Thời gian và không gian nghệ thuật trong sử thi ramayana của ấn độ - Pdf 43

Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Lê Thị Bích Thủy

Thời gian và không gian nghệ thuật trong sử
thi Ramayana của Ấn Độ
Luận văn ThS. Văn học: 60 22 30
Tác giả: Lê Thị Bích Thủy
Nguyễn Đức Ninh người hướng dẫn
Chủ đề: Nghiên cứu văn học; Sử thi; Văn học Ấn Độ

Năm – 2010

1


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa của đề tài............................................................................... ...... 2
2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................3
3. Lịch sử vấn đề..............................................................................................3
4. Giới hạn vấn đề và văn bản sử dụng........................................................14
5. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................15
6. Cấu trúc của luận văn...............................................................................15
CHƯƠNG 1: SỬ THI VÀ SỬ THI RAMAYANA CỦA ẤN ĐỘ.
1.1. Vấn đề thể loại sử thi................................................................................16
1.2. Sử thi Ramayana của Ấn Độ....................................................................21
CHƯƠNG 2: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
2.1. Khái niệm về thời gian nghệ thuật......................................................... 36
2.2. Thời gian nghệ thuật trong sử thi Ramayana của Ấn Độ ....................... 38

lớp vécni Hinđu”. Những nhận xét giàu hình ảnh trên đây đã phần nào cho thấy mức độ ảnh
hưởng sâu đậm mà văn hoá, văn học Ấn Độ mang lại cho khu vực này trong suốt nhiều thế kỷ.
Khu vực Đông Nam Á nằm trên đường giao lưu văn hoá Đông – Tây, từ rất sớm (vào khoảng đầu
công nguyên) Đông Nam Á đã có những cuộc giao lưu, tiếp xúc tự giác với văn hoá Ấn Độ qua
những thương gia, những nhà truyền giáo. Cũng từ thực tế lịch sử đó, ngày nay trong một bối
cảnh mới của thời đại, việc nghiên cứu văn hoá văn học Ấn Độ thực sự đã trở thành một đòi hỏi
cấp thiết, không chỉ để hiểu Ấn Độ mà còn để hiểu Việt Nam trong những yếu tố nội tại, và cả
trong những cuộc giao lưu tiếp xúc với văn hoá, văn học nhiều nước trên thế giới, trong đó có
Ấn Độ.
2. Trong kho tàng văn học Ấn Độ, hiếm có tác phẩm nào lại có sự ảnh hưởng sâu, rộng
và lâu bền ở Đông Nam Á và Châu Á như các sử thi Ramayana, Mahabharata.Cũng như
Mahabharata, sử thi Ramayana được coi là thánh kinh của người Ấn Độ, là nền tảng đạo đức
3


của Hinđu giáo, là bộ sử thi đồ sộ của nhân loại. Sử thi Ramayana bao chứa một thời gian dài,
một không gian kz vĩ, một tình sử ly kz. Vậy nên nghiên cứu thời gian và không gian nghệ thuật
trong sử thi Ramayana có { nghĩa góp phần hiểu biết sâu hơn, toàn diện hơn những đặc trưng
của sử thi nói chung, sử thi Ấn Độ nói riêng. Mặt khác đề tài luận văn ở mức độ nhất định, góp
phần bổ sung chi tiết hơn cho công việc giảng dạy văn học Ấn Độ trong các trường của Việt Nam,
càng tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác, hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và Ấn Độ
đương đại.
2. Mục đích nghiên cứu:
Với { nghĩa khoa học nêu trên, luận văn có mục đích làm sáng tỏ những đặc điểm tạo
dựng thời gian và không gian nghệ thuật nhằm làm nổi bật hình tượng người anh hùng trong sử
thi Ramayana.
3. Lịch sử vấn đề:
Các anh hùng ca (hay sử thi) ra đời phản ánh quá trình đoàn kết các tộc người thành
cộng đồng lớn, là buổi bình minh về đời sống chính trị của dân tộc - quốc gia. Nó chú trọng đến
việc thể hiện khát vọng chiến thắng thiên nhiên và các lực lượng thù địch của con người cổ đại.

