Không gian và thời gian nghệ thuật trong Ngàn cánh hạc của Yasunary Kawabata - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

ĐINH THỊ MAI

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG NGÀN CÁNH HẠC
CỦA YASUNARY KAWABATA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN THỊ BÍCH DUNG

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô, những người đã tận tình giảng
dạy, động viên, giúp đỡ, nhận xét và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình
học tập cũng như khi thực hiện khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Bích Dung,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ
khuyến khích, động viên tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp, giúp đỡ của quý thầy cô và
các bạn để khóa luận hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2017

1.3. Tiểu kết..................................................................................................... 29
Chương 2: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG NGÀN CÁNH HẠC ........ 31
2.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật ................................................................ 31
2.2. Thời gian nghệ thuật trong Ngàn cánh hạc của Y. Kawabata ................. 33
2.2.1. Thời gian tâm lí ..................................................................................... 33
2.2.2. Thời gian tự nhiên ................................................................................. 37
2.2.3. Thời gian sinh mệnh.............................................................................. 42
2.3. Tiểu kết..................................................................................................... 45
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1.Lí do chọnđề tài
1.1. Lí do khoa học
Yasunary Kawabata (1899-1972) một nhà văn lớn của văn học Nhật Bản
và văn học thế giới. Người được đánh giá là một hiện tượng kì lạ của văn học
Nhật Bản thế kỉ XX. Những sáng tác của Yasunary Kawabata luôn phản ánh
và khẳng định những nét đẹp truyền thống của văn hóa Nhật Bản trong các
thời kì khác nhau từ thời đại Heian (794-1185) cho đến khi Nhật Bản trở
thành một trong những nước công nghiệp hiện đại trên thế giới thì những nét
đẹp ấy vẫn luôn được phát hiện và gìn giữ trong các sáng tác của ông. Chính
vì vậy ông được mệnh danh là “Người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp”
hành trình sáng tác của ông là “Hành trình đi tìm cái đẹp Nhật Bản”.
Y. Kawabata là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản và thứ hai của Châu Á
sau R.Tago vinh dự nhận giải thưởng Nobel văn học vào năm 1868 với bộ ba
tiểu thuyết: Xứ tuyết(1947), Ngàn cánh hạc(1951), Cố đô (1962).Với sự kiện
này ông được giới nghiên cứu tôn vinh như người “Mở cánh cửa tâm hồn
Nhật Bản”

Tác phẩm văn học là sản phẩm của nhà văn mà trong đó không chỉ tái
hiện những sự kiện, hiện tượng của thế giới khách quan qua mà còn bộc lộ
quan điểm nghệ thuật và tư tưởng của mình thông qua việc xây dựng thế giới
nhân vật đặt trong không gian và thời gian đã được xử lí theo ý muốn của
mình. Tìm hiểu không gian và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là
điều thú vị và được nhiều người chú ý. Trong các sáng tác của Y. Kawabata
đề tài này hấp dẫn và rất được quan tâm.
1.2. Lí do sư phạm
Việc đi sâu tìm hiểu các sáng tác của Y.Kawabata sẽ giúp người giáo
viên tương lai có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về văn học nước ngoài đặc
biệt là văn học Nhật Bản. Từ đó tích lũy được những tư liệu cần thiết cung

2


cấp cho học sinh biết thêm về những sáng tác văn học trong nhà trường phổ
thông như thơ Haikư của Basho. Và đặc biệt giúp các em có cái nhìn đúng
đắn trong học tập và cuộc sống. Biết giữ gìn và trân trọng những nét đẹp
truyền thống khi đất nước đang trên đà hội nhập.
Điều làm nên thành công của tác phẩm văn học được thể hiện qua nhiều
phương diện nghệ thuật khác nhau như cách xây dựng nhân vật, tạo dựng cốt
truyện, nghệ thuật trần thuật,...nhưng trong đó “Không gian và thời gian nghệ
thuật” là một vấn đề độc đáo thể hiện tài năng của nhà văn. Khi nghiên cứu đề
tài này người viết không chỉ nắm được nội dung tư tưởng của tác phẩm mà
còn thấy được phong cách sáng tác riêng của mỗi nhà văn.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn “ Không gian và thời gian nghệ thuật
trong Ngàn cánh hạc của Yasunary Kawabata” làm đề tài cho khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Y.Kawabata là một trong những tác giả tên tuổi của văn học Nhật Bản

