Thời gian và không gian nghệ thuật trong sáng tác của haruki murakami nhìn từ tâm thức hậu hiện đại - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

HOÀNG THU THỦY

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA HARUKI MURAKAMI
NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

HOÀNG THU THỦY

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA HARUKI MURAKAMI
NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trƣơng Đăng Dung

HÀ NỘI, 2016

Hà Nội, ngày tháng

năm 2016

Tác giả
Hoàng Thu Thủy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 7
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 8
6. Đóng góp của đề tài ................................................................................... 8
NỘI DUNG ....................................................................................................... 9
Chương 1. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI TRONG
VĂN HỌC ......................................................................................................... 9
1.1. Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới ....................................... 9
1.2. Chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami ............. 27
Chương 2. TH I GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA
HARUKI MURAKAMI.................................................................................. 40
2.1. Thời gian hiện thực ............................................................................... 40
2.2 Thời gian huyền ảo................................................................................. 57
2.3 Thời gian đồng hiện phi tuyến tính ........................................................ 66
Chương 3. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA
HARUKI MURAKAMI.................................................................................. 83
3.1. Không gian hiện thực ............................................................................ 83
3.2. Không gian huyền ảo ............................................................................ 97

đối và tính đa dạng của thực tế. Chủ nghĩa hậu hiện đại trong triết học có ảnh
hưởng đến nhiều lĩnh vực văn hóa – xã hội như tôn giáo, phê bình văn học,
ngôn ngữ học…


2

Có thể nói văn chương hậu hiện đại là một khuynh hướng sáng tác phổ
biến hiện nay trên thế giới, tập trung nhất có lẽ là ở Hoa Kỳ, với những nhà
văn, nhà thơ nổi tiếng như: Auster, Salinger, Chandler, Borges, Thomas
Pynchon, John Barth, Hunter S. Thompson, David Markson, Bret Easton
Ellis,…
Nhật Bản là quốc gia có nền văn học phát triển sớm và có nhiều thành
tựu. Bước sang thế kỉ XX, tiếp thu ảnh hưởng văn học phương Tây, Văn học
Nhật Bản đã trải qua quá trình hiện đại hóa và đạt đến đỉnh cao với những tác
giả như Atukagawa Ryunosuke, Kawabata Yasunary, Oe Kenzaburo… Đứng
trước những “tượng đài” đó, nhiều nhà văn đã không hề nao núng, không
chấp nhận dừng lại viết theo kiểu cũ, mà đã không ngừng sáng tạo, có sự thay
đổi về cái nhìn và bút pháp. Haruki Murakami là một trong những nhà văn
như thế. Haruki Murakami là một nhà văn nổi tiếng không chỉ trong nước mà
còn được độc giả nhiều nước trên thế giới biết đến qua các bản dịch với hơn
ba mươi thứ tiếng. Ông là chủ nhân của nhiều giải thưởng tầm vóc quốc gia
và quốc tế, đồng thời là một trong số những nhà văn lớn của Nhật Bản và
châu Á đựơc đề cử giải thưởng Nobel văn học. Theo Từ điển Bách khoa
Columbia (ấn hành năm 2000), Haruki Murakami là nhà văn “được công nhận
là một trong những tiểu thuyết gia của thế kỷ XX quan trọng nhất của Nhật
Bản”. Sáng tác của Haruki Murakami là những khám phá mới về nội dung và
nghệ thuật mang đậm phong cách Nhật Bản, Á Đông kết hợp với phong cách
phương Tây hiện đại. Trong tác phẩm của ông, con người và cuộc sống của
xứ sở Phù Tang được phản ánh bằng nhiều hình thức nghệ thuật độc đáo như

giải thưởng nào. Giải thưởng đích thực của tôi là độc giả, những độc giả đang
mong chờ tác phẩm kế tiếp của tôi. Tôi rất trân trọng sự quan tâm và thuỷ
chung của họ. Tôi đã nỗ lực suốt nhiều năm trời để nắm được tư tưởng họ, tâm
hồn họ và dường như tôi đã nắm được tư tưởng, tâm hồn độc giả” (Haruki
Murakami trả lời phỏng vấn dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng).