thơ mô tả những mối quan hệ gia đình l{ tưởng mà ở đó con trai coi lời nói của cha mẹ như là
mệnh lệnh, vợ một lòng một dạ chung thuỷ với chồng, những người em trai trung thành với
truyền thống, không hề thèm muốn ngai vàng của anh. Do đó, những nhân vật buộc phải thực
hiện một cách liên tục những lựa chọn đạo đức trong những hành vi của họ.
Bài viết của Pou Saveros “Những chỉ dẫn về dấu ấn Phật giáo trong Ramayana
Cămpuchia” là một khảo luận sâu hơn về vấn đề chuyển đổi chiều sâu tâm linh của sử thi
Ramayana Ấn Độ với tư tưởng Bàlamôn sâu sắc đã mang tư tưởng Phật giáo cùng với những cơ
sở văn hoá xã hội của Cămpuchia thời đại lúc bấy giờ. Tác giả bài viết đã đi sâu phân tích tỉ mỉ để
thấy được từng văn bản đã chịu sự ảnh hưởng của điều kiện văn hoá - xã hội như thế nào. Tác
giả đã tìm thấy những nét khác biệt về tư tưởng tôn giáo giữa hai văn bản.
Trong công trình nghiên cứu “Ramayana – Một cuộc hành trình” tác giả Ranchor Prime
đã dành rất nhiều công sức trong ba mươi năm để nghiên cứu tại Ấn Độ và mười lăm năm dịch
sử thi Ramayana ra tiếng Anh. Cuốn sách này là một sự khảo cứu công phu sử thi Ramayana về
cội nguồn, chiều sâu tâm linh và những ảnh hưởng của nó tại Ấn Độ.
Tác giả Richard Lannoy trong cuốn sách “Cây biết nói” cũng đã đề cập tới sử thi
Ramayana như một bộ phận không thể tách rời của văn hoá và xã hội Ấn Độ. Tác giả đã trình
bày những hiểu biết sâu sắc của mình về Ấn Độ, nhất là về tôn giáo.
Georges Dumézil trong “Huyền thoại và sử thi” đã đưa ra những nhận định rất xác đáng
về sử thi nói chung và về Mahabharata và Ramayana nói riêng. Ông đã phân tích cấu trúc sử thi
5


nói chung và sử thi Mahabharata nói riêng như ba chức năng trong sử thi các dân tộc Ấn - Âu,
mô hình nhân vật sử thi Ấn - Âu (một anh hùng – một phù thuỷ và một ông vua)…Tác giả chỉ ra
kết cấu này có trong nhiều thể loại của văn học và khiến cho các dân tộc trở nên gần gũi nhau
trong cách họ tư duy. Tác giả cũng đưa ra l{ do khiến cho các sử thi của một dân tộc này được
chấp nhận ở một dân tộc khác và đôi khi giữa các sử thi có kết cấu tưởng như giống nhau lại
chẳng có mối quan hệ họ hàng nào hết: chúng chỉ giống nhau về mặt loại hình mà thôi.
Tác giả David. R. Kinsley trong cuốn “Hindu giáo- một bức tranh phối cảnh văn hoá” đã
nhận thấy độ chênh lệch giữa hình tượng Rama và hình tượng các vị quốc vương được quy định

của sử thi Ramayana thể hiện tính chất bất di bất dịch của sự phân chia đẳng cấp: “Tuy nhiên
trong quá trình đến với chúng ta, truyền thuyết này dã được tiếp nhận trong hình thức một
Ramayana khác, chứa đựng những tri thức muộn hơn của những người đại diện cho tầng lớp
thống trị ở Ấn Độ cổ đại. Sử thi khẳng định tính chất bất di bất dịch của sự phân chia đẳng cấp,
sự lệ thuộc của đẳng cấp dưới vào đẳng cấp trên theo lứa tuổi và địa vị (Rama tuân theo mệnh
lệnh của vua cha, đi đày một cách ngoan ngoãn), sự phục tùng của người vợ với chồng (l{ giải
bằng hành vi của Xita)”
Bên cạnh đó, các tác giả đề cập đến nhân vật thần linh cũng phản ánh sự phân biệt đẳng
cấp và bảo vệ cho chế độ đó: Trên những điện thờ nổi trội lên những vị thần lớn, những vị thần
chúa tể. Các đấng thần linh khác, ít sức mạnh hơn phục tùng họ. Các vị thần ngày nay hiện ra là
những người bảo vệ sự phân biệt đẳng cấp và giữ gìn trật tự đạo luật, toàn bộ hệ thống triết
học, tôn giáo tạo cho con người cái ảo giác mà nó không tồn tại thực trên thế giới.
Tác giả I. S. Rabinôvic trong cuốn sách “Bốn mươi thế kỷ văn học Ấn Độ” đã nhận xét về
các hình tượng nhân vật trong sử thi Ramayana: “ Nhân vật của Ramayana là những người giàu
có về tâm hồn. Rama là một chiến binh quả cảm, một vị vua anh minh. Xita là một người phụ nữ,
một người vợ l{ tưởng …Nàng yêu chồng hết mình. Nhân vật làm nên những kz tích phi thường,
sự hùng mạnh của họ là không có giới hạn”
Bên cạnh đó, tác giả I. S. Rabinôvic cũng đã đi sâu tìm hiểu nguồn gốc của sử thi
Ramayana và các nhân vật sử thi trong hiện thực lịch sử. Theo ông thì toàn bộ hình tượng nhân
vật Rama gợi ra một hồi ức mơ hồ về bộ lạc Bắc Ấn trong cuộc hành binh tới những hòn đảo xã
xôi và sự chinh phục thổ dân ở đó mà người thủ lĩnh thổ dân được chú { tới là Ravana.
Tác giả cuốn “Đại cương lịch sử văn học Ấn Độ” cũng phân tích tính chất l{ tưởng của
hình tương nhân vật Rama ở nhiều góc độ, nhiều mối quan hệ khác nhau: Rama- một người anh
hùng l{ tưởng của sử thi này là sự hiện thân nổi tiếng của những đức tính: là một người con trai
ngoan ngoãn, một người chồng dịu dàng, trung thành với luật định, một chiến sĩ can đảm, coi
trọng danh dự, một người cầm quyền quốc gia anh minh, sáng suốt.
Nhưng { nghĩa sâu sắc hơn nhiều của hình ảnh Rama trước hết là một chiến sĩ chống lại
bất công mà hiện thân trong thiên sử thi này là quỷ vương Ravana, chiến thắng con quái vật ức
7