Tạp chí văn học số 11 năm 2005 có bài viết Y.kawabata-lữ khách muôn
đời đi tìm cái đẹp của tác giả Nguyễn Thị Mai Liên. Bài viết nghiên cứu đi
sâu vào vẻ đẹp Nhật Bản trong sáng tác của Kawabata: Vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ
đẹp phong tục, vẻ đẹp của tâm hồn con người.
Trong nghiên cứu văn học số 6 năm 2006, tác giả Khương Việt Hà có
bài viết bàn về Mỹ học Y.Kawabata, bài viết này trình bày rõ quan điểm về cái
đẹp của Kawabata và nguồn gốc hình thành quan điểm đó.
Tác giả Đào Thị Thu Hằng với cuốn chuyên luận Văn hóa Nhật Bản và
Yasunary Kawabatachuyên luận viết về những nét văn hóa đặc sắc của Nhật
Bản, về tác giả Y.Kawabata và nghệ thuật kể chuyện trong sáng tác của ông
trong đó có nhắc đến phương diện không gian và thời gian. Nhìn chung, bài
viết đã có đề cập đến “không gian và thời gian nghệ thuật” trong sáng tác của

4


Y.Kawabata nhưng chưa được khai thác sâu mà chủ yếu tập chung làm nổi
bật cái đẹp trong tác phẩm của ông.
Không gian và thời gian và hai khía cạnh của sự vật, là kích thước của sự
sống, là một hiện tượng của thế giới khách quan. Nghệ thuật biểu hiện sự
sống, tái hiện sự sống làm sao không dựng cái khung không gian và thời gian
lên được để chứa đựng sự vât, để cho sự vật có cuộc sống, sinh sôi nảy nở
(Huy Cận). Trong khóa luận này người viết muốn tìm hiểu khám phá sâu hơn
phương diện “Không gian và thời gian nghệ thuật trong Ngàn cách hạc của
Y.Kawabata”. Bởi Ngàn cánh hạc là một trong ba tiểu thuyết đạt giải thưởng
Nobel của Kawabata. Trong đó, điều làm nên nét độc đáo, sinh động cho tác
phẩm chính là không gian và thời gian nghệ thuật. Người đọc cần chiêm
nghiệm, suy ngẫm để thấy được những khoảng trống mà tác giả cố tình tạo ra
trong tác phẩm. Vì vậy để nắm bắt được ngay là một điều không hề dễ dàng
mà chúng ta cần đi sâu nghiên cứu bằng cả sự say mê, nhiệt huyết.

Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong Ngàn cánh hạc

6


NỘI DUNG
Chương 1: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG NGÀN CÁNH HẠC
1.1.Khái niệm không gian nghệ thuật
Không gian là hình thức cơ bản của thế giới,trong đó các vật thể có độ
dài và độ lớn khác nhau nhưng đó chưa phải là không gian nghệ thuật. Không
gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Không có hình
tượng nghệ thuật nào không có không gian.
Nếu thế giới của nghệ thuật là thế giới về cách nhìn và mang ý nghĩa
khái quát thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra một điểm nhìn, cách
nhìn. Không gian ấy có thể rộng có thể rất hẹp. Nó cũng có viễn cảnh, có giá
trị tình cảm. Tình cảm có thể làm cho không gian bao la thêm hay gò bó chật
chội hơn. Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiên thực.
Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc hình thành thế giới nghệ
thuật, góp phần thể hiện thế giới quan tư tưởng của người nghệ sĩ trước hiện
thực và xã hội, phụ thuộc vào cách phản ánh thế giới của nhà văn vì nó mang
tính chủ quan.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học của tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa về không gian nghệ thuật như sau: “ Không
gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện
chỉnh thể của nó. Sự miêu tả trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất
phát từ một “ điểm nhìn” diễn ra trong trường nhìn nhất định. Không gian
nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan, ngoài
không gian nhân vật có thể có không gian tâm tưởng” [7;322]. Do vậy không
gian nghệ thuật có tính độc lập, tương đối, không quy được vào không gian
địa lí.


