THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi làm quen với toán về số lượng”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực nhận thức
3. Tác giả:
- Họ và tên: Vũ Thị Biên
- Ngày, tháng, năm sinh: 11/4/1964
- Trình độ chuyên môn: Đại học mầm non
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non Cộng Hòa 1.
- Điện thoại: 0974 820 510
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Vũ Thị Biên
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu : Lớp 5 tuổi trường mầm non Cộng Hòa
1.
6. Các điều kiện cần áp dụng sáng kiến: phòng học rộng rãi, thoáng mát, cơ
sở vật chất đầy đủ, đủ đồ dùng cá nhân, học sinh, giáo viên.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
-1-
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến: Trong các môn học giáo dục mầm non tôi
thấy việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng mầm non nói chung và
trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng là rất quan trọng, trong việc hình thành tính tích cực, độc
lập, sáng tạo giúp trẻ có kiến thức, kỹ năng, biểu diễn những con số, phép toán
đơn giản và đặc biệt hơn học tốt môn toán trẻ sẽ tự tin khi bước vào lớp 1.
giúp cho mỗi giáo viên xác định đúng nội dung cần truyền đạt cho trẻ, khi giáo
viên nắm vững được nội dung sẽ chuẩn bị những đồ dùng, đồ chơi để tổ chức
hoạt động “biện pháp 2”. Tôi luôn tạo môi trường cho trẻ bằng những hình ảnh
sinh động, những con số được cắt dán trên những mảng tường dành riêng cho
biểu tượng về toán ( biện pháp 3). Giờ hoạt động rất cần thay đổi những hình
thức tổ chức như thiết kế những tiết dạy thành những trò chơi, hay hội thi để
thu hút trẻ (Biện pháp 4). Ngoài ra tôi còn tổ chức trẻ ôn luyện “LQVT” ở mọi
lúc mọi nơi, nồng ghép trong những môn học khác (biện pháp 5). Luôn tuyên
truyền kết hợp với phụ huynh cho trẻ “LQVT” tại gia đình (biện pháp 6).
*/ Lợi ích của sáng kiến: Áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao
chất lượng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi làm quen với toán về số lượng” sẽ
mang lại những lợi ích sau:
- Giúp tôi và giáo viên khác hiểu rõ hơn về nội dung, tầm quan trọng của
môn “LQVT” về số lượng từ đó có sự đầu tư xây dựng các hoạt động cho trẻ
làm quen tốt hơn.
- Giúp trẻ hoạt động linh hoạt khi trẻ “LQVT” về số lượng và các hoạt
động khác trong trường mầm non.
- Giúp trẻ ghi nhớ được những con số, thực hiện được phép toán đơn
giản như thêm bớt trong phạm vi 10 và chia 10 đối tượng thành hai phần bằng
những cách khác nhau.
- Giúp cho phụ huynh hiểu về tầm quan trọng về môn học sẽ cùng giáo
viên giảng dạy cho con em mình tại gia đình.
4. Khẳng định giá trị, kết quả của sáng kiến: Áp dụng sáng kiến “Một số
biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi làm quen với toán
về số lượng” thường xuyên sẽ giúp trẻ tiếp thu bài tốt hơn, trẻ ghi nhớ lâu hơn.
Đặc biệt các phụ huynh hài lòng với kết quả của con em mình. Từ đó là động
lực thu hút trẻ đến trường nhiều hơn.
5. Đề xuất kiến nghị.
Đối với cấp trường, phòng giáo dục tạo mọi điều kiện hỗ trợ cơ sở vật
chất, mua sắm đồ dùng, đồ chơi, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, tổ chức
tác mẫu của cô, thậm chí còn truyền đạt kiến thức chưa chính xác, đồ dùng, đồ
chơi để trẻ hoạt động còn ít, chưa đầy đủ theo chủ đề, chưa lồng ghép toán vào
các hoạt động khác, công tác tuyên truyền phụ huynh còn hạn chế. Vì vậy trong
quá trình giảng dạy trẻ sinh ra những mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu
-4-
quả của việc hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ và khả năng truyền thụ
của giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động này.