thi Ramayana của Ấn Độ và thừa nhận rằng văn bản Ramakiên của Thái Lan có nhiều tình tiết
khác với Ramayana của Valmiki và ông đã chỉ ra nguyên nhân là do các triều vua ở Thái Lan luôn

8


viết đi viết lại Ramakiên, nó chỉ là cái cớ, là cảm hứng để cho họ biểu lộ tài năng văn học của
mình mà thôi.
Một học giả Ấn Độ Khác là H.B.Sakar trong cuốn “Những mối quan hệ văn hoá giữa Ấn
Độ và các nước Đông Nam Á” đã đề cập đến sự di dân của người Ấn Độ tại Đông Nam Á như là
nguyên nhân của những ảnh hưởng về tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá của Ấn Độ tại vùng này.
Đặc biệt trong chương 14, tác giả đã phân tích những ảnh hưởng của sử thi Ấn Độ đối với văn
học Wayang (rối bóng) tại Đông Nam Á. Ngay phần đầu của công trình nghiên cứu, với tư cách là
một nhà sử học, tác giả đã bước đầu đề cập đến các con đường xâm nhập của sử thi Ramayana
vào Đông Nam Á nhưng vấn đề chủ yếu mà ông quan tâm là những ảnh hưởng của Ramayana
vào những văn bản phục vụ cho rối bóng tại các nước Đông Nam Á.
Các công trình ở trên, tuy không trực tiếp bàn riêng về thời gian và không gian trong
Ramayana, song trong quá trình phân tích và nhận xét của các học giả trên thế giới cũng phần
nào cho thấy không gian môi trường văn hóa rộng lớn chứa đựng trong sử thi.
3.2. Việt Nam:
Văn học Ấn Độ nói chung và sử thi Ramayana nói riêng được chú { ở Việt Nam gần ba
chục năm nay mà người đặt nền móng đầu tiên cho sự nghiệp nghiên cứu văn hoá, văn học Ấn
Độ ở Việt Nam là nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh. Trong cuốn “Văn hoá Ấn Độ” và cuốn “Tìm hiểu
thần thoại Ấn Độ”, tác giả Cao Huy Đỉnh bên cạnh việc nhấn mạnh vẻ đẹp l{ tưởng của các nhân
vật sử thi cũng đã chỉ ra những mặt hạn chế của các hình tượng này: { nghĩa của hình tượng
Xita cũng giống quan niệm “người ta là hoa của đất” của người Việt Nam ta xưa. Theo truyền
thuyết hoàng tử Rama chính là vị thần Visnu giáng thế làm nguqười để cứu vớt nhân laọi ra khỏi
vòng chiến tranh, tội lỗi và đau khổ. Hoàng tử Rama là con người l{ tưởng của đạo Hinđu và của
đẳng cấp qu{ tộc. Nhưng mặt khác, hoàng tử Rama cũng là chàng dũng sĩ có tài, có chí, là ông
vua anh minh, đức độ, có một tấm lòng yêu thương tha thiết. Rama là hình ảnh tập trung của

