Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh thừa thiên huế - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHÚ LƯỢNG

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THỪA THIÊN HUÉ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHÚ LƯỢNG

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THỪA THIÊN HUÉ

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số : 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯƠI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giải phOng mặt bang

HĐND :

Hội đồng nhân dân

KT-XH :

Kinh tế - xã hội

KCN :
NĐ :

Khu công nghiệp
Nghị định

NSDĐ :

Người sử dụng đất

QPPL :
TĐC :

Quy phạm pháp luật
Tái định cư

THĐ :



Số liệu diện tích đất thu hồi tỉnh Thừa Thiên Huế từ
năm 2012-2017
Số liệu tổ chức, hộ gia đình bị thu hồi đất (hộ, tổ
chức) tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2012-2017

59
60


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế như vũ bảo hiện nay, Đảng
và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới, nỗ lực nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ
thống Pháp luật thống nhất, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện đại và Pháp
luật quốc tế. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng ngày càng lớn yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, hội
nhập vào kinh tế, quốc tế thì nhu cầu sử dụng đất đai càng nhiều. Việc đầu tư các
công trình công cộng, mở rộng đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng cơ
bản là kết quả tất yếu. Việc chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi
nông nghiệp là yêu cầu thực tế khách quan. Tuy nhiên, Pháp luật liên quan đến đất
đai là một vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong đó liên quan đến công tác thu
hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế xã hội
vẫn còn tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất.
Thực tiễn cho thấy Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và
thực tiễn áp dụng từ khi có Luật đất đai năm 2003 và đặc biệt từ khi Luật đất đai sửa
đổi năm 2013 ra đời đến nay đã có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, trong thời
gian qua đã đạt được những kết quả tích cực góp phần phát triển kinh tế - Xã hội, đã
giải quyết được nhiều điểm vướng mắc, hạn chế của luật đất đai 2003 nhưng khi
thực thi vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập gây khó khăn cho các địa phương trong quá

được sự quan tâm của nhiều ngươi, trong đo co giới nghiên cứu và cả các cơ quan
lập pháp, hành pháp. Đến nay vấn đề về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều phương diện
khác nhau. Có thể đề cập một số công trình, bài báo sau đây:
Luận văn thạc sĩ Luật học của của Huỳnh Tấn Tài "Pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn quận 11 Thành Phố Hồ Chí Minh" năm
2017;
Luận văn thạc sỹ Luật học của của Trần Lê Trường Sơn "Pháp Luật vềhỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" năm 2017;

6


Luận văn Thạc si Luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế, đề tài: Pháp luật về
bồi thương, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn Thị xa An Khê,
tỉnh Gia Lai của Nguyễn Thị Châu - Học viện Khoa học Xa hội - 2016.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công
tác bồi thương, hỗ trợ đối với các khu vực thu hồi đất để phát triển công nghiệp trên
địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương nham đề xuất một số giải pháp gop phần
hoàn thiện chính sách bồi thương, hỗ trợ cho ngươi cO đất bị thu hồi, ThS. Nguyễn
Văn Chiến - Viện Nghiên cứu quản lý đất đai năm 2009;
Ngân hàng thế giới (2010), báo cáo nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết
khiếu nại về bồi thương, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam.
Bức xúc thu hồi đất không chỉ do giá đền bù của tác giả Lan Hương- Báo điện
tử dân Trí số ra ngày 03/10/2008; Pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất của Singapore và Trung Quốc - những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn
thiện pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Nguyễn
Quang Tuyến và Nguyễn Ngọc Minh đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2010...
Những bất cập trong thu hồi đất và một số kiến nghị của tác giả Nguyễn
Phương Thảo đăng trên Trang Thông Tin Điện tử tổng hợp của Ban Nội Chính