Khi tôi cho trẻ “lQVT” về số lượng tôi thấy đa số trẻ không hứng thú khi
học, trẻ mau nhớ lại mau quên kết quả sau mỗi tiết học trẻ nắm được bài còn
thấp và vẫn còn trẻ chưa đạt yêu cầu. Đặc biệt hơn còn rất nhiều phụ huynh
chưa quan tâm tới con em mình còn xem nhẹ bậc học mầm non nhất là môn
toán đây là những điều tôi trăn trở, suy nghĩ mình phải làm gì và làm như thế
nào để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ. Chính vì vậy tôi lựa
chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi làm quen với toán về số lượng” tôi hy vọng đề tài này sẽ góp phần nhỏ bé
vào việc nâng cao chất lượng trẻ 5 – 6 tuổi làm quen với toán trong trường
mầm non. Bởi vì kết quả trên trẻ là niềm tin giữa phụ huynh với cô giáo, nhà
trường.
1. 1. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
1. 1. 1. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu và áp dụng với mẫu giáo nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi
nói riêng trong trường mầm non A.
1. 1. 2. Đối tượng nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi làm quen với toán về số lượng”.
1. 2. Mục đích nghiên cứu
1. 2.1. Đối với trẻ:
Giúp trẻ yêu thích môn “Làm quen với toán” về số lượng. Trẻ tiếp thu
bài tốt có thể: đếm đến 10 và đếm theo khả năng, thêm bớt trong phạm vi 10,
Tôi thường xuyên dùng lời nói nhẹ nhàng, tình cảm để thu hút trẻ vào
hoạt động “LQVT” về số lượng và luôn luôn động viên, khích lệ trẻ.
1.3. 5.Phương pháp trực quan, minh họa
Khi giảng dạy tôi dùng những vật cụ thể như tranh ảnh, rối, mô hình,
ngôn ngữ, cử chỉ,… giúp trẻ hiểu rõ những điều mình truyền thụ.
1.3.6. Phương pháp so sánh đối chứng, tổng kết sáng kiến
Tôi so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng các biện pháp từ đó rút ra
các biện pháp cho bản thân để làm tốt hơn.
-6-
2. Cơ sở lý luận
Trẻ nhỏ sinh ra và lớn lên giữa thế giới của những sự vật và hiện tượng
đa dạng. Ngay từ nhỏ trẻ đã được tiếp xúc và làm quen với những nhóm vật có
màu săc, kích thước và số lượng phong phú, với các âm thanh, chuyển động có
ở xung quanh trẻ. Trẻ lĩnh hội số lượng của chúng bằng các giác quan khác
nhau như thị giác, thính giác, xúc giác,….
Trẻ lứa tuổi nhà trẻ đã bắt đầu có những nhận biết về số lượng, đó là nấc
thang đầu tiên và cần thiết giúp trẻ nhận biết thực trạng xung quanh. Những
biểu tượng đầu tiên về các nhóm vật giống nhau như: nhiều con ốc, những cái
lá, nhiều con búp bê,…. Được tích lỹ và phản ánh trong ngôn ngữ thụ động của
trẻ nhỏ.
Đối với trẻ 5 – 6 tuổi giáo viên cần hướng tới việc củng cố và làm sâu
sắc hơn những kiến thức, kỹ năng mà trẻ đã được học từ các lớp bé, hơn nữa
nội dung dạy trẻ phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triến trí tuệ và tư duy toán
học cho trẻ. Ngay từ lớp mẫu giáo bé, nhỡ trẻ đã được làm quen với các tập
hợp và học cách phân tích các tập con trong tập lớn theo các dấu hiệu như màu
sắc từ 1 đến 5. Nhiệm vụ trẻ 5 – 6 tuổi tiếp tục học phép đếm xác định số lượng
trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng của trẻ. Trẻ được làm quen với cách
đến việc trẻ “LQVT” về số lượng.
