I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống, nó thức tỉnh và phát triển tâm hồn con
người. Văn học là một ngoại hình nghệ thuật, là một bộ phận hoạt động tinh thần
làm nên sự phong phú của nhân cách, đặc biệt làm nảy sinh tư tưởng, tình cảm,
trí tưởng tượng, niềm tin và hành động nhân đạo của con người trong môi
trường xã hội và tự nhiên. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, phản ánh cuộc sống
bằng hình tượng, là nguồn sống quan trọng của tri thức, kinh nghiệm sống của
nhân loại mà con người cần tiếp thu và phát triển. [1]
Văn học đóng vai trò quan trọng trong giáo dục và nhân cách của trẻ, đem
lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên về bản thân, về cuộc sống xung quanh, văn
học ảnh hưởng đến đời sống con người trên nhiều phương diện: Đạo đức, trí tuệ,
tình cảm, thẩm mĩ. ở lứa tuổi mầm non với tâm hồn thơ ngây, trong sáng chưa
có nhiều những trải nghiệm cá nhân, nhận thức về thế giới xung quanh còn hạn
chế... nên việc tiếp xúc với văn học là cơ sở để trẻ cảm nhận được vẻ đẹp về một
thế giới bao la đầy âm thanh, màu sắc và sự huyền bí. Những câu truyện cổ tích
không những nuôi dưỡng trẻ mà con phát triển ở trẻ trí tưởng tượng óc sáng tạo
nghệ thuật. Thông qua nội dung các câu chuyện kể giáo dục trẻ biết yêu quý
người hiền lành, biết ơn và kính yêu ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè, biết nhường
nhịn em nhỏ, biết phân biệt tốt – xấu, đúng – sai… [2]
Những câu truyện cổ tích còn như một người bạn đồng hành cùng trẻ thơ,
cung cấp cho trẻ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật.
Khi trẻ được tiếp xúc với văn học, vốn từ của trẻ trở nên phong phú và sống
động hơn. [2]
Văn học là một phương tiện hiệu quả mạnh mẽ không chỉ đối với việc
giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ mà còn ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ.
Từ khi lọt lòng mẹ đến lúc chập chững tập đi, tập nói, đến lúc trẻ biết
viết, đọc thì văn học là chiếc cầu nối, là phương tiện dẫn dắt trẻ. Nói những
tiếng nói, đi những bước đi đầu tiên, ngôn ngữ của trẻ được trau chuốt, ca
dao, chuyện kể là tấm gương mẫu mực về lời ăn tiếng nói cho trẻ học tập là
thuật, đặc sắc, không thể thiếu được trong đời sống con người. Đặc biệt nó rất
gần gũi với trẻ thơ, từ buổi đầu thơ ấu trẻ đã sống chan hòa trong lời ru “ầu ơ”
đầy yêu thương tận tình của mẹ, của bà… và đó cũng là cánh cửa mở ra chân
trời nhận thức cho trẻ.
Qua việc cho trẻ làm quen văn học nói chung và kể chuyện nói riêng chính
là hình thành ở trẻ những tình cảm đạo đức tốt đẹp, những cảm xúc thẫm mỹ, phát
triển trí tưởng tượng như: Lòng yêu thiên nhiên con vật, cây cối, lòng kính trọng
yêu thương gần gũi và giúp đỡ những người thân xung quanh trẻ như ông bà, bố
mẹ, cô giáo, anh chị em…Phát huy khả năng hiểu biết, trí tưởng tượng của trẻ về
thế giới xung quanh.
Thực tế trong trường mầm non Tân Phúc nói chung và lớp mẫu giáo 4 – 5
tuổi nói riêng đa số trẻ là người dân tộc, vốn tiếng việt của trẻ còn hạn chế, trẻ chưa
diễn đạt được hết những suy nghĩ và ý tưởng của mình nhưng ngược lại trẻ rất thích
đọc thơ, kể truyện, thích tự mình thể hiện tính cách của các nhân vật trong truyện.
Chính vì vây, việc tăng cường tiếng việt cho trẻ là điều vô cùng cần thiết để giúp trẻ
có thể đọc thở lưu loát, diễn cảm và kể lại những câu truyện một cách thành thạo và
điều quan trong hơn là giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của câu truyện và các nhân vật
trong truyện.
Vì vây, tôi đã quyết định chọn và nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp
nâng cao chất lượng làm quen với kể chuyện cho trẻ mẫu giáo (4 - 5 tuổi) tại
trường Mầm non Tân Phúc huyện Lang Chánh Thanh Hóa.
