SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 3 - 4 TUỔI KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
KHOA HỌC TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA YÊN
Người thực hiện: Phan Thị Linh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Yên
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THANH HÓA, NĂM 2018
0
MỤC LỤC
Tên đề mục
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
2.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Tạo môi trường hoạt động phong phú hấp dẫn cho trẻ
13
2.3.6. Sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động khám phá khoa
học về môi trường xã hội.
14
2.3.7. Tuyên truyền và phối hợp với các bậc phụ huynh
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
*. Hiệu quả trên trẻ
*. Hiệu quả cho bản thân
*. Đối với đồng nghiệp, nhà trường
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2 .Kiến nghị
* Tài liệu tham khảo
16
17
17
17
17
18
18
18
19
1
khám phá môi trường xung quanh. [2]
Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi thích khám phá tò mò về những gì, tại sao
đang sảy ra xung quanh trẻ với những câu hỏi liên tục là một phần của sự phát
triển vốn từ. Phải chăng trẻ nhỏ đang khao khát tìm hiểu về môi trường xung
quanh chúng ta và ham muốn được giao tiếp? Câu hỏi: tại sao? Thế nào? Tại sao
như vậy? thường được kết nối lần lượt để trẻ nắm bắt thông tin và những thông
tin này có thể thay đổi trong cách trẻ tìm hiểu thế giới xung quanh.
Khám phá khoa học về khám phá môi trường xã hội là hoạt động trải
nghiệm thực tế về cuôc sống đời thường xung quanh trẻ, giúp trẻ phát triển các
phẩm chất trí tuệ như tính ham hiểu biết, khả năng ghi nhớ có chủ định, tính tích
cực nhận thức làm nền cho sự phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ. Không
những thế khám phá xã còn hội còn góp phần phát triển ở trẻ tình cảm, đạo đức,
thẩm mỹ, khả năng tích lũy tri thức và kinh nghiệm cuộc sống, làm cơ sở lĩnh
hội những nội dung giáo dục của các hoạt động vui chơi, học tập và các hoạt
động khác.
1
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động khám xã hội qua hoạt động
khám phá khoa học đối với trẻ mầm non như vậy, là một giáo viên đang phụ
trách trẻ 3 - 4 tuổi tôi luôn luôn trăn trở để tìm ra phương pháp như thế nào để
giúp trẻ ham thích môn học và tiếp nhận một cách nhẹ nhàng hơn. Chính vì vậy
tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi khám phá môi trường xã
hội qua hoạt động Khám phá khoa học” để nghiên cứu và tìm ra biện pháp
dạy học có hiệu quả cao.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Tôi nghiên cứu đề tài này để tìm ra một số biện pháp mới giúp trẻ làm
quen với môi trường xung nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá cái mới, cái lạ ở
trẻ.
- Đề tài thành công trẻ sẽ khám phá khoa học một cách hứng thú có tác
2
Trẻ em cũng giống như con người, là sản phẩm của tự nhiên và sự phát
triển xã hội. Nhưng khác với người lớn trẻ là sản phẩm chưa hoàn thiện. Theo
PGS-TS Nguyễn Ánh Tuyết “Trẻ em là một thực thể đang phát triển để trở thành
một thành viên của xã hội một nhân cách” [4]. Trẻ em chỉ thành người trong quá
trình xã hội hóa.
Tuổi thơ là một giai đoạn rất đặc biệt của con người. Nơi bắt đầu của những
câu hỏi, tò mò và háo hức về thế giới xung quanh. Các nghiên cứu về thần kinh
và tâm lý học đều cho thấy bộ não của trẻ ở giai đoạn trước 16 tuổi đạt hầu hết
phát triển quan trọng và gần như định hình cho những năng lực trí tuệ về sau. Đó
cũng là thời gian rất phù hợp để trẻ có thể hoà mình với những trải nghiệm khám
phá khoa học thông qua trải nghiệm thế giới xung quanh trực quan sinh động.
Trải nghiệm khám phá khoa học đối với trẻ em có thể bắt đầu ngay từ khoảng 3
tuổi cho đến hết chương trình học phổ thông. Danh sách các hoạt động liên quan
đến khám phá khoa học thì dường như không có giới hạn, có thể diễn ra tại
trường học, tại gia đình, hay ngay bên ngoài xã hội. Có thể kể ra như những hoạt
động liên quan đến sinh học, hoá học, vật lý học, khoa học về môi trường, về vũ
trụ, địa chất… Từ những trò chơi đơn giản, như làm dùng kính lúp để tạo ra lửa,
hay những chuyến đi dã ngoại làm bộ sưu tập các loại lá cây và côn trùng, tất cả
đều tạo nên cho trẻ những trải nghiệm khám phá khoa học bổ ích. [5]
Chính vì vậy độ tuổi mầm non trẻ có tính tò mò thích khám phá, đặc điểm
ở độ tuổi 3- 4 tuổi trẻ bắt đầu biết ý thức về bản thân mình, và phân biệt được
mình với thế giới xung quanh và biết tìm hiểu thế giới xung quanh, nếu như
không được bồi dưỡng thêm trẻ sẻ bị hạn chế và xa lánh thế giới xung quanh
mình
Cho trẻ khám phá khoa học về môi trường xã hội là một điều hết sức cần
thiết. Nhưng không phải lúc nào trẻ cũng hứng thú và thích tham gia vào hoạt
động học, nếu giáo viên không tổ chức hoạt động học bằng nhiều hình thức thì
thiết bị dạy học, giáo cụ trực quan phục vụ cho quá trình khám phá chưa phong
phú,hấp dẫn về chủng loại, màu sắc, chưa đáp ứng được nhu cầu của trẻ.