định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế; từ đó đề xuất
một số giải pháp gOp phần hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất trên cơ sở hệ thống hOa lý thuyết của chính sách, pháp luật về hỗ trợ, tái
định cư.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Mặt dù công trình nghiên cứu chưa phải là hoàn toàn mới so với tình hình
nghiên cứu đa được công bố nhưng luận văn hướng đến mục tiêu giải quyết một số
nội dung sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất của nước ta hiện nay;

8


- Phân tích, đánh giá thực hiện Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất từ thực tiễn Tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về hỗ
trợ và tái định cư đối với ngươi dân bị thu hồi đất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước THĐ, cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách, pháp luật về hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất noi chung và thực tiễn áp dụng chính sách hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; không xét đến
trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
- Những quan điểm đường lối, chủ trường, chính sách của Đảng và Nhà nước
về đất đai.

liệu thu thập được. Phương pháp này thể hiện bởi hoạt động khảo sát, thu thập thông
tin, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xa hội; số liệu về hiện trạng sử dụng đất;
số liệu về thu hồi đất, hỗ trợ và tái định cư trong phạm vi nghiên cứu đa đề ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa ỉý luận
Luận văn góp phần tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của Pháp luật về
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Bằng kết quả khảo sát thực tế, kết hợp những kinh nghiệm rút ra được qua
thực tế công tác, những kiến thức được trang bị trong quá trình học chương trình
Cao học Luật Kinh tế, học viên tập trung phân tích, nghiên cứu tìm ra những nguyên
nhân của những hạn chế trong công tác hỗ trợ, tái định cư. Từ đó, đề ra các giải pháp
khắc phục cụ thể, kiến nghị những nội dung cần quan tâm khi xây dựng, bổ sung,
chỉnh sửa cơ chế chính sách khi Nhà nước thu hồi đất. Do đó, tôi hy vọng đề tài là
một tài liệu có giá trị tham khảo, ứng dụng trên thực tế đối với hoạt động hỗ trợ, tái

1
0


định cư khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất, nhất là những nơi có nhiều dự án đầu tư
đang được triển khai.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cần
thiết và đáng tin cậy đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động
ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đất đai liên quan tới lĩnh
vực hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, gop phần gmp nhân dân nhận thức
đầy đủ hơn về quy định của pháp luật qua hệ thống hoa ở phần lý luận.
7. Cơ cấu của luận văn
Với mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, ngoài mục lục,
danh mục tài liệu tham khảo, mở đầu, kết luận, luận văn được bố cục thành ba

hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước
trưng mua hoặc trưng dụng co bồi thương tài sản của cá nhân hoặc tô chức theo thơi
giá thị trương.” (Điều 23)[28].
Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tô chức đa
được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ. Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì toàn bộ tài sản hợp
pháp gắn liền với đất bị thu hồi do ngươi sử dụng đất tạo ra được xác định là tài sản
hợp pháp của cá nhân và phải được bồi thương theo giá thị trương. Đối với trương
hợp ngươi sử dụng đất bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở, Nhà nước thực hiện
chính sách tái định cư cho các đối tượng này.
Thứ hai, xét về bản chất, Nhà nước ta do nhân dân lao động thiết lập nên, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Nhà nước theo đuôi sứ mạng


cao cả và mang đầy tính nhân văn là phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh
của nhân dân. Đặt trong ý nghĩa đO, khi Nhà nước thu hồi đất ở của ngươi dân để sử
dụng bất kì vào mục đích gì (cho dù sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) mà họ phải di chuyển chỗ ở thì
Nhà nước phải co bổn phận và nghĩa vụ bồi thương và thực hiện việc tái định cư
nhăm làm cho ngươi sử dụng đất sớm ổn định cuộc sống.
Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của ngươi sử dụng đất
là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Hơn nữa
trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể trong xa hội bao gồm Nhà nước,
cổng dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xa hội... đều bình đẳng với nhau trước
pháp luật. Nước ta đang từng bước xây dựng một xa hội văn minh và hiện đại nơi
mà ở đo quyền lợi hợp pháp của mọi thành viên trong xa hội phải được luật pháp tôn
trọng và bảo vệ. Với cách hiểu như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất mà làm phương
hại đến lợi ích hợp pháp của ngươi sử dụng đất thì Nhà nước không những co trách
nhiệm bồi thương thiệt hại mà còn phải thực hiện việc tái định cư cho họ.
Thứ tư, nước ta đa và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành

Quốc “gặp nhau” ở điểm chung này và hai nước đa thực hiện thành công cuộc cải
cách kinh tế mà không gặp thất bại như Liên xô (cũ) và các nước XHCN Đông Âu
trước đây. Đánh giá về vấn đề này, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa cho răng: “Sáng tạo ra
khái niệm “quyền sử dụng đất” cả ngươi Việt Nam và ngươi Trung Quốc dương như
đa tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: đất đai thuộc sở
hữu toàn dân, song quyền sử dụng lại thuộc về cá nhân hay tô chức”. Cùng chung
quan điểm này, GS.TSKH. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trương nhận xét: “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính
thuật ngữ... Quyền lợi và nghĩa vụ của ngươi sử dụng đất ở nước ta không khác so
với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước”.
Như vậy, băng việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền của ngươi sử dụng đất
thì dương như ngươi sử dụng đất ở nước ta là ngươi “sở hữu” một loại quyền về tài
sản đo là “quyền sử dụng đất”. Bởi lẽ, ngươi sử dụng đất được pháp luật trao cho các


quyền năng liên quan đến quyền sử dụng đất: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển
đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo
lanh, gop vốn băng quyền sử dụng đất. Một khi pháp luật đa thừa nhận quyền sử
dụng đất là một loại quyền về tài sản của ngươi sử dụng đất, thì khi Nhà nước thu
hồi đất noi chung (co nghĩa là ngươi sử dụng đất bị mất quyền sử dụng đất do hành
vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra) và thu hồi đất ở noi riêng, Nhà nước phải bồi
thương, hỗ trợ, tái định cư cho ngươi sử dụng đất.
1.1.2. Quyền sử dụng đất và hoạt động quản lý đất đai ở Việt Nam trong chế độ
chủ sở hữu Nhà Nước về đất đai

Quyền sử dụng:
Nhìn từ phương diện lịch sử thì khái niệm “quyền sử dụng đất” đã được đề cập
trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, bắt đầu từ thập niên 70 của thế
kỷ XX với tên gọi ban đầu là “quyền quản lý và sử dụng ruộng đất”. Tuy nhiên, đến
thời điểm hiện nay, pháp luật thực định của Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa chính

theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước[22].
Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện
quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm 9 nội dung
quản lý nhà nước về đất đaiđã quy định ởĐiều 22, Luật Đất đai 2013 như sau:
1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chứcthực hiện văn bản đó;
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính;
3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và
bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng
giá đất;
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất;
6. Quản lý việc bồi thường,hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất;


7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
8. Thống kê, kiểm kê đất đai;
9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai;
Quản lý tài chính về đất đai và giá đất;
Quảnlý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định
củapháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai;
Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quảnlý và
sử dụng đất đai;
Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Chín nội dung trên nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất

hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Ba là, nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng
đất đai. Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người
sử dụng cụ thể thực hiện. Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với yêu cầu
và lợi ích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối
và sử dụng đất. Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi phạm và bất cập
trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập
đó.
Bốn là, nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Hoạt động
này được thực hiện thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: thu tiền sử
dụng đất (có thể dưới dạng tiền giao đất khi Nhà nước giao đất có thu tiềnsử dụng
đất, có thể dưới dạng tiền thuê đất, có thể dưới dạng tiền chuyển mục đích sử dụng
đất), thu các loại thuế liên quan đến việc sử dụng đất (như thuế sử dụng đất, thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cao có được từ việc chuyển quyền sử dụng
đất...) nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do
đầu tư của người sử dụng đất mang lại.