3.1.4. Đối với bản thân
Là một giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, nắm vững những kiến thức
phải truyền thụ cho trẻ song hình thức tổ chức còn chưa chú trọng nên các tiết
cho trẻ “LQVT” về số lượng còn gò bó chưa sinh động nên kết quả thu hút trẻ
vào hoạt động chưa cao.
Với nhưng yếu tố trên đã dẫn đến kết quả trên trẻ như sau:
Thời
Số trẻ
điểm
T9/2014
Đánh
giá
35
Tốt
Khá
ĐYC
KĐYC
Đếm
Số
%
Thêm, bớt
17
5
14
23
49
14
Từ kết quả điều tra trên đã làm tôi suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất
lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi “LQVT” về số lượng đạt yêu cầu trở lên. Bởi kết quả
-8-
trên trẻ là nhân tố quyết định đến niềm tin giữa phụ huynh với cô giáo, nhà
trường mặt khác đặc biệt hơn là giúp trẻ vững vàng bước vào trường tiểu học
sau này.
4.Các biện pháp thực hiện
4.1. Biện pháp 1: Xác định nội dung truyền đạt cho trẻ
Xác định nội dung cần truyền đạt cho trẻ “LQVT” về số lượng là rất
quan trọng giúp cho mỗi giáo viên có được kiến thức để cung cấp phù hợp vừa
sức đối với trẻ. Mặt khác nó còn đảm bảo được tính hệ thống đối với trẻ 5 – 6
tuổi “LQVT” về số lượng, con số và phép đếm cần ghi nhớ những nội dung
sau:
+ Cho trẻ luyện tập so sánh số lượng của hai nhóm đối tượng trong phạm
vi 10 bằng cách xếp tương ứng 1 – 1.
+ Dạy trẻ sắp xếp 3 nhóm đối tượng theo sự tăng hay giảm dần về số
lượng của các nhóm và sử dụng các từ: nhiều nhất, ít hơn,ít nhất.
+ Dạy trẻ tạo nhóm các đối tượng theo đặc điểm hay dấu hiệu nào đó
như màu sắc, hình dạng, kích thước,….
+ Tiếp tục dạy trẻ phép đếm xác định số lượng trong phạm vi 10 và đếm
Với việc chuẩn bị đồ dùng dạy cho trẻ “LQVT” về số lượng như trên tôi
đã tự tin khi cho trẻ thực hiện trong giờ “LQVT”. Đặc biệt hơn khi có đồ dùng
trẻ hứng thú tham gia hoạt động rất tốt.
4.3. Biện pháp 3: Tạo môi trường cho trẻ làm quen với toán về số lượng
Với môn toán điều cần ở trẻ là sự tiếp thu nhanh và có sự tư duy sáng tạo
nhưng thường thì trẻ khi chơi rất hiếu động nên do mải chơi trẻ sẽ mau quên và
khi chơi thì rất hay chán. Việc tạo ra được môi trường hấp dẫn cho trẻ là điều
rất cần thiết vì nó có thể giúp trẻ hào hứng với các hình ảnh, đồ dùng, đồ chơi,
… Do vậy cho dù lớp tôi còn trật hẹp nhưng tôi đã giành riêng một khoảng
tường để trang trí cắt dán, in hình ảnh con số, hình học, cây xanh, con vật có số
lượng khác nhau để hàng ngày trẻ dễ dàng quan sát, đếm, đọc con số. Giúp trẻ
ghi nhớ các biểu tượng về toán và thường xuyên tôi cho trẻ cắt dán những hình
ảnh có số lượng trẻ mới học gắn lên để trẻ khắc sâu về số lượng và con số. Kết
hợp với góc dành riêng cho “LQVT” về số lượng thì tôi xếp đặt đồ dùng, đồ
chơi ở các góc khác luôn luôn gọn gàng và tôi có ý xếp đặt những đồ dùng, đồ
- 10 -
chơi có số lượng mà trẻ đang được học mỗi nhóm đồ chơi tôi thường đặt chữ số
tương ứng vào nhóm đồ dùng đồ chơi đó và thường xuyên thay đổi đồ dùng, đồ
chơi theo chủ đề để nhằm thu hút trẻ vào hoạt động chơi với đồ dùng đồ chơi
giúp trẻ ngắm nhìn, quan sát, đếm số đồ dùng, đồ chơi, so sánh, ….. các đồ
dùng, đồ chơi đó.
