẳng hạn, mở đầu Chinh phụ, tác giả viết “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”, ta không thể xác định thời gian có
biến cố to lớn ấy là khi nào. Thậm chí khi tác giả cho biết chính xác thời đoạn như trong câu “Nước thanh bình
ba trăm năm cũ” thì ta cũng không thể biết ba trăm năm đó là ba trăm năm nào, bắt đầu từ thế kỉ nào và kết
thúc ở thế kỉ bao nhiêu. Hay như trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du mở đầu bằng một thông tin về thời gian “Tiết
tháng bảy mưa dầm sùi sụt” thì đó cũng là thời gian rất mơ hồ. Tháng bảy đó là tháng bảy của năm nào, ta
không xác định được.
Thời gian trong ngâm khúc không phải để mang chức năng thông tin chính xác mà đó chỉ là cái cớ để tác giả
phát triển tác phẩm của mình. Mặt khác, để đặc tả tâm trạng của chủ thể trữ tình, tác giả cần phải làm cho thời
gian mờ nhòe đi, bởi thời gian chung chung, ước lệ tượng trưng có sức khái quát tâm trạng cao hơn thời gian cụ
thể, chính xác rất nhiều. Thời gian trong thể ngâm khúc luôn mơ hồ, mang tính ước lệ có nguyên nhân từ yêu
cầu đặc tả tâm trạng của nhân vật, phù hợp với yêu cầu nội tại của thể loại.
3. Thời gian tâm lí và thời gian ba chiều mang tính đồng hiện
Thời gian theo dòng tâm trạng triên miên của chủ thể trữ tình là đặc trưng của thời gian trong ngâm khúc. Ở đó,
nhân vật luôn hồi tưởng về quá khứ, tưởng tượng đến tương lai để nhìn lại hoàn cảnh hiện tại trong ý thức đối
chiếu, so sánh. Trong đó, chủ yếu là hai chiều đi về giữa quá khứ và hiện tại. Quá khứ hạnh phúc bao nhiêu thì
hiện tại đau khổ bấy nhiêu. Càng hồi tưởng về quá khứ rực rỡ, nhân vật càng rơi vào bi kịch trong hoàn cảnh


hiện tại bế tắc. Đó là lí do để các nhà nghiên cứu cho rằng, chủ yếu và đặc trưng trong ngâm khúc là kết cấu hồi
cố bi ai, hồi tưởng lại quá khứ để đau khổ trong hiện tại.
Tác phẩm ngâm khúc tập trung khắc họa tâm trạng của chủ thể trữ tình trong thời hiện tại là thời điểm nhân vật
đang sống và đang tự giãi bày tâm trạng của mình. Tâm trạng ấy bao giờ cũng là kết quả được dồn nén trong
một thời gian khá dài sau biến cố lớn nào đó trong đời sống nhân vật để rồi bật lên thành những lời than vãn,

ngâm khúc. Kiểu thời gian này thật ra vẫn có biểu hiện trong truyện thơ ở những đoạn nhân vật độc thoại nội
tâm (chẳng hạn những đoạn độc thoại của Thúy Kiều [Khi sao phong gấm rũ rà / Giờ sao tan tác như hoa giữa
đường], Từ Hải [Một tay gây dựng cơ đồ / Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành / Bó thân về với triều đình / Hàng
thần lơ láo phận mình ra đâu]). Thế nhưng, biểu hiện đậm đà nhất, mang lại những giá trị sâu sắc nhất, có vai trò
quan trọng nhất trong việc khắc họa nhân vật và thể hiện nội dung tác phẩm phải kể đến kiểu thời gian này trong
thể loại ngâm khúc.
4. Thời gian mùa thu
Mùa thu là kiểu thời gian xuất hiện trong nhiều thể loại văn học trung đại (trong Truyện Kiều có 7 lần nhắc tới
mùa thu, trong thơ chữ Hán có nhiều bài viết về mùa thu như trong sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du, trong thơ
Nôm Đường luật, mùa thu lại càng được viết nhiều hơn). Thế nhưng, mùa thu với vai trò là một kiểu thời gian
quan trọng, có giá trị đặc biệt trong việc phản ảnh tâm trạng nhân vật và phát triển mạch cảm xúc trong tác
phẩm phải chờ đến thể loại ngâm khúc. Điều đó lí giải tại sao trong ngâm khúc, thời gian mùa thu xuất hiện với
tần số rất cao. Cung oán dài 356 câu có tới 7 lần thời gian mùa thu. Chinh phụ dài 108 câu mùa thu xuất hiện 4


lần. Trong Văn chiêu hồn thời gian xuyên suốt là mùa thu (Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi thu lạnh
buốt như đồng).
Mùa thu trong quan niệm của người phương Đông thường gắn với nỗi u buồn. Thu hành kim, thuộc về phía tây,
gắn liền với sự khô tàn, héo úa, chết chóc, hoang vu. Cảm xúc của con người thường gắn với nỗi buồn. Ta nhớ lại
chữ Sầu trong tiếng Hán được tạo thành theo phương thức hội ý trên chữ Thu dưới chữ Tâm, tâm trạng của người
ta trong mùa thu là buồn sầu.
Mùa thu gắn liền với tâm trạng buồn sầu của con người, phù hợp với tâm trạng triền miên đau khổ của chủ thể
trữ tình cho nên phù hợp với ngâm khúc, được ưu tiên sử dụng và tỏ ra đắc lực trong việc phục vụ ý đồ nghệ
thuật của tác giả trong thể loại này.
Tóm lại, thời gian nghệ thuật là một phương diện quan trọng trong thi pháp thể loại ngâm khúc. Với đặc trưng nội
dung tập trung vào việc khắc họa tâm trạng triền miên trong buồn sầu, đau khổ của nhân vật, thời gian nghệ
thuật trong ngâm khúc gắn với tâm thức thẩm mĩ buồn sầu. Bốn kiểu thời gian trên là bốn kiểu đặc trưng của
thời gian nghệ thuật trong ngâm khúc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Thầy Nguyễn Ngọc Quang, Bài giảng Chuyên đề ngâm khúc. Đại học Quy Nhơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status