4

Hướng đến thế giới tâm hồn phong phú của những con người Nhật Bản
đương đại để khám phá những bí ẩn kỳ diệu của xứ sở Phù Tang trong hoàn
cảnh nước Nhật và thế giới hiện đại có nhiều biến đổi dữ dội là mục đích
chính, nổi bật trong sáng tác của Haruki Murakami. Tất nhiên, nhằm khai thác
chiều sâu tâm lý nhân vật, Haruki Murakami đã dụng công một cách khéo léo
trong việc sử dụng nghệ thuật đểthể hiện nội dung. Đặc biệt, cái đặc sắc của
Haruki Murakami là từng bước khẽ mở bức màn che về hiện thực cuộc sống
của xã hội Nhật Bản. Nói đến những sáng tác của ông là nói đến các thủ pháp
nghệ thuật độc đáo. Trong các tác phẩm của mình, Haruki Murakami đã vận
dụng khá nhiều hình thức nghệ thuật như: Thi pháp hậu hiện đại, yếu tố huyền
ảo, hệ thống hình tượng nhân vật, sự vật… Song cái làm nên một tác phẩm
hoàn chỉnh – một thế giới nghệ thuật thì hai hình tượng: không gian và thời
gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng để xác định giá trị của một tác phẩm
văn chương. Chính không gian và thời gian nghệ thuật này tạo điều kiện cho
nhân vật của Haruki Murakami được thể hiện chính mình và thông qua đó cho
thấy một bức tranh xã hội hiện thực của Nhật Bản đang trên con đường của sự
phát triển thần tốc về kinh tế và sự xuống dốc về tinh thần– văn hóa.
Với sự say mê về nội dung cũng như nghệ thuật của những cuốn tiểu
thuyết đặc sắc, người viết muốn đi sâu hơn tìm hiểu và phát hiện ra cái hay
của Haruki Murakami nhất là khi ông thể hiện không gian và thời gian nghệ
thuật. Trong đó, Haruki Murakami đã khéo léo đan cài lẫn lộn giữa thế giới

không gian và thời gian nghệ thuật trong một số tác phẩm của Haruki
Murakami có thể kể đến một vài bài viết được đăng tải trên mạng như: Thứ
nhất, “Về con người cô đơn trong tiểu thuyết rừng NaUy” được đăng trên
trang . Trong bài viết này, người nghiên cứu đã chỉ ra
hai loại không gian chính trong tiểu thuyết Rừng NaUy.“…Có hai loại không
gian chính: không gian nhà nghỉ Ami và không gian ngoài nhà nghỉ Ami. Hai
biểu tượng đó cũng là biểu tượng cho hai phần Nhật Bản: truyền thống và
hiện đại.” Bên cạnh việc phân loại và đi vào phân tích hai kiểu không gian thì


6

tác giả cũng đã nêu lên giá trị của từng hình tượng không gian đó. Nó góp
phần thể hiện dụng ý nghệ thuật của Haruki Murakami. Khoảng cách giữa hai
kiểu không gian được xem như “ranh giới ngăn cách của những ám ảnh cạm
bẫy, chết chóc, là sự cách ngăn giữa quá khứ và hiện tại”. Thứ hai, “Thực và
ảo trong truyện ngắn của của Haruki Murakami” được đăng trên trang:
. Bên cạnh đó còn có một số bài luận văn như: “Thời
gian và không gian nghệ thuật trong Biên niên ký chim vặn dây cót của
Haruki Murakami” của Nguyễn Thị Loan Thảo (Khoa Khoa học Xã hội và
Nhân văn - Trường ĐH Cần Thơ), hay “Thời gian và không gian nghệthuật
trong Rừng Na-uycủa Haruki Murakami” của Võ Khánh Phương (Khoa Khoa
học Xã hội và Nhân văn - Trường ĐH Cần Thơ)… Đây là những bài viết có
tính chất tổng hợp. Các công trình này lý giải rất nhiều vấn đề có liên quan
đến các yếu tố nghệ thuật trong các tác phẩm của Haruki Murakami. Đáng
chú ý nhất là tác giả đã nêu lên hai đặc điểm lớn về không gian và thời gian
nghệ thuật trong các truyện ngắn của Haruki Murakami. Hai đặc điểm đó là:
tính phi không gian – thời gian và tính hư cấu không gian – thời gian. Nhìn
chung, các bài viết về các phương diện nghệ thuật nói chung và không gian –
thời gian nghệ thuật nói riêng trong các tác phẩm của Haruki Murakami có

Dựa vào cơ sở lý thuyết về không gian và thời gian nghệ thuật trong
văn học thời kì hậu hiện đại để đối chiếu, phát hiện những độc đáo cũng như
vai trò của yếu tố thời gian, không gian nghệ thuật trong sáng tác của
Murakami.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Qua việc thống kê, khảo sát, phân tích, giải mã các phương thức biểu
hiện, làm rõ yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật trong sáng tác của
Haruki Murakami nhìn từ tâm thức hậu hiện đại.