Với môi trường như trên tôi đã thu được kết quả rất tốt. Trẻ rất thích chơi
với đồ chơi và đặc biệt trẻ nhận được chữ số, nhóm đồ vật, biết so sánh thêm
bớt, chia nhóm đồ vật trong khi chơi.
4.4. Biện pháp 4. Tổ chức hoạt động trong hoạt động học
Với hoạt động học “LQVT” về số lượng đối với trẻ 5 – 6 tuổi theo quy
định của giáo dục mầm non một tiết hoạt động được thực hiện theo 3 phần:
+ Phần 1: Ôn kiến thức cũ
Hoạt động tạo hình: Phần nhận xét sản phẩm của trẻ tôi thường xuyên
cho trẻ đếm những sản phẩm đẹp. Từ đó trẻ củng cố được phép đếm.
Hoạt động giáo dục âm nhạc: Tôi thường nồng ghép bằng cách: cho trẻ
đếm số bạn hát và so sánh số bạn nam, bạn nữ đang hát số bạn nào nhiều hơn, ít
hơn? Muốn số bạn nam bằng với số bạn nữ thêm mấy bạn nam nữa ? Với tình
huống trên đã giúp trẻ so sánh số lượng và thêm bớt rất tốt.
Hoạt động làm quen chữ cái: Khi cho trẻ làm quen với các từ tôi
thường cho trẻ đếm số chữ cái ghép lại thành từ và so sánh hai tiếng trong từ
đó. Tiếng nào có số chữ cái nhiều hơn, hay ít hơn là mấy ? Qua đó trẻ được ôn
luyện phép đếm và so sánh.
Hoạt động khám phá khoa học và khám phá xã hội: Tôi thường cho
trẻ chơi trò chơi “Ô cửa bí mật”, những ô cửa tôi thường biểu thị bằng những
con số. Cho trẻ đọc số và mở ô cửa đó.
Khi kết thúc những tiết học tôi thường tổ chức những trò chơi “Bật qua
vòng” cho trẻ đếm số vòng, đếm số trẻ chơi, đếm phần quà,…..
Giờ đón trẻ trả trẻ: Tôi thường ôn luyện cho những trẻ còn tiếp thu
chậm “LQVT” về số lượng. Bằng cách cho trẻ chơi đồ chơi và hướng cho trẻ
đếm những đồ chơi giống nhau và chọn những chữ số đặt vào nhóm đồ chơi đó
và cũng có thể thêm, bớt, chia các nhóm đồ chơi đó theo gợi mở của tôi. Để
giúp trẻ ôn luyện những kiến thức trẻ còn tiếp thu chậm.
- 12 -
Hoạt động ngoài trời: Quan sát cây bàng có rất nhiều quả để dạy trẻ
đếm được theo khả năng trẻ. Tôi cho trẻ đếm số quả bàng trên cây mà trẻ nhìn
thấy. Giúp trẻ củng cố phép đếm theo đúng thứ tự.
Để củng cố về so sánh nhiều hơn ít hơn và ít hơn là mấy ? Cho trẻ đi dạo
trong sân trường quan sát cây xanh tôi hướng trẻ vào “LQVT” về số lượng như
“Các con quan sát xem sân trường có mấy cây phượng? cây bàng có mấy cây?
hướng cho phụ huynh kết hợp cùng tôi cho trẻ “LQVT” tại gia đình.