- Đối với bản thân: Bản thân chưa mạnh dạn xây dựng các hoạt động
khám phá vào kế hoạch hoặc nếu có xây dựng thì còn mang tính hình thức,
khuôn khổ, gò bó.
- Đối với học sinh: Trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều, một số trẻ
còn nhút nhát chưa tự tin giao tiếp với người lạ và chưa hứng thú khi tham gia
vào hoạt động khám phá trải nghiệm. Đa số trẻ chưa có nề nếp học tập vì chưa
qua học các nhóm trẻ nên khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động khám phá
về môi trường xung quanh.
- Về phía phụ huynh: Đa số phụ huynh đều làm nông nghiệp nên điều kiện
kinh tế còn gặp nhiều khó khăn
* Kết quả của thực trạng trên.
Năm học 2017 - 2018 tôi được phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo 3-4 tuổi
tôi nhận thấy hoạt động khám phá về môi trường xã hội của trẻ còn hạn chế trẻ
chưa thực sự tích cực tham gia hoạt động cùng cô. Vì vậy ngay từ đầu năm tôi
đã tiến hành khảo sát trẻ ở mọi lúc mọi nơi và có kết quả sau:
(Kèm theo các bảng khảo sát đầu năm ở phụ lục 1)
Qua khảo sát chất lượng trẻ với kết quả trên, trong quá trinh chăm sóc giáo
dục tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi khám phá môi
trường xã hội qua hoạt động Khám phá khoa học” được tốt hơn.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Tạo môi trường hoạt động phong phú hấp dẫn cho trẻ
Quá trình khám phá khoa học có đạt đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó môi trường xung quanh trẻ giữ một vị trí quan trọng. Nó
chứa đựng các phương tiện cần thiết để tổ chức cho trẻ khám phá. Trẻ mầm non
phần lớn sống trong gia đình và trường lớp mẫu giáo vì vậy việc taọ môi trường
cho trẻ thực hiện các hoạt động khám phá là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Đồ dùng, trực quan, đồ chơi phục vụ hoạt động khám phá khoa học như:
Bàn, ghế, bảng, tranh, mô hình, các từ gắn với mỗi hình ảnh, vật mẫu... Cần phải
Ngoài ra tôi đưa ra các nguyên vật liệu để trẻ cùng cô làm mô hình để phục
vụ vào hoạt động học như.
Ví dụ: Ở chủ đề “Quê hương đất nước - Bác Hồ” tôi cùng trẻ làm mô hình
(Chùa một cột, Văn miếu quốc tử giám) để trẻ khắc sâu thêm về cảnh đẹp của
Quê Hương đất nước.
*Xây dựng góc mở cho trẻ hoạt động.
Để khắc sâu hơn trong trí nhớ của trẻ tôi cho trẻ hoạt động trên góc mở với
tên góc “Bé khám phá khoa học - thiên nhiên”.
Ví dụ: Khi khám phá môi trường xã hội ở chủ đề “Giao thông” một trẻ lên
lấy hình ảnh chiếc xe đạp làm đề tài nghiên cứu bàn luận gắn vào cột “Bé Thích
Khám phá?” và khi khám phá ra đặc điểm và biết được nó là phương tiện giao
đường nào thì trẻ lấy lô tô tương ứng gắn vào cột “Bé khám phá được gì”.
Khi thực hiện khám phá chủ đề “Nghề nghiệp” một trẻ trong nhóm chơi
cũng thực tương tự ,trẻ lấy chiếc áo gắn vào ô “Bé thích khám phá gì” và lấy
bức tranh có hình ảnh cô dệt may gắn lên ô “Bé khám phá được gì” Như vậy từ
thực hiện ở góc mở đã giúp cho trẻ rèn luyện kỹ năng quan sát, tìm tòi, tự khám
phá, và khắc sâu trong trí nhớ của trẻ về từng công việc trong xã hội và qua đó
trẻ biết được đặc điểm, ý nghĩa, ích lợi của các nghề đối với cuộc sống con
người.