8

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Để làm nổi bật lên vấn đề trọng tâm trong đề tài nghiên cứu, người viết
chủ yếu tập chung vào vào thủ pháp xây dựng hình tượng không gian và thời
gian nghệ thuật trong 3 tác phẩm tiêu biểu.
Một là, Rừng NaUy - tác phẩm có tính chất bước ngoặc đã đưa tên tuổi
của Haruki Murakami vang danh khắp thế giới.
Hai là, Phía nam biên giới phía tây mặt trời - tác phẩm được xem là
“quyển tiểu thuyết cảm động nhất và có liên quan nhiều nhất đến cuộc đời
của Haruki Murakami”.
Ba là, Biên niên kí chim vặn dây cót - tác phẩm có dung lượng lớn nhất
trong các sáng tác của Haruki Murakami, và được đánh giá là đỉnh cao của
nghệ thuật ngôn từ theo phong cách hậu hiện đại.
Trong quá trình nghiên cứu, người viết cũng có liên hệ với một số tác
phẩm tự sự khác của chính Haruki Murakami và các tác giả tiểu thuyết khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống.
- Phương pháp loại hình.

Như vậy, hậu hiện đại là một cách gọi để chỉ về một sự vận động, mà sự vận
động đó đang tạo nên một hệ hình tư duy mới, có nhiệm vụ thay thế cho hệ
hình tư duy hiện đại đã không còn phù hợp, kể cả trong kinh tế, chính trị và
trong văn hoá tinh thần.
Trước tiên, chúng ta phân tích thuật ngữ "hậu hiện đại" (postmodern). Thuật
ngữ này lần đầu được sử dụng khoảng thập niên 1870. Trong giai đoạn đó,
John Watkins Chapman đề xuất một “phong cách hậu hiện đại trong hội họa”
để vượt qua chủ nghĩa ấn tượng Pháp (French Impressionism). Năm 1914, J.
M. Thompson viết một bài phê bình tôn giáo, đăng trên tạp chí triết học The


10

Hibbert Journal, sử dụng khái niệm "hậu hiện đại" để miêu tả những đổi thay
trong quan điểm và đức tin để thoát khỏi chủ nghĩa hiện đại.
Năm 1917, nhà văn - triết gia Đức Rudolf Pannwitz (1881 – 1969) sử
dụng thuật ngữ này để miêu tả sự giáo hóa định hướng chất hiện đại của
Friedrich Nietzsche với kết quả cuối cùng là sự điêu tàn và chủ nghĩa hư vô
(nihilism).
Từ năm 1921 đến 1925, "chủ nghĩa hậu hiện đại" (postmodernism)
được dùng để miêu tả những hình thức mới của nghệ thuật và âm nhạc. Đến
năm 1939, với tư cách là một lý thuyết chung trong sự vận động của lịch sử,
nó được Arnold J. Toynbee sử dụng lần đầu trong tác phẩm Our own PostModern Age (Thời hậu hiện đại của chính chúng ta).
Năm 1942, H. R. Hays miêu tả thuật ngữ này như một hình thức văn
chương mới. Đến năm 1949 hậu hiện đại được dùng để cho thấy sự không
thỏa mãn trước kiến trúc hiện đại, dẫn tới phong trào "kiến trúc hậu hiện đại"
(postmodern architecture), và có lẽ đây còn là phản ứng trước phong trào kiến
trúc hiện đại gọi là "Phong cách quốc tế" (International style).
Chủ nghĩa hậu hiện đại là một thuật ngữ bao quát, đa nghĩa, chứa nhận
thức hoài nghi về văn hóa, văn chương, nghệ thuật, triết học, kinh tế và những