đăng trên tạp chí Văn học số 5/1983 là bài có nhiều { kiến trực tiếp bàn về vấn đề bản địa hoá sử
thi Ramayana ở Đông Nam Á. Các tác phẩm của Ấn Độ bằng con đường truyền miệng dã được
dân gian hoá theo đặc điểm dân tộc phù hợp với hoàn cảnh của từng quốc gia. Tác giả cho rằng
vì dân gian hoá nên các tác phẩm văn học Ấn Độ đã biến dạng đi, mỗi nơi một khác, chỉ còn lại
cái gốc của Ấn Độ. Dựa trên Ramayana, ở Inđônêxia có Sêri Rama, ở thái Lan có Rama Kiên,…Tác
giả cho rằng sự khác nhau giữa chúng là bởi đặc điểm dân tộc.
Phó giáo sư Võ Quang Nhơn trong bài viết “Qua sử thi, tìm hiểu mối quan hệ văn học
nghệ thuật giữa Đông Nam Á và Ấn Độ” (đăng trên Tạp chí khoa học - Đại học Tổng hợp Hà nội,
8/1990) đã đề cập đến sử thi Ramayana của Ấn Độ ở Đông Nam Á. Ông đã bước đầu tìm hiểu và
so sánh về đôi nét khác biệt giữa sử thi Ramayana và Pha Lặc Pha Lam ở Lào.

10


Phó giáo sư Lưu Đức Trung trong sách “Văn học Ấn Độ" đã nhận xét Rama là nhân vật
được xem là mẫu người l{ tưởng của đạo Hinđu và đẳng cấp vương công qu{ tộc, đồng thời thể
hiện khát vọng của nhân dân đương thời có một vị minh quân, một anh hùng tài ba lỗi lạc, dũng
cảm và đạo đức để bảo vệ đạo đức, hạnh phúc và công bằng cho xã hội. Còn nhân vật nàng công
chúa Xita lại là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ chung thuỷ, tiết hạnh, một người
con gái hiền từ, nhân hậu.
Về nghệ thuật sử thi Ramayana, tác giả viết: “Tác phẩm còn vẽ lên cảnh chiến trường ác
liệt, cung tên rào rào, đô thành bốc cháy, đất đá tung toé, người và quỷ quần nhau bằng nhiều
phép thuật thần kì, cùng với khí phách hào hùng, dũng cảm của những kẻ chiến thắng đã gây
nên sự hứng thú cho người đọc”.
Trên tạp chí Văn học nước ngoài số 2/1996, Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết của mình
với tiêu đề “Tiếp cận sử thi Ramayana từ những đặc trưng thể loại” đã cho rằng khi phân tích
một tác phẩm văn học nói chung và sử thi Ramayana nói riêng cần phải tuân theo những đặc
trưng thể loại: Phân tích những nhân vật mà chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh cá tính nhân vật mà
bỏ qua tính chất quy phạm l{ tưởng của nhân vật, vô hình chung đã “tiểu thuyết hoá sử thi”.
Trong bài viết “Ảnh hưởng của tôn giáo trong các sử thi Ấn Độ” đăng trên tạp chí Văn

Ấn Độ và các nước trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á. Tuy cách nói
có khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đều nhất trí cao khi cho rằng các nhân vật chính diện là
hoàng tử Rama, công chúa Xita là những hình tượng nhân vât tuyệt đẹp của nhân dân Ấn Độ
thời cổ đại, thể hiện đựơc những ước mưo khát vọng của họ về những vị thủ lĩnh tài ba, sáng
suốt, đạo đức, vì lợi ích của cộng đồng. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra tôn giáo
Ấn Độ đã ảnh hưởng sâu đậm đến các nhân vật trong sử thi Ramayana. Các nhân vật chỉ là
phương tiện để tác giả phát ngôn cho giáo l{ Dharma của Ấn Độ giáo.
Như vậy, văn học Ấn Độ nói chung và sử thi Ramayana nói riêng đã được nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm và nghiên cứu. Liên quan mật thiết với hình
tượng người anh hùng trong sử thi là khoảng không gian - thời gian, trong đó người anh hùng
thể hiện phẩm chất l{ tưởng của mình. Song các công trình nêu trên còn ít bàn tới môi trường
hành động của người anh hùng, tuy rằng đây đó các học giả có nhắc tới. Các { kiến của họ về tác
phẩm Ramayana là những gợi mở cần thiết để tác giả luận văn đi sâu trình bày rõ hơn vấn đề tổ
chức thời gian, không gian của tác phẩm.
4. Giới hạn vấn đề và văn bản sử dụng:
Để trở thành người anh hùng, nhân vật sử thi phải phá vỡ tính khép kín của thị tộc - bộ
lạc và hoạt động trong một môi trường rộng lớn. Môi trường rộng lớn ấy dung chứa thời gian và
không gian rộng lớn đủ để nhân vật sử thi thi thố tài năng và thể hiện tính cách. Luận văn chủ