2. Không gian tâm lí
Không gian của những hồi ức, những 8 lần (32%)
ám ảnh
Không gian hiện tại của tâm lí và tình 7 lần (28%)
yêu

8


Trong tác phẩm Ngàn cánh hạc chúng tôi nhận thấy xuất hiện các kiểu
không gian : không gian trà đạo và không gian tâm lí.
1.2.1.Không gian trà đạo
Có lẽ một trong những nét văn hóa đặc sắc nhất của Nhật Bản là trà đạomột loại nghệ thuật thưởng thức trà. Gọi là “nghệ thuật” bởi lẽ việc uống trà
của người Nhật thực sự mang tính nghệ thuật rất cao đồng thời cũng mang
phong cách sống của người dân Nhật Bản. Tinh thần của một buổi trà đạo thể
hiện qua bốn chữ “ Hòa- Kính- Thanh- Tịch”.“Hòa” có nghĩa là sự hòa hợp
giữa những người tham gia buổi trà, giữa con người và thiên nhiên. “Kính”là
lòng kính trọng của chủ nhân buổi trà với mọi sự vật và con người. Lòng kính
trọng được nảy sinh khi có sự hài hòa trong tâm hồn của những người tham
gia buổi trà đạo. Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì
tấm lòng trở nên thanh thản yên tĩnh. Đó là ý nghĩa của chữ “Thanh”. Khi
lòng thanh thản yên tĩnh hoàn toàn thì toàn bộ thế giới trở nên tịch lặng dù
sống giữa muôn người nhưng cũng như sống giữa nơi am thất vắng vẻ tịch
liêu. Lúc đó thế giới với con người không còn là hai mà cả hai đều vắng bặt.
Đó là ý nghĩa của chữ “Tịch”.
Để có thể tiến hành nghi thức trà đạo đúng nghĩa cần phải có một không
gian thanh tịnh và hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên. Đáp ứng những tiêu
chuẩn đó mà dần hình thành hai không gian thưởng trà là Trà Viên và Trà
Thất. Trà Viên là một khu vườn được thiết kế phù hợp với việc ngắm hoa và

Tác giả đã dựng lên bức tranh trà đạo trong buổi hoàng hôn nhưng không vì
thế mà nét đẹp cuả trà đạo mất đi vẻ vốn cóc mặc dù trong tác phẩm
Kawabata miêu tả rất ít những chi tiết về trà đạo. Đọc tác phẩm của Kawabata
cũng có nghĩa là đồng sáng tạo người đọc phải tìm ra những mật mã ẩn sâu
con chữ.
Không gian trà thất đầu tiên được Kawabata đề cập đến đó là căn phòng
dùng cho các buổi trà đạo ở phía trong ngôi đền Engakuji. Không gian này

10


xuất hiện ngay phần đầu tác phẩm, lần theo dấu chân của Kikuji tác giả đã tái
hiện không gian đặc trưng cho các buổi trà đạo. Trà thất hiện lên dưới con
mắt của Kikuji “ Phòng chính khá rộng, khoảng độ tám thước vuông. Dù vậy,
khách đến quỳ xung quanh khá đông và chủ yếu là đàn bà mặc kimono màu
sáng”. Trà thất được thiết kế khá sang trọng và rộng điều này phù hợp với
những buổi tiệc trà truyền thống Nhật Bản. Trà thất khi ấy được bố trí đơn
giản và nhỏ nhắn để không gian thanh tịnh và ấm cúng cho trà khách thưởng
thức.Xung quanh trà thất thường được bố trí các khung cửa sổ để trà khách
vừa thưởng thức trà vừa ngắm cảnh sắc thiên nhiên trong khu vườn “Bóng
chùm lá non bên ngoài in hình lên tấm cửa có căng giây”. Việc thưởng thức
trà cùng với khung cảnh thiên nhiên giúp tâm hồn người thưởng trà thư thái
hơn đúng với ỹ nghĩa của chữ “Hòa” trong nghệ thuật trà đạo. Ngoài phòng
chính thì còn xuất hiện thêm các không gian xung quanh như “ Phòng đối
diện hàng hiên nơi Kikuji đứng chính là phòng đợi chứa đầy những hộp kẹo,
đồ sứ uống trà do Chikako mang lại và những gói đồ của khách” và ở cửa góc
phòng chính là phòng họp nơi gặp gỡ và tiếp khách của chủ nhân buổi trà đạo.
Các nghi thức uống trà trong không gian ấy được diễn ra lần lượt trình tự.
Mọi người tham gia đều chú ý đến cô gái nhà Inamura với chiếc chén Oribe
trên tay- đây là chiếc chén “ màu đen, lấm trấm điểm trắng, vẽ cây non màu