không đơn giản chỉ là sự phản chiếu hiểu biết của nhân loại về thực tại. Nó
hình thành trong tâm trí để con người cố hiểu chân lý riêng của nó. Vì lý do
này, chủ nghĩa hậu hiện đại chính là sự hoài nghi cao độ về những lý giải
tuyên bố là “chân lý”, đúng đắn cho tất cả các nhóm, các nền văn hóa, các
truyền thống hay các chủng tộc, thay vì phải tập trung vào cái đúng cho từng
cá nhân. Trong sự hiểu biết về hậu hiện đại, cách hiểu là tất cả; thực tại trở
thành cái cốt lõi qua sự hiểu biết của chúng ta, cái mà thế giới có ý nghĩa đối
với mỗi cá nhân chúng ta. Chủ nghĩa hậu hiện đại tin vào kinh nghiệm cụ thể
đối lập với những nguyên tắc, luôn biết rằng kết quả kinh nghiệm riêng của ai


12

đó chỉ là sự tương đối, có thể sai lầm, chứ không phải là điều hoàn toàn chính
xác, phổ biến cho tất cả. Chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận tư duy logic, tiếp
cận thế giới hoàn toàn chủ quan. Người theo chủ nghĩa hậu hiện đại không tin
vào chân lý trừu tượng hoặc chân lý phổ biến, cố loại bỏ sự khác biệt giữa cái
gọi là văn hóa cao và thấp. Họ không tin vào kinh nghiệm trong quá khứ, văn
bản nói về quá khứ và cho rằng những gì thuộc về quá khứ không hữu dụng
cho hiện tại.
Trong thời chủ nghĩa hậu hiện đại, với sự tấn công mạnh mẽ của các
phương tiện thông tin đại chúng và sự tiến bộ trong công nghệ, truyền hình và
máy vi tính trở nên có ưu thế vượt trội trong xã hội. Những tác phẩm nghệ
thuật và văn chương đã bắt đầu được sao chép, bảo quản bằng các phương
tiện kỹ thuật số. Người ta không còn tin các tác phẩm nghệ thuật và văn
chương chứa một ý nghĩa duy nhất. Họ tin vào sự suy luận, nhận thức riêng
của họ về những tác phẩm văn chương và nghệ thuật. Internet và các phương
tiện media tương tác dẫn tới sự phân bố kiến thức rộng khắp trong xã hội.
Như tất cả các khuynh hướng nghệ thuật, chủ nghĩa hậu hiện đại trong
văn chương không cho thấy sự phát triển, phổ biến và suy tàn của nó cụ thể

người mẫu, tạm dịch theo tựa tiếng Pháp Le photographe et ses modèles)
(1988), ông tả một họa sĩ, muốn vẽ cho thật chính xác bức tranh ngựa, đã mổ
ngựa để giảo nghiệm cơ thể; muốn vẽ chân dung hai mẹ con, bèn tìm cách mổ
moi (trộm) xác một người mẹ chết vì sinh nở, để vẽ cho sống động. Tác phẩm
của ông toát ra một thứ ngôn ngữ văn chương lạ kỳ, rùng rợn, mê sảng, một
không khí ngụ ngôn thi ca khốc liệt.
Robert Coover (sinh 1932), dùng thủ pháp xáo trộn lịch sử, kể lại và di
chuyển việc xử tử Rosenberg vào thời cao điểm chiến tranh lạnh của phong
trào Mac Carthy. Phác họa một chân dung Nixon đầy nọc độc. Nghi ngờ tất cả


14

những version chính thức của thực tại. Coover bẻ tréo thực tại "chính thức" để
tạo ra một thực tại khác với cảm quan độc đáo của mình.
Kurt Vonnegut (sinh 1922) đặt những câu hỏi hóm hỉnh: Tại sao chúng
ta lại ở trên trái đất này? Ta có thể làm gì được ở đây? Ta biết gì về thế giới
này? Trinh thám giả tưởng là đất dụng võ của ông, ông thích so sánh trái đất
với những hành tinh khác để tìm hiểu cõi "vũ trụ buồn" của chúng ta. Cố tình
pha trộn châm biếm với ngây thơ giả đò, Vonnegut tưởng tượng ra một xã hội
mà những người cầm quyền là những nhà bác học và quần chúng trở nên "vô
dụng". Ông tạo ra những tình tiết ly kỳ giữa các thiên thể như hành tinh
Tralfamadore, dùng những gì mà trái đất gọi là di tích lịch sử như Vạn lý
trường thành để gửi thông điệp. Để giễu cợt "tương lai nhân loại", ông đặt
những câu hỏi lẩn thẩn như "người để làm gì?", "làm sao yêu được đám người
vô dụng?"
Dưới đây có thể thấy một số thủ pháp tiêu biểu được sử dụng trong văn
chương hậu hiện đại, tuy nhiên đây không phải là đặc điểm và thủ pháp độc
quyền của văn chương hậu hiện đại và không phải bất kỳ nhà văn hậu hiện đại
nào cũng sử dụng chúng.