(Hình ảnh minh hoạ kèm theo phụ lục 2)
5
Ở lứa tuổi này trẻ luôn tò mò, quan sát và bắt đầu đưa ra suy nghĩ của mình
bằng những câu hỏi tại sao như vậy? Để làm gì? nên tôi quyêt tâm khơi gợi trí tò
mò thích phán đoán của trẻ bằng cách vẽ các bức tranh treo bên ngoài lớp theo
các chủ đề. Thông qua các bức tranh để khơi gợi nhân cách, trí tuệ đạo đức trong
con người trẻ.
Ví dụ:
Đồ chơi hết sức cần thiết đối với trẻ, nó có tác dụng và ý nghĩa thật to lớn
và sâu sắc đối với trẻ độ tuổi mầm non, vì bất kể một trẻ em nào đều có nhu cầu
chơi và rất yêu quí đồ chơi, chúng sống và hành động cùng với đồ chơi. Đồ chơi
mầm non giúp trẻ em tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, nó giúp các em
làm quen với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật, biết được công dụng
của chúng trong sinh hoạt và trong lao động của con người. Đồ chơi còn là
phương tiện giúp trẻ phát hiện ra những mối quan hệ của người với người trong
xã hội dần dần biết gia nhập vào các mối quan hệ đó. Hoạt động với đồ chơi vừa
6
làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, vừa làm cho đôi bàn tay khéo léo, đôi chân dẻo
dai cơ thể mềm mại, hình dáng phát triển cân đối hài hòa, giúp trẻ có thể tham
gia tốt vào cuộc sống xã hội sau này. Quá trình cho trẻ khám phá khoa học có
đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó môi trường
xung quanh trẻ giữ một vị trí quan trọng, môi trường xung quanh chứa đựng các
phương tiện cần thiết để tổ chức cho trẻ khám phá như đồ dùng đồ chơi mua
sắm, đồ dùng đồ chơi tự tạo, mô hình vật thật gần gũi xung quanh trẻ.
Việc sử dụng đồ dùng, đồ chơi đối với từng hoạt động học đóng vai trò rất
quan trọng, giúp hoạt động học đó có kết quả cao và hiệu quả nhất. Nếu đồ dùng
sơ sài, cô giáo dạy chay thì trẻ sẽ nhàm chán, ít tập trung. Nhận rõ tầm quan
trọng của đồ dùng, đồ chơi với hoạt động học “Khám phá khoa học” nhất là
khám pha môi trường xã hội, trên cơ sở những đồ dùng đồ chơi sẵn có từ những
năm trước, tôi cải biến, tu sửa lại nhằm thu hút trẻ hơn. Bên cạnh đó để thu hút
trẻ hơn thì đồ dùng đồ chơi cần phải đẹp, mới, an toàn, hợp vệ sinh và đảm bảo
tính khoa học… Nguồn nguyên liệu một phần tôi được phụ huynh ủng hộ như:
Lịch treo tường, sách báo, tạp chí,bìa cát tông, vỏ lon, các đồ dùng đã hỏng như
máy sấy tóc, ống khám bệnh của bác sĩ, ống tiêm… một phần tôi tự tìm kiếm từ
bạn bè xung quanh tranh thủ những lúc rảnh rỗi vào giờ nghỉ trưa, vào những
ngày nghỉ cuối tuần, chúng tôi làm đồ dùng đồ chơi cho tiết học sắp tới.
ảnh những ngôi sao, ông trăng, các bạn múa lân, ở phía dưới là mân hoa quả, và
đặc biệt cô giáo đóng vai chị hằng và cô phụ đóng vai chú cuội để cùng trẻ trò
chuyện về ngày hội trung thu, trẻ hoạt động, tôi thấy trẻ hào hứng, say sưa như
đang được hòa mình vào lễ hội vậy. Thông qua giờ học trẻ biết được các phong
tục tập quán, các lễ hội truyền thống của quê hương đất nước và biết giữ gìn các
giá trị trường tồn của nó.
Kết quả: Tôi thấy khi sử dụng đồ dùng đồ chơi, nguyên vật liệu phù hợp
vào hoạt động học trẻ lớp tôi hứng thú tham gia hoạt động hơn. trẻ hiểu biết
nhiều hơn, quan sát tốt, tìm rất nhanh các vật mẫu cô đề ra, trẻ so sánh và phân
nhóm cũng rất rõ ràng, rành mạch, ngôn ngữ phát triển.