2. Mục đích nghiên cứu.
Giúp trẻ trong độ tuổi Mẫu Giáo Nhỡ 4 - 5 tuổi mở rộng sự hiểu biết cuộc
sống bằng hình tượng nghệ thuật như hình tượng con người, con vật, bức tranh
thiên nhiên được vẽ nên bằng ngôn ngữ văn học, từ đó nhằm góp phần nâng cao
chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, lao
động, làm nên sức mạnh của cộng đồng trong giáo dục Mầm non.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Trẻ mẫu giáo nhỡ 4 – 5 tuổi khu Tân thành trường mầm non Tân Phúc
4. Phương pháp nghiên cứu.
tượng, óc quan sát, khả năng tư duy độc lập trong suy nghĩ.
Tác phẩm văn học chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của việc cho trẻ tiếp
xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc và kể chuyện của cô giáo. Hoạt
động này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm nhận những giá trị nội dung, nghệ
thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú đối với
văn học, có ấn tượng về những hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác
phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ
thuật như đọc thơ. Kể chuyện, chơi trò chơi đóng kịch, kể chuyện theo tưởng
tượng của mình, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Trong mỗi tác phẩm văn học, thế giới mới của cuộc sống thực tại bao gồm
thiên nhiên, xã hội, con người được diển tả, biểu đạt, truyền đạt trong những
hình thức đa dạng độc đáo. Văn học nói về thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi
hiện tượng thiên nhiên xung quanh mà trẻ nhìn thấy được, cũng nói về những gì
gần gũi trong môi trường sống của trẻ như làng quê, cánh đồng, dòng sông,
phiên chợ, lớp học, khu phố... Trong văn học, trẻ được gặp ông bụt, bà tiên tốt
bụng với những phép biến hóa, những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng
hoàng tử thông minh... Đây cũng là đối tượng miêu tả của văn học làm nên sự
phong phú, hấp dẫn của đời sống tinh thần. [2]
Nhờ được nghe, tiếp xúc với tác phẩm văn học, có những hiểu biết sơ
đẳng về văn học, đó là khả năng mô tả cuộc sống xung quanh phong phú, hấp
3
dẫn bằng những dạng thức khác nhau. Bước đầu trẻ sẽ nhận biết được sự khác
nhau về nội dung và hình thức giữa các thể loại thơ, chuyện. Không những giúp
trẻ cảm nhận được cái đặc sắc của cách diễn đạt hình tượng, nhà sư phạm còn
cần giúp trẻ phân biệt được hình tượng nghệ thuật với hiện thực, hình thành một
số khái niệm văn học như: Thơ, chuyện, nhân vật, hình ảnh…giúp trẻ trao đổi
những điều đã được nghe và bộc lộ những suy nghĩ của mình về tác phẩm, nhằm
phát triển đời sống tinh thần của trẻ.
tuổi, đa số trẻ là người dân tộc nên chưa mạnh dạn tham gia các hoạt động,
khả năng phát triển ngôn ngũ. Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy quá
trình trẻ tham gia vào các hoạt động không đồng đều, đặc biệt là lĩnh vực
phát triển ngôn ngữ, khả năng phát âm còn kém, cách diễn đạt chưa mạch
lạc, số cháu nhanh nhẹn, hoạt bát, thông minh chưa nhiều và còn một số
cháu chậm chạp, nhút nhát, phần đa các cháu mới chỉ biết đọc theo quán
tính, mà các cháu chưa đọc thuộc thơ, chưa kể lại từng đoạn câu chuyện theo
4
yêu cầu của cô được. Đây là một khó khăn của lớp trong những ngày đầu
năm học mới.
Về cơ sở vật chất phục vụ cho cho môn văn học đã có nhưng chưa đồng
bộ đặc biệt là thiết bị sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học nên mỗi khi tổ
chức tiết học cho trẻ ở lớp chưa phong phú.
Một số ít phụ huynh chưa thực sự chủ động phối hợp với cô giáo để kèm
cặp con trong quá trình học tập, dẫn đến tiếp thu bài chưa đầy đủ.
2.3. Kết quả, thực trạng
Từ cơ sở lý luận và thực trạng trên, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành
khảo sát và phân loại chất lượng trên trẻ.