12


yếu đi sâu khai thác bình diện tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật trong sử thi Ramayana
trong mối quan hệ với các nhân vật và các sự việc, các biến cố.
Văn bản gốc dùng để nghiên cứu là bản dịch gồm ba tập sử thi Ramayana do Phạm Thuỷ
Ba dịch, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1988.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích, khảo sát sự xuất hiện của thời gian, không gian trong tác phẩm.
- Phương pháp phân tích loại hình: bám sát đặc trưng nghệ thuật của thời đại sử thi, thể
loại sử thi.

(1). Thơ đề trên mộ và thơ cách ngôn.
(2). Các trường ca giáo huấn – triết học; Các trường ca về vũ trụ và thần linh.
Hêghen gọi các loại thơ trên là những sử thi không toàn vẹn vì chúng không miêu tả một
nhà nước thực sự, cũng không miêu tả một biến cố cụ thể trong lòng nhà nước ấy.
(3). Sử thi đích thực:
Theo quan điểm của Hêghen, sử thi đích thực là loại sử thi có nội dung và hình thức thực
sự là toàn bộ quan niệm về thế giới và cuộc sống dân tộc được trình bày dưới hình thức khách
quan của những biến cố thực tại.
Sử thi đích thực là loại sử thi mang những đặc điểm:
“Tình huống phù hợp nhất với sử thi đó là các xung đột của trạng thái chiến tranh”.
Hành động trong sử thi xuất phát từ những cá nhân nhưng đồng thời các nhân vật với tư
cách là những mẫu người trọn vẹn đã biểu lộ “sự phát triển của nếp tư duy dân tộc và phương
thức hành động có tính chất dân tộc”. Hành động cá nhân trong sử thi, theo Hêghen, “đã xuất
hiện trên cơ sở một trạng thái chung có tính chất sử thi của thế giới. Trạng thái đó đã đạt được
sự thống nhất hài hoà giữa sự tự thể hiện những tính cách sử thi dưới hình thức cá nhân và

14


những mục đích sử thi có tính chất toàn dân, đã kết hợp hành động cá nhân với biến cố sử thi có
{ nghĩa toàn dân”.
Trong công trình của mình, nhà nghiên cứu E. M. Mêlêtinxki đã phân chia thành hai loại
sử thi: sử thi cổ so và sử thi cổ điển.
Trong sử thi cổ sơ, các quan hệ xã hội được thông qua lăng kính quan hệ với thiên nhiên.
“Kẻ thù của nhân vật anh hùng thường là các quái vật, bọn quỷ sứ, lũ khổng lồ mà trong hình
ảnh của chúng cũng như trong hình ảnh folklore nguyên thuỷ, đã phản ánh tính hỗn hợp khái
niệm về sức mạnh thiên nhiên và về những kẻ thù lịch sử của bộ lạc.”. Nhiệm vụ của nhân vật
anh hùng là chiến đấu chống lũ quái vật, bảo vệ cộng đồng, chiến đấu để báo thù, để giành giật
người vợ chưa cưới “xa xôi” hoặc những lợi ích văn hoá (ví dụ như Xampô, ngọn lửa, cây bá
hương thiêng liêng).

Về sử thi anh hùng, nhà nghiên cứu V. E. Gusep cho rằng đó là những truyện kể bằng lời
ca hoặc nửa ca về sự đấu tranh của thị tộc – bộ lạc – bộ tộc- nhân dân cho sự tồn tại và nền độc
lập của mình trong sự xung đột với các lực lượng thù địch. Trung tâm của thể loại sử thi này là
người anh hùng mang phẩm chất ưu tú của tập thể và đại diện cho tập thể trong mọi hành động.
Như vậy, với quan điểm của nhà nghiên cứu V. E. Gusep thì những sử thi có tính chất
tôn giáo thuộc về thể loại sử thi thần thoại, ở giai đoạn sớm hơn và nó kém hoàn thiên hơn so
với thể loại sử thi anh hùng.
Vấn đề sử thi và phân loại sử thi vẫn tiếp tục được các nhà nghiên cứu , l{ luận quan
tâm. Về sau này, các nhà nghiên cứu, l{ luận cũng đã đồng { hoàn toàn với { kiến của các nhà
nghiên cứ đi trước. Tuy nhiên họ chú { phân biệt thêm:
(1)- Sử thi cổ điển (Classic epic) hay sử thi đích thực (Authentic epic) hay sử thi lớn
(Great epic).
(2)- Sử thi văn chương (Literary epic) hay sử thi cung đình (Court epic) hay sử thi tái tạo
(Imitative epic), Sử thi mô phỏng (Artificial epic). Tiêu biểu cho loại (1) thường được nêu ra là
Iliat và Ôđixee của Homer, còn ở loại (2) là Aênid của Virgil [23, tr76]
Các nhà nghiên cứu văn học Ấn Độ cũng đã có sự phân biệt tương tự giữa một bên là Sử
thi anh hùng (Itihâsa) và một bên là Sử thi văn chương (Kavya).
Trong tác phẩm “Thời đại anh hùng của Ấn Độ”, nhà nghiên cứu N. K Shidhanta đã phân
biệt hai loại sử thi là sử thi đích thực và sử thi văn chương. Theo ông:
- Sử thi đích thực:

16


Tác giả mơ hồ và bị che khuất.
Liên quan nhiều hơn với các cá nhân và chiến tích anh hùng của họ. Sử thi đích
thực mang tính quốc tế.
Hành động của cá nhân trong sử thi đích thực tập trung trong một thời gian
ngắn.
- Sử thi văn chương:

Như vậy quá trình hình thành và hoàn thiện các sử thi Mahabharata và Ramayana khiến
cho người ta nhớ đến hình ảnh những dòng sông Indus (Ấn Hà) và Ganga (Hằng Hà) hùng vĩ ngày
ngày cuồn cuộn đổ ra đại dương mênh mông. Ngọn nguồn của nó khởi nguyên từ giai đoạn cuối
trong thời kz bình minh của văn học Ấn (Thời Vêđa) và kết thúc dòng chảy vào giai đoạn đỉnh
cao trong thời cổ điển của nền văn học này. Những dòng sông đã chảy qua đôi bờ văn hoá Ấn Độ
từ thời thơ ấu, hồn nhiên chân chất đến trưởng thành chững chạc, thành đạt, chảy qua đôi bờ
tôn giáo với những tranh chấp và nhượng bộ, xung đột và hoà giải, giữa thần quyền và vương
quyền, giữa những đối nghịch. Những dòng thuỷ lưu đã cuốn theo tầng tầng những hạt phù sa
của đôi bờ bên lở bên bồi khiến cho chúng ngày càng trở nên màu mỡ hơn. Và do đo, cũng xa
cách với những quy phạm của sử thi được xây dựng trên cơ sở của những sử thi Hy Lạp.
1. 2. Sử thi Ramayana của Ấn Độ.
Sử thi Ramayana là cuộc hành trình của chàng hoàng tử Rama hay đó là những kz tích
của chàng Rama. Đây là cuốn sách thần thánh của nhiều triệu người Hinđu trong cuộc đời họ.
Tác phẩm được hình thành phổ biến theo con đường truyền miệng. Về sau mới được nhà thơ
Valmiki – người sẵn có nguồn cảm hứng đặc biệt và trí nhớ kz lạ ghi chép thành văn bản hoàn
chỉnh.
Thiên anh hùng ca bằng tiếng sanskrit, gồm 500 đoạn, chia thành 7 cuốn, dài 24.000 câu
thơ đôi, là hòn đá tảng của đạo đức Hinđu về lòng trung thành với một vị trí đặc biệt trong đời
sống tinh thần Ấn Độ suốt hàng ngàn năm qua. Sử thi Ramayana nói về cuộc chiến thắng của
hoàng tử Rama đối với vua của loài quỷ là Ravana. Rama đã đối mặt với số phận của mình với tư
cách là một người đàn ông l{ tưởng và sự hoá thân thứ bảy của vị thần Visnu. Sử thi Ramayana
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng nhiều cách khác nhau nhưng con đường
truyền miệng vẫn rất sống động, Ramayana được kể lại bên lửa trai hay đọc nơi công công cho
mọi người nghe. Người Ấn Độ xem Ramayana là một thánh kinh giúp họ gột rửa hết mọi tội lỗi
trong cuộc đời trần thế. Người Ấn Độ nói rằng: “Chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì
Ramayana vẫn làm say mê lòng người và cứu giúp họ ra khỏi vòng tội lỗi.”
18


Đặc biệt ở miền Nam Ấn Độ đã hình thành một giáo phái thờ thần Rama và thánh kinh