2.3.3. Tổ chức khám phá khoa học về môi trường xã hội thông qua
hoạt động học
Bản thân sự vật, hiện tượng xung quanh luôn gây hứng thú cho trẻ, làm trẻ
có mong muốn tìm hiểu, khám phá. Nếu quá trình này diễn ra dưới sự điều khiển
của giáo viên thì hứng thú và tính ham hiểu biết của trẻ sẽ tăng lên.Việc tiếp xúc
trực tiếp với các sự vật, hiện tượng sẽ tạo ra sự rung động trước cái đẹp xung
quanh cho trẻ gắn bó hơn, tạo ra những xúc cảm, tình cảm tích cực và hành động
thiết thực để bảo vệ môi trường xung quanh chúng. Vì vậy trong quá trình cho
trẻ khám phá thế giới xung quanh trong tiết học, tôi đã sử dụng các phương pháp
như: phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện, phương pháp sử dụng trò
chơi... Trong tiết học tôi đã sử dụng vật thật cho trẻ khám phá, cho trẻ tiếp xúc
trực tiếp với vật thật bằng cách nhìn, sờ, nếm...và cảm nhận, qua đó trẻ trải
nghiệm bằng chính bản thân của mình sẽ giúp trẻ hứng thú, ham tìm hiểu và ghi
nhớ một cách có chủ định. Tùy từng tiết học theo từng chủ đề phù hợp giáo viên
càn tích cực chuẩn bị đồ dùng trực quan sinh động, thực tế để cho trẻ quan sát,
trải nghiệm hứng thú nhất. Tránh dạy vo, dạy lí thuyết sáo rỗng không hợp lứa
tuổi của trẻ sẽ làm trẻ không hứng thú, khắc sâu biểu tượng mờ nhạt. Bằng các
vật thật dễ tìm kiếm, sưu tầm, sẵn có trong thực tế giáo viên tận dụng tối đa sử
dụng trong các tiết học dạy trẻ trong các chủ đề: trường Mầm non, gia đình, bản
thân… sẽ giúp trẻ tham gia khám phá môi trường xung quanh đạt hiệu quả cao
Cô nêu kết luận chung của quả đó
+ Cô cũng muốn khám phá món quà của bạn thỏ nâu dành cho các con.
Các con có đồng ý để cô giúp không nào?
Cô thò tay vào trong hộp chọn quả, đoán tên sau đó đưa lên cho cả lớp
cùng phát âm
Cô hỏi trẻ về đặc điểm của loại quả đó bằng các câu hỏi tương tự(hình
dạng, màu sắc, mùi vị, vỏ)
Cô cho trẻ sờ để cảm nhận được đặc điểm của vỏ
Cô nêu nhận xét chung về loại quả đó
Trong giỏ còn có rất nhiều quả nữa đấy các con ạ,các con có muốn khám
phá xem đó là những loại quả gì không?
Cô tiếp tục đưa những quả khác trong hộp quà cho trẻ phát âm nhằm mở
rộng các loại quả cho trẻ
* Giáo dục trẻ về lợi ích của các loại quả và thói quen vệ sinh.
Hình ảnh minh họa kèm theo Phụ lục 4
3.Trò chơi củng cố:
* Trò chơi 1 “Nhanh tay lẹ mắt”:
Những món quà mà bạn thỏ nâu đã tặng cho các con cô đã chia đều vào các
rá rồi đấy.
Các con nhìn xem trong rá của các con có gì ?
Bây giờ cô muốn các con cùng tham gia với cô một trò chơi đó là trò chơi
“nhanh tay lẹ mắt”
Bây giờ nhiệm vụ của các con là khi nghe cô nói tên gọi hay đặc điểm của
quả nào thì con cầm quả đưa lên và đọc ta cho cô nha!
Cô tổ chức cho trẻ chơi 2-3 lần
9
Sau mỗi lần chơi cô nhận xét và động viên trẻ
* Trò chơi 2: Hái quả
* Trong giờ hoạt động âm nhạc khi dạy hát bài “Cháu yêu bà” tôi đưa ra
bức tranh hai bà cháu đang âu yến nhau cho trẻ quan sát, tư duy để trả lời về nội
dung bức tranh và qua bức tranh giáo dục trẻ biết yêu thương những người thân
trong gia đình.
Với hoạt động làm quen với văn học khi dạy trẻ bài thơ “Bạn mới” tôi cho
trẻ quan sát hình ảnh bạn nhỏ mới đi học còn bẽn lẽn, nhút nhát, và hình ảnh các
bạn đang chơi với nhau để giáo dục trẻ biết giúp đõ khi bạn mới đi học đang còn
bẻn lẻn nhút nhát và khi chơi với bạn thì phải biết nhường cho bạn, không được
tranh dành đồ chơi, không được đánh bạn, phải biết giúp đở bạn.
10
Kết quả: Như vậy việc tổ chức cho trẻ khám phá khoa học về môi trường
xã hội thông qua các hoạt động học tôi đã tổ chức cho trẻ hoạt động tôi thấy trẻ
rất hứng thú hăng hái tham gia hoạt động và tôi thấy trẻ biết lễ phép, biết vâng
lời ,biết yêu thương mọi người và đặc biệt trẻ biết giữ gìn tài sản chung ở
trường, ở lớp, ở những nơi công cộng.
