skkn một số biện pháp giúp trẻ 4 5 tuổi mạnh dạn tự tin trong giao tiếp bằng tiếng phổ thông - Pdf 49

MỤC LỤC

NỘI DUNG

TRANG

I- MỞ ĐẦU

1

1.Lý do chọn đề tài

1

2.Mục đích nghiên cứu

2

3.Đối tượng nghiên cứu

2

4. Phương pháp nghiên cứu

2

II- NỘI DUNG

3

1.Cơ sở lý luận của sáng kiến

Như chúng ta đã biết giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với đời sống
con người, giao tiếp giữa người với người giữa trẻ với trẻ là vô cùng quan trọng
Vì vậy kỹ năng giao tiếp là một kỹ năng được xem là rất cần thiết và quan
trọng là cái nôi là hành trang vững bước để trẻ mở rộng quan hệ từ gia đình ra
ngoài xã hội.
Như vậy để thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục thì việc đầu tiên
phải hình thành ở trẻ các kỹ năng giao tiếp ngay từ lứa tuổi Mầm Non.
Con người từ khi cất tiếng khóc chào đời đến khi lớn lên và trưởng thành
thì cái tuổi thơ ấu một tờ giấy trắng được sống trong vòng tay che trở bao bọc
của những bàn tay ông bà, bố, mẹ tràn đầy hạnh phúc nên sự giao tiếp với trẻ lúc
này là sự gần gũi thân thương nên trẻ rất mạnh dạn tự tin.
Nhưng khi đến tuổi đến với ngôi nhà thứ hai của mình trẻ cũng được một
bàn tay chăm sóc lo cho ăn lo cho từng giấc ngủ, trẻ được vui chơi được học tập
được làm quen tiếp xúc với bao điều mới lạ, lúc này môi trường giao tiếp của trẻ
không còn là cái nôi trong sự bao bọc yêu thương của những người thân yêu nữa
mà trẻ đã được mở rộng sự giao tiếp giưa cô giáo và các bạn cùng trang lứa, đặc
biệt trong ngôi nhà thứ hai này trẻ được người mẹ thứ hai chăm sóc giáo dục qua
các hoạt động hằng ngày của trẻ, từ đó hình thành cho trẻ kỹ năng giao tiếp với
mọi người xung quanh.
Giao tiếp cũng góp phần không nhỏ trong sự thành công của mỗi con
người, với trẻ mầm non sự giao tiếp cũng rất quan trọng trong sự phát triển của
trẻ là cái nôi là hành trang vững bước trên con đường sau này, có những đứa trẻ
thì nó hiếu động nó mạnh dạn đã được tiếp xúc với nhiều người xung quanh thì
nó mạnh dạn tự tin trong giao tiếp nhưng ngược lại có những đứa trẻ ít giao tiếp
với mọi người xung quanh thì nó lại rụt rè nhút nhát kém tự tin khi giao tiếp với
mọi người xung quanh.
Cẩm Châu là một xã vùng cao 95% là con em dân tộc thiểu số gồm dân tộc
Dao và dân tộc Mường nên việc sử dụng tiếng phổ thông của trẻ đang còn nhiều
hạn chế như một số hiểu được tiếng phổ thông nhưng nói chưa rõ ràng chưa đủ
câu, một số thì chưa hiểu hết tiếng phổ thông, nên khi đến lớp phải nói tiếng phổ

tiếp bằng tiếng việt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi là người dân tộc thiểu số
Nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ tiếng việt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
là người dân tộc thiểu số để giao tiếp tự tin đối với trẻ dân tộc thiểu số.
3. Đối tượng nghiên cứu
Tổng hợp một số biện pháp giúp trẻ 4-5 tuổi mạnh dạn tự tin trong giao
tiếp bằng Tiếng Việt.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu chuyên đề liên quan đến dạy tiếng Việt cho trẻ người
dân tộc thiểu số, nghiên cứu tài liệu cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn
học, môi trường xung quanh và các tài liệu liên quan đến công tác chăm sóc giáo
dục trẻ trong trường mầm non.
Phương pháp quan sát trực tiếp
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế của lớp.
Vận dụng các phương pháp qua nghiên cứu tài liệu sát với tình hình thực
tế của trẻ trong lớp.
Khảo sát thống kê chất lượng của trẻ trước - trong và sau một thời gian
thực hiện, để so sánh kết quả.

