LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt
thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được
rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết
ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Dược và Điều Dưỡng trường
Đại học Tây Đô đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến
thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Để hoàn thành tốt đề tài “Khảo Sát Tình Hình Sử Dụng Thuốc Kháng Viêm
Non-Steroid tại Khoa Khám – Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Vĩnh Thạnh Thành Phố
cần Thơ”, em xin chân thành cám ơn Cô DS Giang Thị Thu Hồng giảng viên
hướng dẫn trực tiếp cho em, bên cạnh đó em xin chân thành cám ơn BSCKI.
Nguyễn Chính Quyền, DS Trần Bá Phước, DS Võ Quốc Chương, Ks Lê Tuấn Điền
đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp này.
Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy Cô trong khoa Dược và Điều Dưỡng
Trường Đại học Tây Đô, Tập thể Khoa Khám, Tổ tin học, Khoa dược Bệnh Viện
Đa Khoa huyện Vĩnh Thạnh thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ
mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Trân trọng kính chào!
Vĩnh Thạnh, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
TRẦN VĂN ĐỨC
i
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em. Các số liệu, kết quả
nêu trong tiểu luận là trung thực và em đã tổng hợp, phân tích số liệu, chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Trung bình cứ 3 người dân thì có một người có đau xương, khớp và 50 % số người
này phải khám bệnh và phải dùng thuốc. [18]
Người bệnh là nữ giới chiếm đến 62 % trong tổng số mẫu nghiên cứu, do là
người bệnh vào viện bị các bệnh như viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, viêm
đa khớp… chiếm số lượng lớn, điều này phù hợp với đặc điểm của bệnh về tuổi và
giới.
Tình trạng người bệnh vào viện phần lớn đều có triệu chứng mệt, đau nhức
các khớp, hạn chế vận động…vì vậy người bệnh đều được sử dụng các thuốc giảm
đau chống viêm không steroid. Việc sử dụng hợp lý những thuốc này đã góp phần
rất lớn để nâng cao hiệu quả điều trị, giảm bớt chi phí và thời gian nằm viện của
người bệnh.
Số người cần dùng thuốc chống viêm không steroid ngày càng tăng, viêm
khớp dạng thấp chiếm khoảng 1-2 % dân số, thoái hóa khớp có biểu hiện đau chiếm
10 % tổng số người bị thoái hóa. Trung bình cứ 3 người dân có một người đau
xương, khớp và 50 % số người này phải khám bệnh và phải dùng thuốc. [9]
Các loại thuốc NSAID gặp trong mẫu khảo sát
iii
Dẫn chất oxicam: meloxicam (Mebilax 7,5 mg, 15 mg); dẫn chất acid
phenylacetic như diclofenac 50 mg, 75 mg; dẫn chất acid salicylic như Aspirin PH8
và Aspegic; dẫn chất anilin như paracetamol.
Mặc dù có lợi ích lớn, phạm vi sử dụng ngày càng rộng nhưng việc dùng
thuốc giảm đau chống viêm không steroid cũng bị giới hạn do một số yếu tố nguy
cơ gây tác dụng phụ của thuốc. Các thuốc dùng kèm để giảm tác dụng phụ phần lớn
là các thuốc chống loét đường tiêu hóa. Các tai biến xảy ra chỉ gặp ở đường tiêu
hóa, có 124 trường hợp trong quá trình điều trị. Trong đó ở nhóm người bệnh được
chỉ định dùng kèm thuốc chống loét thì tỷ lệ xảy ra tai biến thấp hơn so với tỷ lệ tai
biến xảy ra ở nhóm không dùng kèm thuốc chống loét.