2.3.4. Tổ chức cho trẻ kham phám khoa học ở mọi lúc, mọi nơi.
Không chỉ dừng lại ở việc cho trẻ khám phá những sự vật,hiện tượng xung
quanh cuộc sống bằng những phương pháp thực hiện trên tiết học mà tôi tận
dụng tất cả các hình thức,ở mọi lúc mọi nơi mà tôi cảm thấy hợp lí để giúp trẻ
khắc sâu hơn,hiểu sâu hơn các sự vật hiện tượng mà trẻ chưa được khám phá và
trải nghiệm cụ thể :
Biểu tượng về thế giới xung quanh đã đến với trẻ qua nhiều hình thức khác
nhau như câu đố, bài hát, ca dao, tục ngữ, đồng dao, tranh ảnh, đồ vật, vật thật...
giúp trẻ không bị nhàm chán lại dễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá
thành biểu tượngcủa mình. Chỉ đơn giản từ những câu đố, bài hát, các con vật
đợc hiện lên sóng động qua máy chiếu đa năng làm cho trẻ rất hứng thú. Qua đó
trẻ tích cực tham gia hoạt động cùng cô. Và hiển nhiên sự hiểu biết của trẻ, vốn
đầu tóc... Mở chủ đề tôi hướng trẻ vào quan sát, hỏi trẻ về chủ đề kích thích sự
khám phá tìm tòi của trẻ
Ví dụ: Trong chủ điểm thế giới động vật tôi trò chuyện cùng trẻ con biết
những con vật gì biết bay? Những con vật gì sống trong gia đình 2 chân, 2 cánh
và đẻ trứng? Tôi còn giao nhiệm vụ cho trẻ như các con về hỏi bố mẹ anh chị
xem những con vật nào trong gia đình có 4 chân và đẻ con? Trẻ trả lời và hứng
thú về trao đổi cùng gia đình.
Đối với phụ huynh tôi nhờ phụ huynh sưu tầm tranh ảnh, vật thật và tích
luỹ kiến thức cho trẻ về chủ đề đang học.
Hoạt động ngoài trời: Tôi cho trẻ quan sát cây hoa hồng, hướng cho trẻ
nhận xét về đặc điểm, mắc, thân, cành, hoa, lá. Sau đó cho trẻ sờ cánh hoa thấy
cánh hoa mịn màng hay nhẵn, các mép lá ì sao có răng cưa, ngữi hoa xem có
mùi vị như thế nào... Trẻ được quan sát kỹ, có được đầy đủ các đặc điểm của đối
tượng nên trẻ nêu ra các nhận xét, so sánh rất nhanh. Không những thế mà qua
các giờ đón và trả trẻ tôi cùng trò chuyện với trẻ về các loại cây, hoa lá, con vật
bằng cách nêu ra các câu đố vui, ngộ nghĩng, làm cho trẻ thích thú được cùng cô
giãi các câu đố đó. Với cách trò chuyện vui vẽ thân thiện mà đem lại kết quả cao
cho những tiết học.
Hình ảnh minh họa kèm theo Phụ lục 5b
Dạo chơi, tham quan: Với các nội dung về xã hội như hoạt động, lao
động của con người, các công trình công cộng hay về thế giới động vật, thực vật,
giáo viên có thể tổ chức đi tham quan. Hình thức thăm quan thường được tổ
chức cho trẻ mẫu giáo .Tuỳ điều kiện cụ thể của từng trường và mục đích tích
luỹ kiến thức về các đối tượng khác nhau, giáo viên có thể cho trẻ tham quan ở
gần hay xa trường mầm non trong khoảng thời gian thích hợp. Biện pháp tổ
chức cho trẻ đi tham quan là phương pháp vô cùng hiệu quả để giải quyết vấn đề
trẻ khám phá xung quanh bằng hoạt động thực tiễn. Hoạt động tham quan, dạo
chơi vô cùng phong phú gắn liền với cuộc sống nếu được tổ chức chu đáo trẻ sẽ
được tự mình trải nghiệm những điều thú vị từ cuộc sống muôn màu bằng vật
thật. Trong khi thăm quan giáo viên có thể tổ chức đàm thoại, thảo luận, trò
Ví dụ: Ở chủ đề “Quê hương đất nước - Bác Hồ” đề tài “Trò chuyện về di
tích lịch sử của địa phương”. Nga Yên quê tôi có di tích “Chùa đống cao” là di
tích văn hóa, nơi tâm linh được mọi người tôn kính nên tôi đã cho trẻ đi tham
quan và trò chuyện. Tôi đặt ra câu hỏi gợi mở kích thích óc suy luận phán đoán
của trẻ để trẻ trả lời các câu hỏi
+ Chúng mình đang được đi tham quan di tích nào của địa phương Nga
Yên?