3


II – NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Tiếng Phổ thông còn gọi là tiếng Việt đây là ngôn ngữ chính tại Việt
Nam, là ngôn ngữ chính trong sinh hoạt giao tiếp hàng ngày của hơn 85 %
dân số cả nước
Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông đối với các dân tộc thiểu số đang sinh
sống trên đất nước Việt Nam. Đây là ngôn ngữ chính giúp học sinh tiếp nhận
lĩnh hội các kiến thức lĩnh vực văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật ….trong
nhà trường tiếng Việt là ngôn ngữ quan trọng ngoài việc giúp trẻ tiếp thu kiến

trẻ thường khác bình thường khi đứng trước đám đông có trẻ sợ không dám
đứng và khóc đòi về khi cô dỗ tiếng phổ thông thì trẻ không nín và khi cô nói
tiếng dân tộc trẻ mới nín.Vì vậy viêc hình thành kỹ năng mạnh dạn tự tin trong
4


giao tiếp bằng tiếng Việt là rất quan trọng để trẻ có một hành trang vững bước
để bước vào đời.
Qua sự giao tiếp giữa trẻ với trẻ giữa trẻ với người lớn mà trẻ dần dần hiểu
được những quy định chung của lớp của xã hội mà mọi thành viên trong lớp
phải thực hiện, mặt khác qua giao tiếp trẻ bày tỏ những nhu cầu mong muốn của
mình với các thành viên trong lớp từ đó giúp trẻ hoà nhập với mọi người.
Với tình hình đó bản thân tôi thấy việc giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong giao
tiếp bằng tiếng Việt là một vấn đề hết sức cấp bách và quan trọng đối với trường
chúng tôi.
Không chỉ là nhiệm vụ của một người giáo viên Mầm Non mà là lòng yêu
nghề mến trẻ cái tâm với nghề để đáp ứng được nhu cầu cần được giao tiếp một
cách tự tin và mạnh dạn để diễn đạt được nhu cầu, khả năng của trẻ. Tôi đã đưa
ra"Một số biện pháp giúp trẻ 4-5 tuổi mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng
tiếng Việt”.
2. Thực trạng vấn đề
* Đặc điểm tình hình của lớp
Năm học 2017-2018 tôi được phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo 4-5 tuổi
có tổng số 25 cháu trong đó người dân tộc Mường 14 cháu chiếm 56%, dân tộc
Dao 10 chiếm 40% cháu và chỉ có 1 cháu chiếm 4% là dân tộc kinh. Nên vấn đề
nói tiếng phổ thông của trẻ là hết sức khó khăn, mặt khác địa bàn xã Cẩm Châu
thuộc một xã vùng cao của Huyện Cẩm Thủy, là xã có nhiều đồng bào là dân tộc
thiểu số chiếm 95% nên trình độ dân trí còn thấp bố mẹ các cháu thường kết hôn
sớm nên kinh nghiệm nuôi dạy con chưa có vì điều kiện kinh tế đang còn khó
khăn nên phần lớn các gia đình để con ở nhà với ông với bà đi làm ăn xa và