trước đây, bây giờ được dán nhãn là tiểu thuyết gia hậu hiện đại (!). Thí dụ
như Joseph Heller, Bruce Jay Friedman, John Barth, hay Kurt Vonnegut....
Phân mảnh (fragmentation): là một khía cạnh quan trọng khác của văn
chương hậu hiện đại. Người ta có thể tìm thấy những mảnh vụn rời rạc trong
cốt truyện, tính cách nhân vật, đề tài, hình ảnh và tình tiết xuyên suốt toàn bộ
tác phẩm. Nhìn chung, một chuỗi gồm nhiều sự kiện, con số, hành động... tiếp
nối nhau theo trình tự nào đó, thoạt nhìn có vẻ giống tác phẩm hiện đại, song,
sự khác biệt chính là cách tiếp cận từng mảnh vụn của văn chương hậu hiện
đại. Sự phân mảnh có thể xuất hiện trong ngôn từ, cấu trúc câu và văn phạm.
Trong tiểu thuyết Ζ213: ΕΞΟΔΟΣ (Z213: Ra đi, 2009), nhà văn Hy Lạp


16

Dimitris Lyacos cho thấy phong cách viết gần như là điện báo (telegraphic).
Hiếm khi ông sử dụng mạo từ và liên từ, chủ yếu dùng biện pháp tu từ của
hình thức nhật ký; phần lớn là ngôn ngữ đời thường, giản dị với sự rối loạn và
méo mó của văn phạm. Sự khiếp sợ được tạo ra bằng ngôn từ vừa phải, kết
hợp để hình thành loại cú pháp không có kết cấu, đứt quãng, dường như chật
chội, mà qua đó nỗi sợ hãi trong tiềm thức người đọc có thể tăng lên rồi dịu
xuống... Sự phân mảnh còn xuất hiện bằng những hình thức khác trong tiểu
thuyết Giovanni’s Room (Căn phòng của Giovanni, 1956) của James Baldwin
hay trong kịch Waitingfor Godot (Chờ đợi Godot, 1953) của Samuel Beckett.
Theo nhà văn James Morley, nhiều tác giả hậu hiện đại thường tìm kiếm các
yếu tố hữu ích trong những hình thức xưa, thí dụ như sử dụng nghệ thuật cắt
dán ảnh cho tác phẩm của mình.
Nghịch lý (paradox): nghịch lý của văn chương hậu hiện đại là đặt toàn
bộ các nguyên tắc dưới sự giám sát của chủ nghĩa hoài nghi (absurdism), ngay
cả những nguyên tắc riêng cũng có thể bị tra hỏi. Chủ nghĩa hoài nghi (hay
chủ nghĩa phi lý) có nguồn gốc từ quan điểm của triết gia Đan Mạch Søren

989) - nhà văn Ai Len đoạt giải Nobel Văn chương năm 1969.
Cóp nhặt (pastiche): kết hợp hoặc "dán" nhiều yếu tố vào nhau. Trong
văn chương hậu hiện đại, điều này có nghĩa là tôn trọng hoặc giễu nhại những
thể loại trong quá khứ. Nó có thể đại diện cho sự hỗn độn, tính đa nguyên
hoặc đa khía cạnh thông tin của xã hội hiện đại. Kỹ thuật cóp nhặt có thể kết
hợp nhiều thể loại để tạo ra một chuyện kể duy nhất hoặc đưa ra những lời
bình về sự vật, hoàn cảnh trong thời hậu hiện đại.
Siêu hư cấu (metafiction): về cơ bản, siêu hư cấu là cách viết về cách
viết hoặc "làm nổi bật cấu trúc phức tạp của tác phẩm", vì nó là đặc trưng cho
cách tiếp cận của người theo chủ nghĩa giải cấu trúc, tạo ra tính chất giả của
nghệ thuật hoặc tính chất tiểu thuyết hư cấu mà người đọc có thể nhận ra