Dưới đây là bảng thống kê trước khi đưa ra sáng kiến kinh nghiệm
Bảng khảo sát đầu năm:
Mức độ % trên trẻ
Đạt
Chưa đạt
số trẻ được
STT
Nội dung
khảo sát
Số trẻ
giúp trẻ có một nền móng kiến thức vững chắc trước khi bước vào lớp Mẫu giáo
lớn 5 - 6 tuổi.
3. Các biện pháp thực hiện:
a) Biện pháp 1: Giúp trẻ làm quen kể chuyện qua việc “Học bằng chơi”.
Đây là biện pháp quan trọng nhằm phát triển khả năng nghe và hiểu cho
trẻ Mầm non. Để trẻ nghe, hiểu và sử dụng từ ngữ được tốt trẻ cần phải được
luyện nghe các âm thanh của ngôn ngữ, nghe các âm thanh khác nhau trong các
từ các câu, nghe ngữ điệu thể hiện các sắc thái tình cảm khác nhau, nghe các
biểu cảm giọng nói khác nhau.
Đối với trẻ mầm non nói chung thì mỗi một độ tuổi có một đặc điểm
nhận thức khác nhau. Trẻ 4- 5 tuổi đã hình thành nh ững c ảm xúc ngôn
ngữ qua giọng nói, ng ữ đi ệu, âm ti ết... do đó cô giáo phải chú ý để đưa trẻ
làm quen với tác phẩm văn học đạt hiệu quả tốt nhất. Sự tiếp nhận văn học
của trẻ có những đặc điểm sau: Trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học bằng đọc
gián tiếp mang tính tập thể và chứa đựng khả năng tưởng tượng mạnh mẽ.
Chính vì vậy muốn trẻ tiếp cận được tác phẩm văn học một cách có hiệu quả
giáo viên phải nắm vững được nội dung, phương pháp và đặc điểm trẻ lứa
tuổi lớp mình phụ trách.
1
5
Đặc điểm của trẻ mầm non rất hiếu động, tò mò ham học hỏi, tìm hiểu và
khám phá thế giới xung quanh. Đối với trẻ mầm non thì vui chơi là hoạt động
chủ đạo, trẻ được học mà chơi, chơi mà học. Tuy nhiên để trẻ lĩnh hội tốt được
bài thông qua hoạt động này thì đều cần có sự dẫn dắt, hướng dẫn của cô giáo,
cô giáo cần quan tâm đến việc lựa chọn nội dung sao cho kiến thức trẻ được tiếp
cận tích hợp trong các nội dung chơi nhưng không làm cho trò chơi trở nên khô
khan, gò bó đối với trẻ. Vận dụng đặc điểm này vào quá trình dạy trẻ làm quen
phù hợp với sự phát triển chung của trẻ như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tham gia
các hoạt động tập thể, kỹ năng nhận thức…
Để giúp trẻ có hứng thú khi tham gia hoạt động làm quen văn học, việc
đầu tiên cần làm là phải bổ xung đầy đủ đồ dùng, đồ chơi phong phú, đa dạng,
hấp dẫn để thu hút trẻ tham gia vào hoạt động một cách chủ động, tích cực và
sáng tạo. Ngoài việc trang trí các hình ảnh sinh động theo đúng chủ đề thực hiện
xung quanh lớp, thì ở góc làm quen với văn học tôi đã trang bị rất nhiều sách
truyện về văn học có sẵn trong chương trình, đồng thời tôi cho trẻ cùng làm
những mẫu truyện tranh mà trẻ đã được học.
(Trẻ cùng cô trang trí góc văn học)
Ví dụ: câu truyện “Cáo – Thỏ và Gà trống” ở chủ đề “thế giới động
vật” tôi đã chuẩn bị các nhân vật bằng rối tay, sau đó cho trẻ vẽ thêm mắt, mũi,
tai và trang trí cho nhân vật thêm sinh động. và hướng dẫn trẻ cách sử dụng rối
trong giờ hoạt động góc, trẻ được trực tiếp điều khiển các nhân vật theo diễn
biến nội dung truyện làm cho trẻ rất thích thú và nhập vai rất tốt vào các tác
phẩm văn học.
7
( Trẻ đang đóng vai các nhân vật trong truyện “Cáo, thỏ và gà trống”)
Môi trường kể chuyện tạo sự hứng thú đối với trẻ chỉ là bước đầu của sự
chuẩn bị. Khi tiếp cận với các câu chuyện, cô giáo phải cần làm cho trẻ hiểu
được nội dung, giá trị của mỗi câu chuyện đó. Đây không phải là việc làm của
mỗi hoạt động chung của lớp mà cô giáo phải có kế hoạch làm ở mọi lúc, mọi
nơi phải có sự chuẩn bị rất chu đáo, biết kết hợp giữa thực tế và những chi tiết
hư cấu của tác phẩm, phải có sự tác động qua lại giữa người truyền thụ và người
người tiếp thu.