tiếp với nhau bằng tiếng Việt, nên vốn từ tiếng Việt của trẻ rất ít, khi trẻ đến lớp
khả năng hiểu biết và nói tiếng Việt khi giao tiếp còn nhiều hạn chế. Trẻ chỉ giao
tiếp với các bạn cùng dân tộc mình trẻ hai dân tộc khác nhau thường không hay
giao tiếp với nhau vì khi giao tiếp phải sử dụng tiếng Việt trẻ còn mắc các lỗi
như nói tiếng Việt chưa rõ, hiểu nghĩa của từ chưa đầy đủ, do vậy quá trình tham
gia vào các hoạt động cùng các bạn trong lớp trẻ chưa mạnh dạn, tự tin.
Trong lớp còn một số trẻ rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin và không muốn tham
gia vào hoạt động.
Phần lớn là người dân tộc thiểu số nên trình độ của người dân đang con hạn
chế không quan tâm đến vấn đề sức khỏe cũng như tình hình học tập của con em
mình. Cụ thể như: Một số phụ huynh trời mưa bố mẹ quàng áo mưa con ngồi
sau không quàng áo mưa đến lớp ướt lũn người, trời lạnh không đi tất mặc quần
áo ấm cho con, điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nên vẫn còn một
số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn phó
mặc việc học tập của con em mình cho giáo viên chủ nhiệm và cho nhà trường,
phương tiện đi lại còn hạn chế chủ yếu đưa con đến lớp bằng phương tiện là xe
đạp và đi bộ, nên ít có điều kiện cho con được đi chơi xa, được đi thăm quan du
lịch để mở mang vốn hiểu biết của trẻ, nên ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình giao
tiếp của trẻ.
Vẫn còn một số phụ huynh chưa có nhận thức đúng về công tác chăm sóc
và nuôi dạy trẻ ở trường Mầm Non đang có suy nghĩ là trẻ con thì học cái gì hát
vài bài hết buổi về, chưa cho trẻ đến lớp đúng độ tuổi vẫn còn tình trạng để trẻ ở
nhà cho ông bà chăm sóc nên trẻ không có cơ hội được giao lưu với thế giới bên
ngoài khi đến lớp trẻ sợ sệt không dám nói truyện, nhút nhát kém tự tin.
Từ những thuận lợi và khó khăn thực tế trên tôi đã tiến hành khảo sát thực
trạng về giao tiếp của trẻ tại lớp tôi như sau:
2.3. Kết quả thực trạng khảo sát.
6




25

Tỉ lệ
%

Y

Tỉ lệ
%

2

8

5

20

8

32

10

40

3

12

lệ trẻ trẻ thích trò truyện giao tiếp với cô bằng tiếng Việt, trẻ mạnh dạn tự tin
giao tiếp với bạn, trẻ tự tin kể về việc trẻ thấy cho mọi người khi đến lớp còn
thấp.
Từ những kết quả khảo sát trên nên tôi đã đưa ra:" Một số biện pháp giúp
trẻ 4-5 tuổi mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp bằng tiếng Việt”. Nhằm mục đích
giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn khi tham giao tiếp với bạn bè và mọi người xung
quanh bằng tiếng Việt tạo cho trẻ có cảm giác thoải mái, tích cực giao tiếp và có
nhiều sáng tạo trong quá trình học và chơi của trẻ.
3. Các biện pháp giải quyết vấn đề
Biện pháp 1: Tạo ở trẻ sự muốn được trò truyện giao tiếp với cô mỗi
khi đến lớp.
Trẻ Mầm Non, cái tuổi ăn, tuổi chơi, luôn luôn được nuông chiều muốn gì
được nấy luôn nũng nịu trong vòng tay của bà của mẹ, không tuân thủ theo một
quy tắc thời gian nào, nhưng khi trên đôi vai nhỏ bé đeo chiếc ba lô không phải
là những trang giấy những quyển vở mà là những bộ quần áo những lọ sữa để
chuẩn bị đến với ngôi nhà thứ hai thì trẻ phải tiếp xúc với một môi trường mới
hết sức lạ lẫm với trẻ, trẻ phải ăn, học chơi đều thực hiện theo thời gian biểu
theo sinh hoạt hàng ngày, ở trường theo giờ giấc trẻ không được tự do bay nhảy
như ở nhà muốn gì được nấy nữa. Như vậy đối với trẻ dân tộc ở khu trung tâm
còn dễ chứ những trẻ ở xa khu trung tâm ít được giao lưu được trò truyện với
nhiều người xung quanh, trẻ khóc lóc vật vã không dám đến gần ai thì đây quả
là một vấn đề hết sức khó khăn với trẻ.
Như vậy nắm bắt được tình hình của địa phương cũng như tâm sinh lý của
trẻ trong giờ đón trẻ tôi ân cần bế trẻ với một cái nhìn đầy gần gũi nụ cười tươi
để tạo cho trẻ sự gần gũi, ôm trẻ vào lòng ban đầu trò truyện với trẻ bằng tiếng
dân tộc để tạo cho trẻ sự yên tâm. Như hỏi trẻ: "Ông ai tưa con ty hoặc?" hay
"Con có ào oai xí" ? "Ông ngay mua xí" ?. Tôi cho trẻ vào góc chơi trẻ dần quên
đi khi trẻ đã ổn định trở lại tôi sẽ trò truyện với trẻ bằng tiếng phổ thông như:
7