+ Khu di tích chùa Đống Cao nằm ở xóm nào?
+ Khu di tích chùa Đống Cao có những đặc điểm gi?
+ Mọi người đến đây để làm gì?
+ Khi đến những nơi tâm linh các con phải làm sao?
+ Các con phải làm gì để bảo vệ di tích của quê hương?
Qua chuyến đi tham quan trẻ biết tôn kính gìn giữ nét đẹp văn hóa của quê
hương mình đang sống.
Hình ảnh minh họa kèm theo Phụ lục 5c
Ví dụ: Ở chủ đề “Nghề nghiệp” Đề tài “Tìm hiểu về nghề truyền thống ở
địa phương” Tôi cho trẻ đi tham quan xưởng dệt chiếu để trẻ được nhìn tận mắt
các nguyên vật liệu, công đoạn làm ra sản phẩm là những lá chiếu từ đó trẻ thấy
được sự vất vả của cô thợ dệt chiếu, đã dệt ra lá chiếu phục vụ cho con người và
qua đó trẻ biết được nghề dệt chiếu là nghề truyền thống từ xa xưa của ông cha
ta để lại cần phải giữ gìn và quý mến.
Hình ảnh minh họa kèm theo Phụ lục 5d
13
Qua giờ ăn, ngủ: Tôi khuyến khích trẻ chuẩn bị bàn ăn. Trò chuyện về tên
gọi, công dụng, chất liệu sự đa dạng của đồ dùng. Giới thiệu món ăn. Nhắc trẻ
hành vi thói quen văn minh trong ăn uống.
Tương tự giờ ngủ cũng hỏi trẻ tên gọi, công dụng của đồ dùng. Giải thích
Khi hỏi, không nên áp đặt trẻ trả lời “có” hoặc “không”, “ghét” hoặc
“thích”, nên cho trẻ xem hình ảnh chiếu rồi trẻ trả lời theo câu hỏi trên màn
hình.
Ví dụ: Trong chủ đề thế giới thực vật: Cô cho trẻ xem màn hình đã cài sẵn
hình ảnh của các loại trái cây. Khi cô click đến loại quả nào, trẻ sẽ tự nói tên loại
quả màu sắc, cách sử dụng,...
Đàm thoại trong lúc quan sát giáo viên phải dùng hệ thống các câu hỏi
trong quá trình quan sát. Đa số giáo viên sợ trẻ trả lời không được, thường nói
thay trẻ, và cho trẻ nhắc lại. Vì vậy những câu hỏi của cô có khi phải dùng thủ
thuật, vì nó có tác dụng kích thích sự tập trung chú ý tự giác đối tượng của trẻ.
14
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với các động vật sống trong rừng: Cô hát những
bài hát có tính cách nổi bật của các con vật, sau đó trẻ đoán và nói tên. Cô có thể
làm cho quá trình đàm thoại gây hứng thú cho trẻ bằng cách nói về sự sinh sản,
ăn uống, trưởng thành của loài vật đó.
Hình ảnh minh họa kèm theo Phụ lục 6
Hoặc về chủ đề các con vật nuôi: Đối với lớp mẫu giáo lớn yêu cầu câu hỏi
của cô phải cao hơn, tạo cho trẻ sự suy nghĩ nhiều hơn. Ngoài việc cung cấp cho
trẻ những thông tin cơ bản của con vật như: có mấy chân? Sống ở đâu? Thuộc
giống gì?... cô cần nâng yêu cầu việc đàm thoại cao hơn.
Ví dụ: Những loài vật nào ăn cỏ? Thuộc tính gì? Những loài vật nào ăn
thịt? Thuộc tính gì?...
Hoặc cô đặc câu hỏi trẻ nói về tính chất của nước: Nước có màu gì? Mùi
gì? Có vị gì? Câu hỏi nâng dần từ dễ đến khó, tại sao nước lại bốc hơi? Nước ở
sông suối có bay hơi không? Nước mưa rơi xuống đất chẩy đi đâu? Để kích
thích thêm vốn từ của trẻ?.
Đối với tất cả các hình thức đàm thoại nói trên, tùy từng tình huống cụ thể,
sống động, màu sắc hấp dẫn rất thu hút sự chú ý của trẻ và khuyến khích trẻ
tham gia hoạt động một cách tích cực, hứng thú. Bởi vì ta đã biết, không phải ở
tiết học nào cũng có thể cho trẻ trải nghiệm bằng vật thật mà có những tiết phải
sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin như một số bài dạy trong chủ đề Thế giới
động vật với bài khám phá “Sự ra đời của gà con”, “vòng tuần hoàn của
Bướm”.... Với những tiết dạy trên tôi phải cho trẻ khám phá thông qua những
hình ảnh sinh động tôi copy trên mạng để giúp trẻ hiểu rõ hơn về vòng tuần hoàn
của Bướm: Từ con tằm -> nhộng -> bướm -> đẻ trứng -> tằm -> nhộng ->
bướm,.... Qua việc sử dụng powerpoint tôi thấy trẻ thích thú say sưa khám phá
giúp giờ học đạt kết quả tốt hơn.