1. Đồ dùng của cô:
- Tranh không gian 3D minh họa câu truyện
- Máy chiếu
- Bài hát: Con chim vành khuyên.
2. Đồ dùng của trẻ:
- Mũ chim sẻ, chim họa mi và chim sơn ca
- Quần áo, trang phục cho trẻ đóng kịch
III. Hướng dẫn:
Hoạt động của cô
Hoạt động của trẻ
1. Ổn định tổ chức, gây hứng thú
Cô chào tất cả các con, cô nghe tin các con học rất giỏi,
rất ngoan nên được các bác, các cô đến thăm lớp mình,
- Trẻ lắng nghe
xem lớp mình học có ngoan, có giỏi không đấy. Chúng
mình cùng quay lại chào các bác, các cô nào.
Hôm nay cô thấy bạn nào cũng có chiếc mũ chim rất
xinh xắn và đáng yêu, chúng mình chuẩn bị đi đâu vậy?
Vậy bây giờ cô trò mình cùng lên đường đi tham dự ngày - Trẻ thực hiện
hội các loài chim nào.
Cô cho trẻ lắng nghe tiếng chim hót, cô trò chuyện với trẻ. - Trẻ hát
- Chúng mình cùng lắng nghe xem tiếng gì nhỉ?
- Các con có biết đây là giọng hót của loài chim gì
- Trẻ trả lời
không?
- Trẻ trả lời
Đây là tiếng hót của chim sơn ca đấy các con ạ! Sơn ca là một
loài chim có giọng hót rất hay. Các con biết không, cô Thu - Trẻ trả lời
Thủy cũng rất yêu các loài chim và tiếng chim hót đấy, chính - Trẻ lắng nghe
vì vậy cô đã viết lên câu truyện “giọng hót chim sơn ca”. Bây
- Cô cho trẻ quan sát những con chim trên màn hình và
trả lời câu hỏi.
- Câu hỏi đàm thoại
1. Cô vừa kể câu truyện gì? Của tác giả nào?
2. Trong câu truyện có những ai?
3. Loài chim nào có giọng hót hay nhất?
4. Chim sẻ đã hỏi chim sơn ca những gì?
5. Chim sẻ và các bạn đã quyết định đi hỏi ai nữa?
6. Vì sao chim sơn ca lại có giọng hót hay như vậy?
- Cô khái quát, trích dẫn làm rõ nội dung sau mỗi lần trẻ
trả lời.
+ Giáo dục: Các con ơi, loài chim đã cho ta tiếng hót, chính
vì vậy chúng mình phải biết yêu quý, bảo vệ loài chim,
không săn bắn chim và để có được giọng hót hay như chim
sơn ca, các con nhớ phải biết giữ gìn vệ sinh, ăn uống đủ
chất và tập thể dục thể thao cho cơ thể khỏe mạnh.
- Cô kể lần 3: Mời 1 trẻ lên kể cùng cô kết hợp tranh
không gian 3D.
3. Kết thúc:
Các con ơi! Chương trình “Ngày hội các loài chim” đến
đây là hết rồi. Chúng mình có biết, trong ngày hội hôm
nay, loài chim nào có giọng hót hay nhất không? Đúng
rồi đấy các con ạ, sơn ca là loài chim có giọng hót hay
nhất đấy. Bây giờ các chú chim của chúng ta hãy cùng cất
cao tiếng hót của mình nào để kết thúc ngày hội nào.
- Cô mở nhạc bài “Con chim vành khuyên” và cùng trẻ
hát, đi ra ngoài.
- Trẻ trả lời
- Trẻ lắng nghe
chuyện nói riêng. Khi sử dụng đồ dùng trực quan trẻ được tri giác các sự vật hiện
tượng tự nhiên ở sung quanh trẻ qua tiếp xúc, sử dụng trực tiếp đồ dùng, đồ vật hàng
ngày tạo cho trẻ sự hứng thú, khích lệ tính tò mò, ham muốn được khám phá và thể
hiện một cách sinh động những gì trẻ được nhìn thấy, được trải nghiệm trong thế giới
tự nhiên, từ đó làm nảy sinh ở trẻ những tình cảm, rung động và cảm xúc tích cực.