Ví dụ: Trẻ chưa nhận được chữ số. Tôi trao đổi với phụ huynh giúp trẻ
mua sắm tranh ảnh có chữ số, số lượng treo góc học tập của trẻ và thời gian gần
gũi trẻ cho trẻ đếm và nhận chữ số tương ứng, cho trẻ nhắc lại cấu tạo của chữ
số tại gia đình.
Ví dụ: Trẻ chưa biết thêm bớt trong phạm vi 10 tôi trao đổi trực tiếp với
phụ huynh trẻ đó về cách dạy trẻ tại gia đình. Bằng cách khi chơi với trẻ “Cho
trẻ chơi đồ chơi phụ huynh sẽ cho trẻ thêm bớt hướng dẫn cho trẻ ở mọi lúc,
mọi nơi”. Và thường xuyên chơi với trẻ về con số, nhóm đồ vật, thêm bớt, chia
nhóm đồ vật để trẻ ghi nhớ tốt hơn.
Với cách tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh cho trẻ “LQVT” về số
lượng như trên tôi thấy trẻ có kết quả rất tốt.
5. Kết quả đạt được
Trên đây là một số biện pháp tôi đã thực hiện tại lớp của tôi đã thu được
kết quả sau:
5.1.Cơ sở vật chất
- Đồ dùng, đồ chơi đầy đủ, có thẩm mỹ cao.
- Tôi đã làm đồ dùng đồ chơi, trang trí góc phù hợp.
5.2. Đối với bản thân
Nắm vững được nội dung cần truyền đạt cho trẻ, các tiết cho trẻ “LQVT”
về số lượng nhẹ nhàng, linh hoạt, sáng tạo hơn.
5. 3 Đối với trẻ.
Trẻ hứng thú, say mê, vui vẻ khi “LQVT” về số lượng như tất cả các
môn học khác, tôi thấy trẻ linh hoạt hơn, tự tin hơn ở mọi lúc, mọi nơi và đặc
biệt hơn trẻ nắm được kiến thức, kỹ năng mà mục đích đưa ra cho trẻ.
- 14 -
*Kết quả đạt được như sau:
trẻ
13
15
7
57
29
14
37
43
20
Tách, gộp
Số trẻ
%
16
14
5
46
40
14
5. 4. Đối với phụ huynh:
Bằng những hình thức tuyên truyền với các bậc phụ huynh hàng ngày,
tôi thấy phụ huynh lớp tôi đã hiểu được tầm quan trọng của các môn học nói
chung và môn “LQVT” về số lượng nói riêng. Đã thường xuyên ôn luyện cho
trẻ “LQVT” về số lượng tại gia đình và đã góp phần nâng cao chất lượng giáo
%
Thêm, bớt
Số
%
trẻ
8
13
10
4
20
10
5
trẻ
5
10
15
5
13
15
7
23
37
29
11
57
29
nội dung trên tôi thấy chất lượng “LQVT” về số lượng tăng lên rõ rệt so với kết
quả đầu năm học.
Khả năng đếm tỷ lệ tốt tăng: 34%, khá giảm: 8%, tỷ lệ trẻ đạt yêu cầu
giảm 15 % và đặc biệt không có trẻ chưa đạt.
Khả năng thêm, bớt tỷ lệ tốt tăng: 23%, khá tăng:14% , tỷ lệ trẻ đạt yêu
cầu giảm 23 % và đặc biệt không có trẻ không đạt.
- 15 -
Khả năng tách, gộp số lượng tỷ lệ tốt tăng: 32%, khá tăng: 17% , tỷ lệ trẻ
đạt yêu cầu giảm 35 % và không có trẻ chưa đạt yêu cầu. Điều đó khẳng định
những biện pháp của tôi áp dụng hoàn toàn hợp lí và đạt kết quả cao.
Có được kết quả trên là sự cố gắng, lỗ lực không chỉ của bản thân tôi và
các bé đặc biệt hơn nữa là sự góp sức của các bậc phụ huynh.