cấp: Như hình ảnh "Cái bát con" có từ, hình ảnh "Cái màn" có từ, hình ảnh "Cái
nón "có từ ….Và một số hình ảnh về đồ dùng kèm theo từ cô hỏi trẻ chỉ vào
hình ảnh cái bát "Cái gì đây ?. Trẻ dân tộc Mường trả lời "Cày toáy" Cô yêu cầu
trẻ nhắc lại bằng tiếng Việt là "Cái bát" 2-3 lần "Thế cái bát dùng làm gì?"trẻ trả
lời"Tứng cơm" cô sửa lại "Đựng cơm". Tương tự cô chỉ đến hình ảnh " Cái màn"
trẻ trả lời là "Cày pởi" Cô yêu trẻ nhắc lại bằng tiếng Việt là "Cái màn" 2-3 lần.
Cô hỏi trẻ "Cái màn dùng làm gì?"trẻ trả lời "Tảy khỏi ma cở cắn"cô sửa lại "Để
không bị muỗi cắn". Đến hình ảnh cái nón cô chỉ vào cái nón và hỏi trẻ, trẻ trả
lời "Cày mô" Cô phải sửa lại cho trẻ đọc bằng tiếng Việt luôn "Cái nón"…..và
một số hình ảnh khác có từ cô đều phải thực hiện như vậy mỗi từ mới cô cho trẻ
phát âm bằng tiếng Việt 2-3 lần.Tương tự các chủ điểm khác cô cũng kèm hình
ảnh để hỏi trẻ và cho trẻ phát âm lại bằng tiếng Việt.

Hình ảnh cô đang hướng dẫn trẻ đọc và phát âm bằng tiếng Việt
Khi đã được cô hướng dẫn và cung cấp các từ mới như ở trên thì cô cho hai
trẻ khác dân tộc nhau vào góc để chơi trò chơi đố nhau chỉ vào các hình ảnh để
nói bằng tiếngViệt.

9


Hình ảnh trẻ đang hướng dẫn nhau nói tiếng Việt

Mỗi chủ điểm cô đều tìm hiểu những đồ dùng sự vật trẻ thường phát âm
bằng tiếng dân tộc để tìm hình ảnh gắn với từ tiếng Việt đưa vào góc tiếng Việt
nhằm cung cấp từ mới và giúp trẻ phát âm bằng tiếng Việt.
Biện pháp 3: Hình thành kỹ năng giao tiếp mạnh dạn tự tin cho trẻ
bằng tiếng Việt thông qua hoạt động học.
Như chúng ta đã biết trong giai đoạn hiện nay bậc học mầm non đang thực
hiện chương trình giáo dục mầm non mới với mục tiêu giáo dục lấy trẻ làm

nhanh nhớ chóng quên .Vì vậy thông qua hoạt động vui chơi có thể giúp trẻ học
tập được nhiều các kỹ năng cần thiết cho sự phát triển của trẻ, đồng thời qua vui
chơi trẻ sẽ có nhiều cơ hội được trải nghiệm, nhiều cơ hội được thực hiện sự
giao tiếp giữa trẻ với trẻ giữa trong cùng nhóm chơi hoặc có thể giao tiếp với
nhiều nhóm chơi khác trong lớp học của trẻ.
Chính vì điều đó mà tôi đã tận dụng một cách triệt để việc rèn kỹ năng giao
tiếp cho trẻ bằng tiếng Việt thông qua tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ
ngay tại lớp học.
Ví dụ 1: Ở chủ điểm “Thế giới thực vật - tết và mùa xuân” khi tổ chức một
giờ hoạt động góc tôi cho trẻ chơi ở góc chơi phân vai chơi đóng vai trẻ đang
gói bánh trưng, khi được cô giới thiệu vào các góc chơi trẻ sẽ nhận vai chơi và
rất hứng thú nhập vai chơi trẻ sẽ được đóng vai người lớn đang gói bánh trưng
trẻ sẽ hòa mình vào buổi chơi một cách hào hứng, trẻ sẽ được đóng vai người
lớn đang gói bánh trưng qua đó trẻ sẽ biết được ngày tết cổ truyền của dân tộc.
Khi nhập vai chơi trẻ được trải nghiệm, được thực hànhtrẻ biết được bánh
trưng là loại bánh cổ truyền không thể thiếu trong ngày tết biết được các nguyên
vật liệu để làm ra chiếc bánh trưng qua đó trẻ được làm người lớn và được thể
12