Đây là hình thức tổ chức vô cùng phong phú và đa dạng, góp phần thu hút
trẻ vào hoạt động một cách say mê, sáng tạo. Từ việc sử dụng đồ dùng trực quan
sẽ kích thích các giác quan và tư duy của trẻ, hoạt động một cách tích cực, khơi
dậy niềm đam mê thích khám phá trong thế giới của những sự vật hiện tượng và
giúp trẻ tham gia hoạt động một cách tự tin, thoải mái. Chính vì vậy trong quá
trình thực hiện bản thân tôi đã cố gắng phát huy tối đa các hình thức, vận dụng
đồ dùng trực quan vào tiết dạy một cách khoa học và hợp lý nhằm giúp trẻ hứng
thú hoạt động trong việc làm quen với tác phẩm văn học, trẻ sẽ tiếp thu kiến
thức một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Tuỳ theo từng nội dung chủ đề, từng
đề tài cụ thể tôi đã lựa chọn sưu tầm đồ dùng trực quan vào việc giảng dạy sao
cho phù hợp với trẻ, khích lệ trẻ hoạt động sáng tạo để phát huy tối đa sự tư duy
tưởng tượng của trẻ, tôi đã lần lượt vận dụng những đồ dùng trực quan như: “Sử
dụng tranh minh hoạ”, “Sử dụng mô hình”. “Sử dụng vật thật” trong mỗi tiết học
11
khác nhau nhằm gây được hứng thú cho trẻ, giúp trẻ hứng thú khi tham gia hoạt
động kể chuyện một cách chủ động.
* VD1: Truyện “Cái mồm” - Chủ đề “Bản thân”
Tôi lựa chọn hình thức sử dụng tranh minh hoạ. Chuẩn bị bức tranh mô
hình chân dung có các bộ phận, mắt, mũi, tai, miệng được gắn vào và cử động
được. Tôi giới thiệu bằng cách cho mô hình chân dung cử động cái miệng và nói
“Xin chào các bạn, các bạn hãy đoán xem tôi là ai nhé ! Trên cơ thể của các bạn
tôi rất quan trọng, tôi ăn, tôi nói, tôi kể truyện, đọc thơ, tôi hát, tôi cười và cũng
có lúc tôi còn thở nữa đấy. Nào các bạn, hãy đoán tôi là ai?
động học có chủ định mà cần cho trẻ làm quen ở mọi lúc, mọi nơi. Cô có thể cho
trẻ xem tranh, kể chuyện theo tranh hay kể chuyện sáng tạo ở giờ đón, trả trẻ.
Điều đó không chỉ có tác dụng thu hút trẻ đến với lớp học mà còn giúp trẻ củng
cố được những bào thơ, câu chuyện đã học...
(Trẻ xem tranh trong giờ đón trẻ)
Đối với giờ hoạt động ngoài trời, cô có thể tổ chức cho trẻ đọc thơ hoặc
một đoạn truyện phù hợp với chủ đề của buổi dạo chơi để gây hứng thú, dẫn dắt
trẻ vào hoạt động.
(Trẻ xem tranh truyện trong giờ hoạt động ngoài trời)
13
Hoạt động góc là hoạt động một buổi chơi dài của trẻ. Đây là hoạt động trẻ
được thoải mái nhất sau giờ hoạt động học có chủ đích. Trẻ được thoải mái lựa chọn
vai chơi, đuợc chơi những trò chơi yêu thích. Ngoài ra trẻ xem tranh, hòa mình vào
các nhân vật trong truyện, hay làm cô giáo đọc thơ, ca dao cho các bạn nghe....
(Trẻ nghe cô kể chuyện trước khi vào hoạt động góc)
Ngoài ra trong các giờ hoạt động khác, cô có thể sử dụng bài thơ, câu truyện
hay ca dao, đồng dao để gây hứng thú cho trẻ trước khi vào bài hoặc khi kết thúc
hoạt động.
Ví dụ: Trong giờ tạo hình: Xé dán ông mặt trời. Cô gây hứng thù bằng cách
cho trẻ đọc bài thơ: ông mặt trời óng ánh. Điều đó vừa có tác dụng cho trẻ ôn luyện
lại bài thơ đã học, vừa giúp trẻ liên tưởng đến ông mặt trời và những tia nắng để có
thể xé dán được ông mặt trời dễ dàng hơn.