* Sau khi nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên tôi rút ra bài học
kinh nghiệm sau:
- Giáo viên phải có trình độ sư phạm, nắm chắc kiến thức sơ đẳng về
toán học, phải tuân thủ đúng phương pháp giảng dạy từng loại tiết, có thủ thuật
hướng dẫn gợi mở một cách sáng tạo luôn học hỏi kinh nghiệm của bạn bè,
đồng nghiệp và thường xuyên nghiên cứu tài liệu, tập san, thông tin đại chúng
để nắm bắt nhanh những sáng kiến hay vào giảng dạy và đặc biệt luôn lắng
nghe ý kiến đóng góp của mọi người.
- Giáo viên phải nắm bắt nhanh tình hình của lớp, hiểu rõ đặc điểm tâm
sinh lý của từng trẻ, từ đó có hình thức và biện pháp dạy phù hợp. Thường
xuyên trao đổi, kết hợp với phụ huynh cùng đưa ra biện pháp dạy trẻ có khoa
học.
- Tạo điều kiện cho trẻ “LQVT” về số lượng ở mọi lúc, mọi nơi và
thường xuyên nồng ghép các môn học, các hoạt động.
- Giáo viên kết hợp với phụ huynh mua sắm làm đồ dùng, đồ chơi.
bị đồ dùng, tổ chức hoạt động, dạy trẻ mọi lúc mọi nơi, kết hợp với phụ huynh.
- Các biện pháp tôi đưa ra đã giúp trẻ nắm được bài rất tốt. Trẻ có kỹ
năng đếm, so sánh, thêm bớt, gộp tách, chia nhóm rất tốt.
Từ kết quả trên tôi thấy những biện pháp của tôi cần nhân rộng cho tất cả
các đồng nghiệp trong trường và trường bạn với mong muốn nâng cao chất
lượng “LQVT” về số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi.
2. Khuyến nghị
Sau khi thực hiện đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi làm quen với toán về số lượng” tôi xin được mạnh dạn đề
xuất một số khuyến nghị sau:
+ Đối với cấp trường:
Tham mưu tốt với các cấp lãnh đạo tu sửa trường lớp rộng rãi để cho trẻ
hoạt động, thường xuyên xây dựng những tiết học có chất lượng để cho giáo
viên học tập.
+ Đối với cấp phòng, sở giáo dục:
Tạo nhiều cơ hội cho giáo viên được trau dồi năng lực sư phạm qua các
lớp bồi dưỡng chuyên môn về “LQVT” nói chung và “LQVT” về số lượng nói
riêng.
Cung cấp các tài liệu, tập san có nội dung về “LQVT” về số lượng để
giáo viên học tập và nghiên cứu.
Trên đây là một số biện pháp của bản thân tôi nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục “LQVT” về số lượng cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Trong quá trình thực
hiện đề tài, bản thân tôi đã rất cố gắng, song về mặt nội dung cũng như hình
thức trình bày không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự
góp ý xây dựng của hội đồng khoa học các cấp để đề tài của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục Mầm non
2. Phương pháp hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ Mầm non.
TS. Đỗ Thị Minh Liên – Nhà xuất bản sư phạm 2003.
Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
- 19 -
TRANG
1
2
2
2
3
3
4
1.1
1.2
1.3
2
3
3.1
4
4. 1.
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
5
6
I. Thông tin chung:
Tên trẻ:………………………………………………. Lớp:……………….
Câu hỏi 1: Con hãy đếm số lượng đồ đùng, đồ chơi theo thứ tự
a. Trẻ đếm theo thứ tự, thành thạo
b. Trẻ đếm còn lung tung, chưa theo thứ tự
c. Trẻ không đếm được
Câu hỏi 2: Con hãy thêm, bớt đồ dùng, đồ chơi theo yêu cầu
a. Trẻ thêm bớt tốt
- 20 -
5
6
6
7
7
8
9
9
10
10
11
12
13
14
17
18
18
19
thìa. Mỗi trẻ 1 đoạn day điện dài 10cm.
III. Tiến hành
Hoạt động của cô
Hình thức hội thi “Gia đình thông minh”.