hiện những hành vi giao tiếp giống như người lớn với khi trẻ chơi cô chú ý lắng
nghe khi trẻ chơi và khi trẻ trao đổi vai chơi .Ví dụ trẻ nói chuyện với nhau: "Là
ní là là tong, cào nì là cào rếp, có nhân là xịt cùn, mế ho ốt ho ăn". Cô sửa lại
"Lá rong, gạo nếp, thịt lợn, mẹ tôi gói tôi ăn". Hay trẻ nói : Râu ốt àn mầy cài
rối, ho àn han cài, ốt song cha pao song lọc". Cô sửa lại "Thế bác gói được mấy
cái rồi, tôi được hai cái, gói xong cho vào nồi luộc" hay trẻ nói "Dâu ốt ty, ho
chăng ốt nửa" Cô sửa lại "Bác gói đi, tôi không gói nữa" hay trẻ nói: Cha pao
nồi ni cho ho lóc" Cô sửa lại" Bỏ vào nồi này cho tôi luộc" ....Qua đó sẽ tạo sự
gần gũi giữa cô và trẻ sẽ giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn khi giao tiếp trước đám
đông bằng tiếng Việt.

Ví dụ 2: Không chỉ rèn cho trẻ kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt trong giờ
học giờ ăn mà tôi còn rèn kỹ năng này trong các hoạt động như tổ chức sing nhật
cho một trẻ trong lớp. Khi hỏi trẻ :Con lên kể ngày sinh nhật của con nào? .Trẻ
trả lời "Han han kháng sám nhăm mười răm". Cô sửa lại "Hai hai tháng tám
năm mười lăm", sinh nhật con thích gì? "Ti rống, ào oai, ti mống rống" Cô sửa
lại "Đi chơi, áo đẹp, đi bà ngoại", con tặng lớp mình bài hát gì? "Xôn ưa mú"
cô sửa lại "Cháu yêu bà". Qua hoạt động tổ chức này sẽ giúp trẻ mạnh dạn tự tin
hơn trong giao tiếp bằng tiếng Việt trước đám đông. Khi trẻ đứng dậy kể ngày
sinh nhật và hát tặng các bạn một bài, trẻ được các bạn vỗ tay chúc mừng sinh
nhât nên trẻ rất thích thú từ đó sẽ hình thành cho trẻ kỹ năng giao tiếp bằng tiếng
Việt trước đám đông .

Hình ảnh tổ chức sinh nhật cho trẻ
14


Ví dụ 3: Khi tổ chức cho trẻ tham gia chơi ngoài trời ở chủ điểm “Thế giới
động vật” tôi cho trẻ đứng một vòng xung quanh các con vật nuôi tôi tập trung
trẻ lại gần trò chuyện cùng trẻ về chủ đề trẻ đang học kích thích khả năng giao
tiếp bằng tiêng Việt cho trẻ bằng cách đặt nhiều câu hỏi để trẻ trả lời. “ Ở sân
trường mình có những con gì? trẻ trả lời " Kha mái, kha khồng". Cô sửa lại "Gà
mái, gà trống", Gà mái nuôi làm gì ?. Trẻ trả lời : "Tẻ tứng, náng xịt" cô sửa lại
"Đẻ trứng, làm thịt". Thế gà trống nuôi làm gì? "Cắn khớm dao" cô sửa lại và
cho trẻ phát âm lại là "Gáy sáng mai". Bằng quan sát vật thật với những câu hỏi
gợi mở của cô trẻ sẽ rất tích cực và hứng thú trả lời những câu hỏi mà cô đưa
ra.