này lại xuất hiện và là nơi gặp gỡ, trò truyện của Kikuji và Fumiko cùng với
đó là sự có mặt của Chikako. Và lần cuối cùng không gian trà thất này xuất
hiện đó là vào chương cuối khi Fumiko tìm đến nhà Kikuji và yêu cầu về việc
đập vỡ chiếc chén có in hình vết son môi của bà Ota. Mặc dù không gian trà
thất được tái hiện rất nhiều lần nhưng Kawabat không miêu tả không gian căn
phòng một cách cụ thể, chi tiết mà ông chỉ miêu tả thoáng qua những chi tiết
tiêu biểu mà theo đó người đọc có thể hình dung ra không gian đặc trưng của
trà thất trong các gia đình. Cũng giống như căn phòng dùng cho các buổi trà
đạo trong ngôi đền Engakij thì không gian trà thất trong gia đình nhà Kikuji

12


cũng được thiết kế một cách đơn giản và nhẹ nhàng phù hợp dùng cho các
buổi trà đạo. Căn phòng này cũng có nhiều cửa sổ để nhìn ra khu vườn và khi
đẩy rộng các cửa lều “ Hàng cây phong xanh rì nơi khung cửa sổ”. Bên trong
căn phòng, gia đình Kikuji có treo bức chân dung của danh họa nổi tiếng
Sotatsu “được vẽ bằng màu nước rất nhẹ, rất mĩ thuật” nổi bật trên nền tường
được quyét sơn màu dịu. Trong không gian ấy ngự trị bầu không khí lặng lẽ,
cô tịch, không có màu sắc rực rỡ tạo cảm giác tĩnh lặng, ấm cúng cho người
thưởng thức trà. Đồ đạc, vật dụng trong căn phòng cũng được bố trí, sắp xếp
hợp lí “bộ đồ trà nằm trong tủ cốc, tách trà bên cạnh cái chậu” để không
chiếm diện tích của phòng trà, tạo sự cân bằng, hòa hợp theo phong thủy.
Để làm nổi bật không gian của trà thất, Kawabata đã tái hiện trong không
gian ấy những vật dụng quen thuộc được sử dụng trong trà đạo chiếc bình
Shino được miêu tả vô cùng gợi cảm “Một màu đỏ nhạt nổi bật trên nền bằng
men. Kikuji đưa tay ra vuốt ve mặt bình nhẵn bóng và mát rượi”. Nó “Thật là
mềm mại như một giấc mộng”. Đó là một chiếc bình dùng để đựng nước pha
trà trong những buổi trà đạo đã có lịch sử lâu đời. Cùng với chiếc bình Shino
là chiếc chén Shino với vết son môi người thiếu phụ đã ngấm vào miệng chén

vào đó là không gian cửa đóng then cài bởi từ lâu Kikuji đã không sử dụng
đến túp lều “chàng đã đóng cửa túp lều từ ngày mẹ chàng mất” và dường như
trà thất đang dần bị quên lãng. Chính vì vậy, không gian trà thất bên trong
hiện lên bám đầy bụi và từ lâu đã không được lau chùi “Lần cuối cùng cậu
quét dọn túp lều là cách đây bao lâu rồi? Tôi không thể nào lau sạch những
chỗ bị bụi đóng kịt lại, dù đã cố gắng hết mình”. Không những vậy mùi ẩm
mốc và mạng nhện bám đầy các đồ vật “Túp lều có vẻ hoang lạnh, mùi ẩm
ướt vương vất trong lều,tấm thảm chải nơi chàng ngồi cũng thấm lạnh”. Sự
tồn tại của những dụng cụ pha trà như chiếu bình Shino chiếu chén uống trà
Shino và cặp chén Raku... là nhũng dụng cụ dùng trong các tiệc trà có lịch sử
lâu đời gắn liền với tên tuổi của những vị trà sư nổi tiếng của Nhật Bản nhưng