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, sự phát triển của hệ thống
mạng cùng với những tiện ích, ứng dụng phong phú đã tạo nên một cuộc cách
mạng trong mọi người, mọi ngành và đặc biệt là giáo dục. Chính vì vậy ngay từ
cấp học mầm non trẻ đã được làm quen với công nghệ thông tin như một phần
của hoạt động giáo dục không thể thiếu. Không chỉ với người lớn mà đối với trẻ
em mầm non thì công nghệ thông tin luôn mang lại nhiều điều kì thú và hữu ích
trong việc tiếp thu kinh nghiệm sống.
Hơn nữa trong việc giáo dục, truyền đạt kiến thức cho trẻ không phải sự vật
hiện tượng nào cũng có sẵn để trẻ được trực tiếp tri giác, nhất là với hoạt động
khám phá khoa học như tìm hiểu động vật sống dưới biển, quan sát máy bay, các
hiện tượng tự nhiên,.. hay chúng ta không thể có thời gian để chứng kiến những
hiện tượng trong tự nhiên xảy ra như tìm hiểu về cách sinh sản của một số loại
vật nuôi, …chính vì vậy để trẻ được tìm hiểu thế giới xung quanh một cách bao
quát nhất thì ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết học là một việc cần thiết.
Khi sử dụng công nghệ thông tin như các bài powerpoint vào các tiết học
khám phá khoa học. Tôi nhận thấy trẻ tỏ ra rất hào hứng, thích thú và cũng giúp
trẻ nhận biết sự vật- hiện tượng một cách rõ ràng hơn.
Ví dụ: Khám phá động vật sống trong rừng.
Vì điều kiện khó khăn và thiếu thốn nên nhà trường không thể đưa trẻ đến
thức tiến bộ và đúng đắn về tinh thần nhận thức, tình cảm, ngôn ngữ, giao tiếp…
ứng xử mới là điều quan trọng mà chúng ta cần phải quan tâm.
Qua công tác chăm sóc và áp dụng thực tế, công tác phối hợp với các bậc
cha mẹ trong việc chăm sóc giáo dục trẻ có tác dụng rất lớn, nếu làm tốt được
điều này sẽ:
- Tạo được sự thống nhất giữa gia đình và nhà trường về việc chăm sóc
giáo dục trẻ, tạo được sự thồng nhất về nội dung, phương pháp và cách thức tổ
chức CSGD trẻ ở lớp học cũng như ở gia đình. Tránh được những mâu thuẫn về
cách CSGD trẻ giữa gia đình và nhà trường tạo điều kiện cho việc hình thành
thói quen và các phẩm chất, nhân cách tốt ở trẻ.
- Bên cạnh đó các bậc phụ huynh nên sưu tầm các bài thơ, câu chuyện, bài
hát…có nội dung lễ giáo để giáo dục trẻ như: Lời chào, Cháu yêu bà, Bé
ngoan…Qua đó giáo dục trẻ về thói quen lễ giáo ở mọi lúc, mọi nơi.
- Để thực hiện tốt công tác phối kết hợp với các bậc cha mẹ, ngay từ đầu
năm học thông qua các buổi họp phụ huynh tôi thực hiện công tác tuyên truyền
tới các bậc phụ huynh và nội dung chương trình học của bé, thống nhất một số
biện pháp chăm sóc và dạy trẻ.
Hình ảnh minh họa kèm theo Phụ lục 8
- Phối kết hợp các bậc cha mẹ không chỉ giúp cha mẹ và giáo viên có kiến
thức chăm sóc trẻ một cách khoa học, mà còn giúp cha mẹ hiểu được thêm công
việc của giáo viên ở lớp cũng như giáo viên hiểu được hoàn cảnh và điều kiện
sống của trẻ ở gia đình. Để có biện pháp giáo dục phù hợp, tạo nên mối quan hệ
thân thiết, cởi mở, thân thiện giữa phụ huynh và giáo viên.
- Phối kết hợp với các cha mẹ trong việc thực hiện chương trình chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe cho trẻ về kiến thức chăm sóc cũng như theo dõi sức khỏe
của trẻ theo định kỳ.
- Phối kết hợp với các bậc cha mẹ trong việc thực hiện chương trình giáo
dục trẻ, giáo viên cùng kết hợp với cha mẹ trẻ giúp trẻ thực hiện tốt chương trình
CSGD trẻ theo từng chủ đề.