19


dã thú là gấu và khỉ, mà vua là Sugriva đã được chàng cứu thoát khỏi sự truy đuổi và chết chóc
trước đây. Sau cùng, Rama đã vào đến Lanka.
Quyển thứ tư của Ramayana tường thuật truyện Rama và Laksmana gặp các nhân vật
phụ dưới dạng các vua của loài khỉ Sugriva và Hanuman. Sau này, con diều hâu Đơratausta cũng
lao vào trận tử chiến chống Ravana để cứu Xita và trước khi chết đã nói cho Rama biết ai là
người bắt cóc Xita. Sau khi Ravana qua Akampana và Surpapackhi, biết được nơi Rama và Xita ở,
hắn cùng quỷ Maricha đến vùng lân cận. Maricha đội lốt con sơn dương vàng để đánh lạc hướng
Rama khỏi nơi chàng ở. Sau đó Rama dặn dò Laksmana không được rời khỏi Xita. Khi Sita nghe
tiếng Maricha giả làm Rama kêu gọi sự giúp đỡ, chính nàng là người đã nài xin Laksmana đi giúp
đỡ Rama. Đồng thời, thầy tu Brahma biến quỷ Maricha thành sơn dương, lừa Xita để nàng nói
chuỵên thân mật với Ravana.
Quyển thứ năm, mô tả cảnh Hanuman đi tìm Xita. Hanuman đã biến hình thành một con
mèo để đi tìm Xita. Để bộ dạng của mình không làm cho Xita khiếp sợ, Hanuman ẩn mình sau lá,
tán dương Rama và cho Xita hay rằng mình có quen chàng. Sau khi đã làm cho Xita tin mình rồi,
Hanuman mới xuất hiện nhưng nàng vẫn lo sợ đó là Ravana biến hình. Hanuman lại một lần nữa
thuyết phục nàng bằng cách kể cho nàng nghe tỉ mỉ về Rama và điểm qua các chiến công của
chàng cho đến khi Xita hoàn toàn tin rằng đứng trước nàng là một người bạn và nàng tràn ngập
vui sướng. Cuối cùng, để chinh phục hoàn toàn niềm tin của Xita, Hanuman trao cho nàng chiếc
nhẫn của Rama mà chàng đã trao cho Hanuman với tư cách là một phái viên của mình. Hanuman
đã phải tìm kiếm Xita rất lâu nhưng chàng đã thành công, chinh phục được lòng tin của Xita và
đốt cháy kinh thành Lanka của Ravana.
Quyển thứ sáu kể lại chuyện Rama và quân đội của chàng kéo quân qua biển tới Lanka
để giành lại công chúa Xita. Đây là một quyển có kết cấu khá dài và phức tạp vì các đối thủ là
những kẻ ngang sức ngang tài. Kết cấu của quyển này có thể chia ra làm nhiều đoạn như sau:
Chuẩn bị cho cuộc giao tranh, làm cầu qua biển Lanka, sự ngoan cố của Ravana, cuộc chiến đấu
bắt đầu, Kumbhakarna gieo rắc sự sợ hãi, sự thát bại của Indrajit, kết thúc của Ravana, sự vô tội
của Xita được minh chứng qua thử lửa và trở về nhà.

- Kasaly: Vợ cả của Dasaratha và mẹ của Rama.
- Kakeyi: Vợ trẻ nhất của Dasaratha và mẹ của Bharata.
- Sumitra: Vợ giữa của Dasaratha và mẹ của hai anh em Laksmana và Satrughna.
- Bharata: Em trai của Rama.
21


- Laksmana: Em trai của Rama.
- Satrughna: Em trai của Rama.
- Kusav Lava: hai con trai sinh đôi của Rama và Sita.
- Xita: Vợ của Rama.
- Mandavi, Srutakirti và Urmila: Những người vợ của Bharata, Laksmana, Satrughna.
3- Các vị thần và các vua loài vật:
- Indra: Thần mưa và vua của bầu trời.
- Agni: Thần lửa.
- Vayu: Thần gió, cha của Hanuman.
- Varuna: Chúa tể của ao hồ và sông ngòi.
- Surya: Thần mặt trời.
- Garuda: Vua của các loài chim, con đại bàng chở Visnu.
- Hanuman: Tướng khỉ, con khỉ nô lệ của Rama và Sita.
- Jambavan: Vua của loài gấu, con trai của Brahma.
- Jatayu: Người bảo vệ Sita, cháu trai của Garuda.
- Vali: Em trai của vua khỉ Sugriva.
- Sugriva: Vua khỉ, anh trai của Vali.
- Angada: Con trai của Vali.
4- Những con quỷ của Lanka:
- Ravana: Vua của loài quỷ.
- Dusana: Em họ của vua quỷ Ravana.
- Indrajit: Con trai cả của vua quỷ Ravana.
- Khara: Em họ của Ravana.