Các mặt hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất đều nhằm
mục đích bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về đất đai. Nắm chắc tình
hình đất đai là tạo cơ sở khoa học và thực tế cho phân phối đất đai và sử dụng đất đai
một cách hợp lý theo quy hoạch, kế hoạch. Kiểm tra, giám sát là củng cố trật tự
trong phân phối đất đai và sử dụng đất đai, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước.
Từ sự phân tích các hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai như trên, có
thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về đất đai như sau:
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất
đai;đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất;phân phối và phân phối lại
quỹ đất đai theo quy hoạch,kế hoạch;kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng
đất;điều tiết các nguồn lợi từ đất đai

nhưng thu hồi đất có một điểm chung là dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt QSDĐ
của NSDĐ hoặc quyền quản lý đất đai của các chủ thể được Nhà nước giao đất để
quản lý (không phải là NSDĐ).
Xét trong mối quan hệ giữa Nhà nước và NSDĐ, thu hồi đất là một quá trình
“ngược” so với hoạt động giao đất, cho thuê đất. Khi bị thu hồi đất, NSDĐ không
còn QSDĐ với đất bị thu hồi và đương nhiên không còn quyền “chiếm hữu”, tác
động vào diện tích đất đó nữa. Do đó, việc thu hồi đất trước hết có tác dụng bảo vệ
quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai vì nó sẽ làm chấm dứt hành vi xâm hại đất đai
của những chủ thể vi phạm pháp luật đất đai. Thu hồi đất là một “khâu” quan trọng
của quá trình điều phối đất đai[39]. Là một quốc gia đang phát triển, việc “luân
chuyển” đất đai từ chủ thể này sang chủ thể khác, từ mục đích này sang mục đích
khác rất thường xuyên xảy ra. Do đó, thu hồi đất là hoạt động hỗ trợ đắc lực nhất
cho Nhà nước để thực hiện quá trình quản lý đất đai.
Bản chất của thu hồi đất:
a) Thu hồi đất là sự chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai sơ cấp giữa Nhà nước
và người sử dụng đất
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân,
người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền năng sau khi đã được Nhà nước
công nhận thông qua hoạt động cấp Giấy chứng nhận, đồng thời các giao dịch về
quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực pháp lý sau khi có sự đồng ý của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thông qua việc chỉnh lý hồ sơ địa chính. Như vậy, việc được cơ


quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất,
cụ thể hóa dưới một văn bản hành chính đã làm phát sinh quyền của người sử dụng
đất đối với một thửa đất xác định. Đây là quan hệ sơ cấp, có tính chất nền tảng đối
với các giao dịch đất đai dân sự về sau.
Với lập luận như trên, hành vi thu hồi đất, về bản chất là sự chấm dứt quan hệ
pháp luật đất đai giữa một bên là Nhà nước - đại diện chủ sở hữu toàn dân và bên kia
là cá nhân, tổ chức sử dụng đất. Nó đồng thời chấm dứt hiệu lực của các quyết định

Những phân tích về bản chất thu hồi đất như trên cho ta thấy tính hệ trọng của
sự kiện này. Nó có thể ảnh hưởng đến nhiều đối tượng chứ không chỉ riêng người
nắm giữ quyền sử dụng đất. Đất đai và bất động sản là sản nghiệp quan trọng đối với
người dân vì có giá trị cao, đồng thời là cơ sở để tiến hành hàng loạt các hoạt động
kinh doanh, sản xuất khác. Do vậy, ngoại trừ các trường hợp vi phạm quy định về sử
dụng đất thì việc thu hồi đất chỉ nên thực hiện trong những trường hợp hạn hữu thật
cần thiết. Bởi ngay cả khi Nhà nước quan tâm, chú trọng đến công tác bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư, người dân bị thu hồi đất thì việc ổn định lại cuộc sống và khôi
phục sinh kế cho người dân như trước là không hề đơn giản.
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm vai trò và ý nghĩa của pháp luât về hỗ trợ, tái định cư