Hình ảnh: Cô giúp trẻ trò chuyện khi quan sát chơi ngoài trời

Như vậy có thể thấy rằng việc rèn kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ

dần dần trẻ sẽ tự tin hơn khi giao tiếp với bạn bè và mọi người xung quah, và
luôn luôn cổ vù động viên khuyến khích để trẻ nói những việc mà trẻ muốn và
sử dụng trong nhiều tình huống để khuyến khích trẻ tham gia giao tiếp bằng
tiếng Việt.
Ví dụ: Trong tiết âm nhạc cho trẻ đứng dậy làm en xi dẫn chương trình trẻ
nói "Chào bay nớ, ho sên sư, ho mừng àn dản chương trình ní". Cô sửa lại "Xin
chào các bạn tôi tên là thư rất vui được dẫn chương trình này". Hay khi trẻ giới
thiệu bạn lên hát trẻ nói " Mời râu, hạt ti, bài chi, cầm lế mích " Cô sửa lại "Mời
bạn, hát đi, bài gì, cầm lấy mích".... Khi trẻ lên hát trẻ lại nói "ho rưởỉ, ho hạt
bài một con khiê, vổ xay ho nớ" Cô sửa lại "tôi sợ, tôi hát bài một con vịt, vỗ
tay tôi nhé". Với việc cho trẻ đóng làm en xi dẫn chương trình như vậy sẽ giúp
trẻ mạnh dạn tự tin hơn trước đám đông qua những lời giới thiệu về chương
trình về bản thân sẽ giúp trẻ mở rộng vốn từ giúp trẻ có khả năng mạnh dạn tự
tin trong giao tiếp bằng tiếng Việt trước đám đông được tốt hơn.
Biện pháp 7: Phối hợp với phụ huynh giúp trẻ phát triển kỹ năng giao
tiếp bằng tiếng Việt.
Đối với bậc học mầm non công tác giáo dục và rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ
là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu và tách rời với chương trình
giáo dục Mầm Non..
16


Chính vì vậy để công tác tuyên truyền nâng cao chất lượng nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục và rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ ở trường Mầm Non
đạt kết quả cao điều không thể thiếu đó là sự phối hợp giữa gia đình và nhà
trường.
Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ là một nhiệm vụ quan trọng của trường
mầm non, nhưng dù có thực hiện phương pháp chăm sóc, giáo dục nào tốt đi
nữa mà không có sự phối hợp giữa nhà trường và các bậc phụ huynh về cách
chăm sóc giáo dục trẻ thì sẽ không bao giờ đạt được kết quả cao trong học tập.

17


đọc thơ cho mẹ nghe với nào? Con ăn được mấy bát cơm? Con ngủ gần bạn
nào? Qua những câu hỏi đó không những giúp trẻ được giao tiếp mà còn giúp
phát triển khả năng tư duy nghi nhớ cho trẻ
Để từ đó việc rèn luyện các kỹ năng mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp với
mọi người xung quanh của trẻ đạt hiệu quả cao hơn.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
a. Kết quả khảo sát.
Qua quá trình sử dụng một số biện pháp giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong giao
tiếp bằng tiếng Việt tôi đã thu được những kết quả cụ thể như sau:
TT

Nội dung khảo sát

1

Trẻ thích trò truyện
giao tiếp với cô bàng
tiếng Việt khi đến lớp.

2

Trẻ mạnh dạn tự tin
giao tiếp với bạn

3



10

40

9

Chưa đạt

Tỉ lệ
TB
%

Tỉ lệ
%

Y

Tỉ lệ
%

4

16

0

0

44

mặt kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt mà còn phát triển cả kỹ năng ngôn ngữ,
tình cảm xã hội cũng như tư duy, trẻ còn mạnh dạn tự tin trong mọi hoạt động,
biết hoà đồng cùng các bạn trong lớp, ngoan, lễ phép với mọi người, đoàn kết