Hoàng tử Rama là hiện thân thứ bảy của thần Visnu nhưng chàng đồng thời cũng có những
phẩm chất của con người bình thường: yêu đương say đắm Xita, và khi nàng bị quỷ vương
Ravana bắt, tim chàng cũng tan vỡ vì đau khổ. Các phép lạ của các nhân vật trong Ramayana
23


chẳng qua cũng chỉ là phương tiện cho những dục vọng (đối với Ravana), tính nhân văn (đối với
Rama) và bản chất sâu xa rất người. Các nhân vật được giới thiệu với xuất thân rõ ràng về nơi
sinh ra, con ai, như thế nào…khiến cho người đọc, người nghe có ảo giác về tính lịch sử của nó.
Valmiki rất vĩ đại, song tác phẩm Ramayana của ông thậm chí lại còn vĩ đại hơn. Nếu
như sử thi Mahabharata nhấn mạnh tới các mặt mang tính thực tế của cuộc sống thì sử thi
Ramayana lại tuyên truyền cho những l{ tưởng cao cả nhất của cuộc sống. Thậm chí giờ đây, đối
với hàng triệu người dân Ấn Độ, Ramayana không chỉ là câu chuyện kể mà { nghĩa của nó còn
cao cả hơn những sự kiện thực tế trong cuộc đời thật của họ. Đối với họ, Ramayana “không phải
chỉ là những chuyện tích mà là cả một điện đài những nhân vật l{ tưởng, hun đúc tâm hồn và soi
sáng hành vi của họ…người Ấn Độ sùng đạo, tin tưởng rằng Krisna hay Rama là những hiện thân
thiêng liêng và đến nay họ còn cầu nguyện, khấn vái các nhân vật đó…”.*12, tr392 ] Giống như
những cây non dưới ánh sáng mặt trời, mọi người Ấn Độ và các vùng khác nhau của Châu Á đã
lớn lên về sức mạnh tinh thần và văn hoá qua việc tiếp thu có chọn lọc những cảm hứng rực rỡ
của sử thi Ramayana, về lối sống của người Hinđu- nơi những truyền thống cổ xưa, những l{
tưởng và sự mới lạ dễ dàng được tìm thấy.
Sử thi Ramayana ra đời trong giai đoạn xã hội Ấn Độ đang chuyển dần từ xã hội công xã
nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu của cải- một hình thức xã hội có giai cấp đầu tiên trong xã
hội loài người. Ở vào thời điểm đó chưa có chỗ cho con người cá nhân xuất hiện. Thay vào đó là
con người cộng đồng, con người của chủ nghĩa tập thể- một chủ nghĩa tập thể trong công xã bền
vững, cái chung được đặt lên trên, cái riêng chỉ có { nghĩa khi phù hợp với quy luật cái chung.
Điều đó đã trở thành chuẩn mực đạo đức trong xã hội và một nguyên tắc để xây dựng các nhân
vật l{ tưởng.
Hình tượng Rama và Xita đã được xây dựng theo nguyên tắc này. Bởi thế khi đánh giá
một hình tượng trong sử thi người ta chú { đến tính hài hoà trong việc thống nhất giữa cái

là phạm thánh, hoặc là hèn nhát tham lam về quyền lực và của cải, hoặc vi phạm những nguyên
tắc về tình dục hay sinh hoạt đồi bại.
Sử thi Ramayana đã chứa đựng nhiều quan điểm triết học mà nổi bật nhất là quan hệ
giữa bổn phận, danh dự và dục vọng cá nhân; giữa cái nhất thời và cái vĩnh hằng.
Chủ đề lớn của Ramayana là tìm ra số phận, hậu quả của những điều ta đã làm trong
quá khứ. Đề tài chủ yếu của sử thi Ramayana là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa ánh
sáng và bóng tối. Nàng công chúa bị một con quỷ bắt cóc, được người yêu của mình cứu giúp,
con quỷ bị đánh bại và sau đó tất cả được sống trong hạnh phúc. Đằng sau câu chuyện đó còn có
mục đích vũ trụ phải được lấp đầy, bởi như A.Ja. Gurêvích đã nhận xét rằng: “Quan niệm cổ của
người Ấn Độ về thời gian cũng giống như cái bánh xe. Chiếc bánh xe vũ trụ vận động vĩnh viễn,
đó là vòng tuần hoàn của sinh và tử luôn lặp đi lặp lại”.*15, tr34 – 35 ]
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status