* Khái niệm pháp luật về hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hoi đât
Người Việt Nam chúng ta luôn tự hào với truyền thống “lá lành đùm lá rách”.
Vì thế, khi một người nào đó trong xã hội gặp những khó khăn thì các thành viên
khác trong cộng đồng luôn phát huy tinh thần đoàn kết và sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ
họ vượt qua những khó khăn đó thông qua việc hỗ trợ về vật chất (tiền của hoặc các
hiện vật) và tinh thần (động viên, thăm hỏi, an ủi).
Thuật ngữ “hỗ trợ” không chỉ được sử dụng trong đời sống xã hội mà còn
được sử dụng trong lĩnh vực pháp luật nói chung và Pháp luật đất đai nói riêng. Đối
với lĩnh vực pháp luật đất đai, quan niệm về “hỗ trợ” được đặt ra với ý nghĩa riêng,
do tính chất đặc thù của đất đai. Khi Nhà nước THĐ, thì người có đất bị thu hồi sẽ
không thể tránh khỏi những khó khăn về cuộc sống sinh hoạt, về lao động và sản
xuất. Nhằm bù đắp những tổn thất và giúp đỡ những người bị THĐ vượt qua các khó
khăn từ việc THĐ, nhanh chóng ổn định về đời sống và sản xuất; bên cạnh việc bồi


thường về đất, bồi thường về tài sản, Nhà nước đã quy định và tổ chức thực hiện
nhiều chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất.
Đề cập vấn đề này khoản 14, Điều 3, LĐĐ năm 2013 quy định rõ: “Hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định

Theo quy định của pháp luật thì khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng
đồng bộ, đảm bảo đủ điều kiện bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
* Đặc điêm pháp luật về ho trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hoi đât
Thứ nhât, tính quy phạm phô biến. Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất là noi đến những quy phạm về hỗ trợ, tái định cư. Quy phạm về hỗ
trợ tái định cư và tế bào của hệ thống pháp luật về hỗ trợ, tái định cư. Chính trong
những quy phạm pháp luật về hỗ trợ, tái định cư co chứa đựng những nguyên tắc,
khuôn mẫu và mô hình xử sự chung về linh vực hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất. Tính quy phạm phô biến là cái để phân biệt pháp luật về hỗ trợ, tái định cư
với các quy phạm xa hội khác. Tính quy phạm phô biến của pháp luật hỗ trợ, tái định
cư thể hiện ở việc không phải để áp dụng cho từng chủ thể cụ thể mà áp dụng cho
các chủ thể không xác định.
Một trong những quy phạm, đo là việc thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là xuất phát từ lý do khách quan
của xa hội chứ không phải do lỗi chủ quan của ngươi sử dụng đất gây ra. Nhà nước
là một tô chức chính trị quyền lực do xa hội thiết lập lên, đại diện cho lợi ích của xa
hội thực hiện việc thu hồi đất sử dụng vào mục đích chung của cộng đồng thì Nhà
nước cũng co trách nhiệm thay mặt xa hội thực hiện việc hỗ trợ, tái định cư cho
ngươi bị thu hồi đất.
Thứ hai, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức. Tính xác định chặt chẽ về
mặt hình thức là sự thể hiện nội dung pháp luật hỗ trợ, tái định cư trong những hình
thức nhất định. co thể noi, điểm rõ nét nhất của pháp luật hỗ trợ, tái định cư chính là
ở chỗ nội dung của no được xác định rõ ràng, chặt chẽ đảm bảo nguyên tắc “bất cứ
ai được đặt vào điều kiện hoàn cảnh ấy cũng không thể làm khác được”. Nội dung
của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư được quy định rõ ràng, chặt chẽ và khái quát
trong các khoản của điều luật, trong một văn bản pháp luật và toàn bộ hệ thống pháp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status