14


tất cả xuất hiện trong tác phẩm ở không gian trà thất không tương xứng. Một
không gian trà thất bị lãng quên, tầm thường và xuất hiện trong bộ dạng đầy
chua xót “chàng nâng bộ đồ uống trà lên và phủi bụi ra ngoài vườn”, “Trong
chạn đầy những mọt, có một con ve sầu chết cứng trong tủ cốc tách”.
Kawabata đã tái hiện cho người đọc hiện thực trà thất trong một gia đình có
truyền thống trà đạo buổi giao thời. Phải chăng sự ẩm mốc của trà thất cũng là
sự mai một của trà đạo. Đó là chàng Kikuji mà trong các buổi trà đạo của
Chikako tổ chức chàng luôn nhận lời nhưng chưa một lần đến dự kể từ khi
cha chàng mất đó chỉ như một sự hoài niệm “ Có ý nghĩa tưởng nhớ đến cha
chàng vậy thôi”. Vì vậy ngay cả trà thất trong gia đình chàng cũng không
quan tâm, không biết bức tranh treo trên tường là của danh họa nào, không
biết cất các vật dụng cất ở đâu bởi chàng chưa một lần sử dụng đến. Trà thất
vốn là nơi thanh tịnh để con người thưởng thức trà và ngắm cảnh cho tâm hồn
thư giãn. Nhưng trong tác phẩm không gian trà thất hiện lên là nơi trò chuyện,
chứng kiến những câu chuyện tình yêu của Kikuji. Đó là một tình yêu đam

được thiết kế theo hai phong cách chính là vườn phẳng và khu vườn với
những ngọn đồi nhân tạo. Hai kiểu vườn truyền thống này đều được
Kawabata phản ánh vào trong sáng tác của mình như muốn giới thiệu cho
người đọc về những khu vườn truyền thống của Nhật Bản với những đặc
trưng và vẻ đẹp riêng.
Trước tiên là không gian trà viên phía trong ngôi đền Engakuji. Đây là
không gian trà viên được thiết kế với những ngọn đồi nhân tạo trong các
khuôn viên lớn như đền, chùa. Không gian trà viên này mặc dù không được
Kawabata miêu tả một cách kĩ lưỡng tỉ mỉ xong những nét đặc trưng nhất đều
được ông phản ánh vào trong tác phẩm. Tác giả đã tái hiện không gian trà
viên với yếu tố chủ đạo là những ngọn núi nhân tạo hay còn được gọi là
không gian theo kiểu “Vườn đồi”. Hình ảnh những ngọn đồi này xuất hiện rất
nhiều lần trong tác phẩm khi Kikuji đã nhìn thấy “cây đỗ quyên trên sườn núi

16


đã đâm nụ”, “họ đang tiến đến ngọn đồi đối diện Engakuji” hay “Họ đưa
nhau vào một cái quán trên ngọn đồi đối diện Engakuji” gợi cho người đọc
khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, hùng vĩ. Điểm xuyết trong không gian rộng
lớn ấy là những bụi cây xanh tươi những chùm lá non “một cơn gió chiều
thoảng qua mơn man những chiếc lá non”, hay những tán lá cây đang ở tuổi
trưởng thành tạo nên “ bóng mát của chiếc cổng chính dẫn vào ngôi đền”.
Một đặc trưng không thể thiếu của kiểu không gian nàyđược tác giả miêu tả
đó là hình ảnh những con đường nhỏ quanh co “băng qua những con đường
mòn” mà đan xen vào đó có thể là những bông hoa khoe sắc hay những con
thác nhỏ. Tất cả những chi tiết đó đã tạo nên bức tranh thu nhỏ của thiên
nhiên rộng lớn. Không gian trà viên theo kiểu “vườn đồi” được thiết kế theo
thế giới thiên nhiên, bằng những yếu tố của tự nhiên. Thông qua việc tái hiện
không gian ấy, Kawabata không chỉ giúp người đọc về lại với thiên nhiên cây

phiến đá cũng được chủ ý sao cho phù hợp với khung cảnh trong gia đình.
Một nét đặc trưng trong kiểu không gian trà viên này là ở phía cuối lối đi có
“cái bể nước bằng đá” để cho khách rửa tay trước khi bước vào trà thất. Theo
quan niệm của người Nhật Bản trước khi thưởng trà con người phải thanh tẩy
cơ thể chính vì vậy bể nước bằng đá thường được bố trí nơi cuối lối đi, trước
cửa vào của trà thất. Không gian trà viên trong gia đình thường gợi cho người
xem chìm vào thế giới tâm tưởng đầy tĩnh lặng và suy tư. Chính vì vậy
Kawabata đã để cho kiểu không gian này xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm
để cho các nhân vật bộc lộ những suy tư, tính cánh của bản thân mình.
Kawabata là người luôn kiếm tìm những vẻ đẹp truyền thống của Nhật
Bản và phản ánh vào trong tác phẩm của mình. Ông đã mở ra trước mắt người
đọc hai kiểu không gian tiêu biểu nhất của những khu vườn truyền thống Nhật
Bản. Mỗi kiểu không gian được bố trí khác nhau với dụng ý riêng tạo nên sự
độc đáo. Trong mỗi kiểu không gian thiên nhiên hiện lên một cách cụ thể,