Hoạt động của trẻ
Gây hứng thú giới thiệu bài
- Cô giới thiệu tên hội thi, các gia đình
tham gia hội thi (3 gia đình: Gia đình số 1,
Trẻ chú ý lắng nghe
số 2, số 3) và người dẫn chương trình, giới
thiệu nội dung hội thi gồm 3 phần:
- Phần 1: Khởi động
- Phần 2: Kiến thức
- Phần 3: Về đích
1. Hoạt động 1: phần thi “Khởi động”
(Luyện tập nhận biết có số lượng là 6, chữ
số 6).
Ở phần thi “Khởi động” này cô cho trẻ chơi
trò chơi “Ô cửa bí mật”.
- Cô nói: Cô có những ô cửa vô cùng bí
mật để biết đắng sau những ô cửa đó chứa
ẩn điều gì ? Xin mời 3 gia đình nghe cô đặt
câu hỏi nhé:
Cách chơi: Cô là người đặt câu hỏi và 3 gia
đình sẽ lắng nghe và trả lời. Thời gian suy
nghĩ cho 3 gia đình là 5 giây hết thời gian
đọc số
đọc số.
+ Ô cửa số 2: Hằng ngày các con dùng đồ
dùng gì để xúc cơm ?
- Cho trẻ lên mở ô cửa đó là 5chiếc thìa.
Trẻ mở ô cửa, chọn số,
Cho trẻ đếm và chọn số tương ứng, cho trẻ
đọc số
đọc số.
+ Ô của số 3: Đồ dùng nào dùng để uống?
- Cho trẻ mở ô cửa và đếm số cốc và chọn
Trẻ mở ô cửa, chọn số,
số tương ứng, đọc số. (4 chiếc cốc)
đọc số
+ Ô của số 4: Khi đánh răng các con phải
dùng đồ dùng gì ?
- Cô cho trẻ đếm số bàn chải (6 chiếc), trẻ
Trẻ mở ô cửa, chọn số,
chọn số và cho trẻ đọc số.
Trẻ lắng nghe
+ Yêu cầu: - Xếp bát trong rổ ra trước mặt,
khi xếp nhớ xếp từ trái sang phải và thẳng
Trẻ xếp số bát
hàng ngang với nhau. (Cô bao quát và nhắc
nhở trẻ).
+ Yêu cầu : - Xếp 6 chiếc thìa vào mỗi
Trẻ xếp 6 chiếc thìa
chiếc bát là 1 chiếc thìa xếp từ trái sang
phải.
Trẻ đếm số thìa
- Cho trẻ đếm số thìa
Trẻ nhận xét
- Ai có nhận xét gì về số bát và số thìa ?
Trẻ trả lời
- Số bát và số thìa như thế nào với nhau ?
- Số thìa so với số bát số nào nhiều hơn ?
Nhiều hơn là mấy ?
Trẻ trả lời
đều bằng mấy ?
- Để chỉ 7 cái bát, 7 cái thìa người ta dùng
chữ số mấy ? ( hỏi 3 – 4 trẻ).
(Nếu trẻ biết cô cho trẻ lấy chữ số 7 đặt vào
nhóm có 7 cái bát).
Trẻ nhận xét
- Ai có thể nhận xét được cấu tạo của số 7.
- Cô chốt lại “ Để chỉ 7 cái bát, 7 cái thìa
người ta dùng chữ số 7. Cấu tạo chữ số
Trẻ lắng nghe
gồm có 2 nét 1nét nằm ngang và 1 nét xiên
trái. Ngoài số 7 in thường còn có số 7 viết
thường. Tuy 2 cách viết khác nhau nhưng
đều đọc là số 7”.
Cả lớp đọc
- Cho cả lớp trẻ đọc 2 – 3 lần.
Đội, nhóm, cá nhân đọc
- Cho trẻ đọc theo đội, nhóm, cá nhân đọc.
- Các thành viên trong gia đình cất đi 1