18


giúp đỡ bạn bè, tự tin thích thú khi tham gia hoạt động và giao tiếp với mọi
người xung quanh
*Đối với giáo viên:
Hiểu sâu về đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ, về các kỹ năng của trẻ và gần
gũi trẻ nhiều hơn, hiểu được tâm tư và những mong muốn của trẻ trong quá trình
chăm sóc và giáo dục trẻ hằng ngày
Gần gũi với phụ huynh nhiều hơn và phối hợp chặt chẽ với phụ huynh
trong quá trình giáo dục trẻ.
*Đối với phụ huynh:
Phụ huynh sẽ gần gũi thân thiện với giáo viên hơn, coi trọng và hiểu sâu
sắc hơn đối với bậc học Mầm Non hơn.
Phụ huynh đã cùng với giáo viên làm đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho
việc học tập của trẻ như: Đóng góp những lọ sữa, trai cô ca... để làm những con
vật cho trẻ chơi. Hoặc khi nhà trường có các hội thi thì nhiều phụ huynh đã đến
cùng chung tay để làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hội thi.
b. Bài học kinh nghiệm.
* Giáo dục và rèn luyện để hình thành khả năng giao tiếp mạnh dạn, tự tin
trong giao tiếp cho trẻ bằng tiếng Việt khi tham gia vào các hoạt động đã giúp
trẻ một không gian hoạt động thoải mái và phát huy ở trẻ tính tư duy, chủ động
tự tin hơn trong giao tiếp với bạn bè và mọi người xung quanh và qua các biện
pháp thực hiện và những kết quả nêu trên tôi đã rút ra cho mình những bài học
kinh nghiệm như sau:
Việc đưa ra các phương pháp giáo dục rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ

cũng như tư duy, và mạnh dạn tự tin trong mọi hoạt động, biết hoà đồng cùng
các bạn trong lớp, ngoan, lễ phép với mọi người, đoàn kết giúp đỡ bạn bè, tự tin
thích thú khi tham gia hoạt động và giao tiếp với mọi người xung quanh.
Qua sử dụng một số biện pháp rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ bằng tiếng Việt
nêu trên đã giúp cho khả năng giao tiếp của trẻ bằng tiếng Việt trở nên tốt hơn.
Mỗi khi đến lớp trẻ đã thích trò truyện giao tiếp với cô bằng tiếng Việt và trong
các hoạt động hằng ngày trẻ đã mạnh dạn tự tin giao tiếp với bạn bằng tiếng
Việt. Và đặc biệt là cô và trẻ đã gần gũi nhau hơn và phối hợp cùng hoạt động
một cách có hiệu quả.
2. Kiến nghị đề xuất
Để thực hiện tốt việc sử dụng một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp
trong các hoạt động trong ngày của trẻ đạt được kết quả cao hơn bản thân tôi xin
có một số kiến nghị đề xuất như sau:
Đề nghị ban giám hiệu nhà trường tham mưu với các cấp lãnh đạo xây
dựng thêm phòng học, đầu tư thêm kinh phí để mua thêm một số đồ dùng, trang
thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học cụ thể như: Ti vi, tranh ảnh, đồ dùng,
đồ chơi… phục vụ cho các hoạt động học và vui chơi của trẻ.
Thường xuyên tổ chức giao lưu giữa các lớp với nhau, tạo được môi trường
giao tiếp thường xuyên của trẻ giữa các lớp với nhau trong nhà trường, giúp trẻ
tự tin tăng cường sử dụng tiếng phổ thông ở trẻ hàng ngày
Trên đây là một số kinh nghiệm và kiến nghị đề xuất của bản thân. Vì chỉ
mới nghiên cứu và thực hiện trong một thời gian ngắn, nên bản thân không tránh
khỏi những vướng mắc thiếu sót. Kính mong ban giám hiệu, hội đồng khoa học
trong nhà trường, cũng như hội đồng khoa học nghành giáo dục và đào tạo cấp
trên góp thêm ý kiến để giúp đỡ tôi có những phương pháp tối ưu hơn khi tổ
chức các hoạt động giáo dục rèn luyện các kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhằm góp
phần vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong trường Mầm Non đạt hiệu quả cao .
Cẩm Châu, ngày 15 tháng 03 năm 2018
XÁC NHẬN


.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................................................
..

23


ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................................................................

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status