18


sinh động góp phần làm nổi bật sự phức tạp, hỗn loạn trong suy nghĩ của các
nhân vật.
1.2.2.Không gian tâm lí
Không gian tâm lí hay có thể hiểu là không gian tâm tưởng của nhân vật.
Không gian tâm lí được tạo ra do dòng ý thức bên trong của nhân vật, thường
gắn với hồi ức, tưởng tượng, giấc mơ. Đây là không gian đặc biệt mang cảm
quan đời sống của nhà văn. Không gian này mang đậm dấu ấn trạng thái tinh
thần, đạo đức, tính cách, số phận của từngnhân vật cụ thể, nhưng sắc thái biểu
hiện của không gian ngoại cảnh thường được khúc xạ qua lăng kính chủ quan,
là một cái cớ để mở rộng suy tư, cảm xúc của nhân vật. Không gian chật hẹp
có ảnh hưởng đến không gian tâm lí ( từ đó nhân vật sống với hồi ức về một
quá khứ không bao giờ trở lại). Nhân vật tách mình khỏi không gian thực để

mỗi hoàn cảnh, mỗi không gian khác nhau tâm lí nhân vật lại được thể hiện
theo hướng khác nhau.
1.2.2.1.Không gian của những hồi ức,những ám ảnh
Trong Ngàn cánh hạc không gian nghệ thuật nổi trội nhất là không gian
tâm tưởng. Có rất nhiều không gian liên quan đến tâm trạng con người. Trong
tác phẩm, gia đình Kikuji bị Chikako “ám” ngay từ khi chàng còn là một cậu
bé và cứ mỗi khi Chikako xuất hiện, chàng thấy không gian xung quanh
dường như cũng trở nên ảm đạm, xấu xí, dù đó là một không gian được miêu
tả qua người kể chuyện nhưng độc giả cũng nhận thấy rõ nó đã được soi chiếu
bằng tâm tư của nhân vật. Đó là nỗi ám ảnh từ trong tiềm thức của Kikuji khi
mới tầm tám chín tuổi. Chứng kiến cảnh tình nhân của cha mình-Chikakao
với “ Cái bớt lớn bằng bàn tay che tới nửa ngực bên trái tuốt xuống chỗ trũng
giữa hai vú. Mớ lông mọc trên cái bớt màu tím than dường như khá rậm và cô
ta đang cắt bớt đi”. Khung cảnh ấy diễn ra trong không gian căn phòng mà
“dù lúc bấy giờ là ban ngày, lũ chuột vẫn chạy loạn xạ trên nền nhà bị lõm

20


hẳn xuống” một căn phòng gợi nên cho người đọc cảm giác về sự tầm thường,
xuống cấp và bẩn thỉu. Vì vậy hình ảnh con người xuất hiện trong đó khiến
Kikuji hết sức ngạc nhiên và nó trở thành nỗi ám ảnh trong suốt cuộc đời
nhân vật kể từ đó. Chàng luôn cảm thấy ghê tởm người phụ nữ có thể làm tất
cả mọi việc này cũng như ghê tởm cái bớt trên người cô ta. Nỗi ám ảnh này
đã theo sát cuộc đời nhân vật “ Kikuji không bao giờ quên được cái bớt đó.
Đôi khi chàng tưởng tượng như chính cuộc sống của chàng cũng bị vướng
mắc trong cái ấn tượng về nó”. Chính vì vậy sau bao nhiêu năm khi nhận
được lời mời tham gia buổi trà đạo thì những ý nghĩ về cái bớt- về mối quan
hệ giữa người đàn bà này với cha chàng lại xuất hiện trong tâm trí chàng.
Trên đường từ sở làm về,khi viết Kurimoto đã tự ý sắp xếp một buổi trà đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status