- Sưu tầm giúp tranh ảnh, sách báo cũ có liên quan đến chủ đề đang học.
gặpmột hiện tợng lạ và một đối tợng nào đó và đặc biệt hỏi cô vì sao lại nh vậy hả
cô...Trẻ hoàn toàn chủ động trong các buổi thực hành và là một thành viêntuyên
truyền đến gia đình trong việc ăn uống hợp vệ sinh và thực hiện tốtluật an toàn giao
thông. Trẻ có thái độ đúng đắn với môi trờng sống xung quanh trẻ,có lòngmong
muốn tạo ra cái đẹp và bảo vệ môi trờng sống xung quanh trẻ.
* Đối với bản thân: Có nhiều kinh nghiệm, vững vàng, tự tin, trong quá
trình giúp trẻ khám phá môi trường xã hội thông qua hoạt động khám phá khoa
học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ.
* Đối với đồng nghiệp: Thành công sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã được
hội đồng khoa học nhà trường đánh giá cao, được các đồng nghiệp ở trường áp
dụng rộng rãi trong quá trình tổ chức thực hiện chuyên đề và thu được kết quả
rất tốt. Giáo viên cũng đã có những kiến thức sâu hơn trong công tác tích hợp
các nội dung giảng dạy và nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Lồng ghép các bài
thơ, bài hát, câu chuyện, trò chơi học tập để giáo dục trẻ. Xây dựng kế hoạch
tích hợp các nội dung vào từng chủ đề, hoạt động phù hợp, lô gic.
* Đối với nhà trường: Chất lượng thực hiện chuyên đề có nhiều chuyển
biến mạnh mẽ, không ngừng được củng cố, nâng cao và duy trì thường xuyên.
Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường ngày càng
vững chắc.
18
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Trong sự nhận thức của trẻ ở lứa tuổi màm non, khám phá khoa học giữ
một vai trò quan trọng. Vì đây là hình thức cho trẻ phát hiện ra những thứ mới
mẻ, li kì xung quanh trẻ. Khám phá khoa học giúp trẻ hình thành các nhận thức
về các sự vật hiện tượng xung quanh, sự giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn với
thiên nhiên, với xã hội cho trẻ. Khám phá khoa học thông qua các hình thức giúp
trẻ dễ nhớ, dễ hình dung, dễ tưởng tượng. Đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã
- Đối với phòng giáo dục.
Thường xuyên mở các lớp tập huấn, chuyên đề cho giáo viên nhằm tăng
hiệu quả trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ và nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ.
19
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi giúp trẻ 3- 4 tuổi làm quên với
khám phá khoa học về môi trường xã hội rất mong được sự đóng góp ý kiến của
hội đồng khoa học nghành để tôi được hoàn thiện hơn khi áp dụng sáng kiến của
mình trong năm học mới.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Nga Sơn, ngày 5 tháng 4 năm 2018
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép.
NGƯỜI VIẾT
Mai Thị Liên
Phan Thị Linh
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bài nói của Bác Hồ đăng báo Nhân Dân, số1645, ra ngày 14/9/1958;
về sau đưa vào sách “Hồ Chí Minh - Tuyển tập”, tập II, NXB Sự Thật, Hà Nội1980, trang 93
[2]. Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh” của
tiến sỹ HOÀNG THỊ PHƯỢNG
[3] Đào Thanh Âm (2002), giáo dục mầm non tập 1 NXB Đại học sư phạm
Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng
tuổi thông qua lời kể chuyện
Một số biện pháp tổ chức
sinh hoạt tuổi nuôi dưỡng
nhằm góp phần nâng cao chất
lượng bữa ăn và phòng chống
suy dinh dưỡng cho trẻ tại
Trường mầm non Nga Yên
Một số kinh nghiệm nâng cao
chất lượng cho trẻ 5-6 tuổi
làm quen chữ viết ở Trường
mầm non Nga Yên
Một số kinh nghiệm nâng cao
chất lượng cho trẻ 5-6 tuổi
làm quen chữ viết ở Trường
mầm non Nga Yên
Cấp đánh giá
xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh…)
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A,B hoặc
C)
Năm học
Sở GD&ĐT
C
2014-2015
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các bảng khảo sát
1.Kết quả thực trạng ban đầu qua khảo sát: (thời điểm từ tháng 9 năm học
2017-2018)
Bảng khảo sát chất lượng trên trẻ 28 trẻ
Nội dung khảo sát
Khả năng nhận biết tên gọi đặc
điểm của đối tượng
Khả năng so sánh nhận xét giữa
các đối tượng
Khả năng phân nhóm, phân loại
theo dấu hiệu rõ nét
Suy luận, giải thích được mối
liên hệ đơn giản của hiện tượng
sự vật xung quanh
Tổng
số trẻ
Số trẻ đạt
Tỉ lệ
46,4
12
42,8
16
47,2
28
Phụ lục 2: Hình ảnh minh họa giải pháp 2.3.1
a, Hình ảnh Bác Hồ với các cháu thiếu niên nhi đồng