18

được, nói chung siêu hư cấu không quan tâm tới sự hoài nghi. Thí dụ, sự tri
giác hậu hiện đại và siêu hư cấu ra lệnh cho những tác phẩm giễu nhại
(parody) cần nhái lại ý tưởng của chính sự giễu nhại.
Siêu hư cấu thường được sử dụng để làm suy yếu quyền lực của tác giả,
giúp chuyện kể thay đổi bất ngờ, thúc đẩy nội dung theo lộ trình duy nhất, tạo
khoảng cách xúc cảm hoặc bình luận hành động kể chuyện. Thí dụ, tiểu
thuyết Se una notte d'inverno un viaggiatore (Nếu một đêm đông có người lữ
khách, 1979) của nhà văn Ý Italo Calvino. Nội dung nói về một người đang
đọc quyển sách có tựa là Se una notte d'inverno un viaggiatore (chú ý: tựa
sách thật và tựa sách trong truyện trùng tên). Quyển này bắt đầu bằng chương
nói về nghệ thuật và bản chất của việc đọc, và sau đó được chia thành hai
mươi hai đoạn. Những đoạn đánh số lẻ và đoạn cuối cùng cho thấy nhân vật
chính kể chuyện bằng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ hai, kể cho người đọc
những gì mà anh ta đang chuẩn bị cho việc đọc ở chương kế tiếp. Mỗi đoạn
đánh số chẵn là một chương đầu tiên của một quyển tiểu thuyết (tổng cộng 10

Trong quyển Flight to Canada (Chuyến bay đến Canada, 1976), nhà
văn Mỹ Ishmael Reed đã xử lý tinh tế, nghịch ngợm những chi tiết sai thời
gian lịch sử, thí dụ cảnh Abraham Lincoln (Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ)
sử dụng điện thoại. Nhìn chung, thời gian đã trở nên méo mó bởi sự pha trộn
lịch sử với thực tế chính trị và hài kịch qua lăng kính của Ishmael Reed.
Trong Everything Is Illuminated (Mọi điều sáng tỏ, 2002), tiểu thuyết đầu tay
của Jonathan Safran Foer, thủ pháp này hiện rõ qua cảnh nhân vật chính
Jonathan Safran Foer đến Ukraine, ở nơi ấy mọi điều đã trở nên cũ kỹ so với
nước Mỹ, nơi ông khởi hành.
Ngoài ra, thời gian cũng có thể chồng chéo lên nhau, lặp lại hay phân
tách trong nhiều sự kiện có thể xảy ra. Một số tiểu thuyết của Thomas
Pynchon khắc họa những cảnh hồi tưởng hoặc tình tiết quan trọng, trong đó


20

địa điểm nằm trong nhiều giai đoạn thời gian khác nhau. Thêm vào đó, bất kỳ
nhân vật nghiện ma túy nào của Pynchon cũng bị rối loạn thời gian tương ứng
với tình trạng say thuốc của họ - vài nhân vật trải qua cảm giác chồng chéo
thời gian, những người khác thấy thời gian lặp lại hoặc bị phân mảnh. Trong
truyện ngắn The Babysitter (Cô giữ trẻ), trích từ tuyển tập Pricksongs and
Descants (1969), tác giả Robert Coover cho thấy nhiều sự kiện có thể xảy ra
cùng lúc, ở tiết đoạn này cô giữ trẻ bị giết và cùng lúc ở tiết đoạn khác lại
không có gì xảy ra..., mọi việc diễn tiến bình thường, câu chuyện chẳng đưa
ra lời giải thích nào rõ ràng về điều này.
Bản thể luận (Ontology): xuất phát từ tiếng Hy Lạp Οντολογία, dùng
để chỉ sự nghiên cứu triết học về bản chất sự sống, sự tồn tại, thực tại cũng
như các phạm trù cơ bản của sự sống và toàn bộ mối quan hệ của chúng …
Nó là một phần trong phân nhánh quan trọng của triết học gọi là “siêu hình
học” (metaphysics), thường nêu những câu hỏi liên quan tới sự tồn tại của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status