Biện Pháp 5: Cho trẻ làm quen với kể chuyện thông qua các trò chơi.
Ví dụ: Trò chơi: "Cáo và thỏ" trong giờ thể dục
Sau khi phân vai và hướng dẫn trẻ chơi, khi chơi trẻ làm các chú thỏ đi
kiếm ăn, vừa nhảy vừa giơ hai bàn tay lên đầu vẫy vẫy và đọc bài thơ:
Trên bãi cỏ
Đang rình đấy
Các chú thỏ
Thỏ nhớ nhé
Tìm rau ăn
Chạy cho nhanh
Rất vui vẻ
Kẻo cáo gian
Thỏ nhớ nhé
Tha đi mất [3]
Có cáo gian
Trong trò chơi này, không chỉ giúp trẻ vui vẻ, thoải mái mà còn giúp trẻ
biết thêm về câu truyện giữa chú cáo và chú thỏ. Cáo thì gian ác, xảo quyệt, thỏ
thì hiền lành, tốt bụng...
15
( Cô và trẻ chơi trò chơi cáo và thỏ)
Ví dụ: Trò chơi học tập: Dệt vải
Cô tổ chức cho trẻ đứng thành từng đôi một, quay mặt vào nhau, hai tay úp
vào nhau, đẩy từng tay theo nhịp bài thơ. Trò chơi này vừa giúp trẻ phát triển
ngôn ngữ và nhịp điệu vừa giúp trẻ ôn luyện củng cố bài thơ và qua đó biết thêm
về nghề dệt vải qua lời giới thiệu của cô.
Dệt vải
Dích dắc dích dắc
động cho trẻ làm quen với những câu chuyện ở ngay chính ngôi nhà của mình.
Ngoài việc tuyên truyền về những bài thơ, câu chuyện cô có thể phối hợp
với cha mẹ trẻ sưu tầm một số tranh truyện, sách báo cũ, nguyên vật liệu để như:
vải vụn để làm rối, chai lọ nhựa... để làm một số đồ dùng đồ chơi phục vụ cho
góc văn học thêm phóng phú, đa dạng hấp dẫn để thu hút trẻ vào hoạt động.
(Phụ huynh đóng góp sách truyện bổ sung góc văn học cho trẻ)
4. Hiệu quả
Qua một năm học áp dụng và thực hiện đề tài “Một số biện pháp nâng cao
chất lượng làm quen với kể chuyện cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuôi” đến nay, bản
thân nhận thấy một điều đáng mừng. Đó là, trẻ ở lớp đã có nhiều chuyển biến
tốt, hầu như các cháu đã lĩnh hội đầy đủ các kiến thức cơ bản về môn văn học
nói chung và nhưng câu chuyện nói riêng, trẻ nghe hiểu nội dung câu truyện tốt
hơn, trẻ đọc nhập vai lưu loát hơn, biết kể lại truyện diễn cảm hơn và sử dụng từ
ngữ cũng chính xác hơn.
17
Dưới đây là bảng thống kê sau khi đưa ra sáng kiến kinh nghiệm:
* Bảng khảo sát đầu năm:
Mức độ % trên trẻ
Đạt
Chưa đạt
số trẻ được
STT
Nội dung
khảo sát
Số trẻ
%
15
20
15
75
5
25
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Làm quen với tác phẩm văn học nói chung và kể chuyện là một hoạt động
quen thuộc ở trường mầm non. Thuật ngữ này đã chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu
cầu của việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc và kể
chuyện của cô giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm nhận
những giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú trong tác phẩm văn học, khơi gợi ở
trẻ sự rung động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng về những hình tượng
nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các
hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ, kể chuyện, chơi trò
chơi đóng kịch, cao hơn nữa là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ, câu chuyện
theo trí tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách trẻ.
Để đạt được những điều đó trước tiên giáo viên phải có lòng yêu nghề,
mến trẻ, có lòng nhiệt tình và sự đam mê biết hòa mình vào với trẻ như những
người bạn thực sự.
Giáo viên phải là người có kiến thức chuyên môn vững vàng, linh hoạt, có sáng
của người khác.
Người viết sáng kiến
Lê Thị Giang
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
Tác giả Phó GS-TS Hà Nguyễn Kim Giang. NXB Giáo dục Việt nam.
[2] Giáo trình phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
Tác giả: Ths: Phan Xuân Phồn. NXB Trường Đại học Vinh.
[3] Tuyển chọn trò chơi bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề
NXB Giáo dục Việt nam.
20