Kết quả sau điều trị: đa số người bệnh là người nhiều tuổi, có mắc kèm các
viii
ix
1
3
3
3
4
2.1.3 Tác dụng không mong muốn
2.1.4 Chỉ định chung của NSAID
2.1.5 Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc NSAID
8
9
10
2.1.6 Phân loại các thuốc NSAID
11
2.2. Tổng quan về các thuốc NSAID thường dùng tại Bệnh viện đa khoa
huyện Vĩnh Thạnh
2.2.1 Dẫn chất acid salicylic
2.2.2. Dẫn chất acid phenylacetic
2.2.3 Dẫn chất oxicam
2.2.4 Dẫn chất aminophenol
2.2.5 Dẫn chất coxib
2.3 Một số đặc điểm về bệnh xương khớp
12
25
3.2.2 Cỡ mẫu
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
26
26
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
3.2.5 Y đức
26
26
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả về đặc điểm của người bệnh trong mẫu nghiên cứu
4.1.1 Tuổi và giới
27
27
27
4.1.2 Xác định tỉ lệ bệnh nhân đến khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện
Vĩnh Thạnh được chỉ định thuốc Non-steroid
4.1.3 Bệnh xương khớp mắc phải trong mẫu khảo sát
4.1.4 Bệnh mắc kèm khác
4.1.5 Thời gian mắc bệnh
28
29
42
4.4.3 Đánh giá nguy cơ tiết niệu
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận
5.2 Đề nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
49
50
50
51
54
vi
45
46
47
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Các loại thuốc NSAID gặp trong toa thuốc khảo khác
Thời gian sử dụng thuốc NSAID
32
33
35
Bảng 4.8
Bảng 4.9
Bảng 4.10
Phối hợp các thuốc NSAID với nhau
Các thuốc dùng kèm
Các thuốc sử dụng để giảm tác dụng phụ
37
38
39
Bảng 4.11
Đơn thuốc NSAID có tác dụng giữ nước trên bệnh nhân
cao huyết áp
40
Bảng 4.12
Bảng 4.13
Các ADR đã gặp
Vai trò của Enzym cyclooxygenase và lipoxygenase
Cơ chế gây viêm và tác dụng của thuốc NSAID
Cơ chế gây sốt và tác dụng của thuốc NSAID
4
5
7
Hình 2.4
Hình 4.1
Cơ chế chống kết dính tiểu cầu của Aspirin
Sự phân bố về giới của người bệnh
8
27
Hình 4.2
Hình 4.3
Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc Non-steroid
Các bệnh xương khớp mắc phải
28
30
Hình 4.4
Hình 4.5
Hình 4.6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
Tên đầy đủ
ASAS
Tiêu chí đáp ứng trong viêm cột sống dính khớp
ADR
HVQY
GNP
PHCN
Adverse Drug Reactions (Phản ứng có hại của thuốc)
Học viện Quân y
Gross National Product (Tổng sản phẩm quốc gia)
Phục hồi chức năng
NSAID
Non Steroid Anti-Inflammatory Drug (Thuốc chống viêm
CYP
PG
Non-Steroid)
50 loại enzymes Cytochrom P thuộc nhóm monooxygenase
Prostaglandin
Kỹ sư
Viêm khớp dạng thấp
Thoái hóa khớp & cột sống
Đau khớp
VQKV
VKCoCh
VKCuChau
VKG
LX
HTVKCXD
VDK
TDKG
Viêm quanh khớp vai
Viêm khớp cổ chân
Viêm khớp cùng chậu
Viêm khớp gối
Loãng xương
Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi
Viêm đa khớp
Tràn dịch khớp gối
ix
Gut
Gút
VMHD
mới.
Một trong những căn bệnh đeo đẳng cuộc sống của con người khó có thể điều
trị khỏi đó là các bệnh lý về xương khớp (chiếm tỷ lệ cao nhất cả ở các nước phát
triển và đang phát triển). Các bệnh tuy ít gây tử vong nhưng gây đau đớn kéo dài
cho hàng trăm triệu người, bệnh thường kéo dài và có thể gây tàn phế cho nhiều
người. Nhóm bệnh lý này gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động và hạn
chế hoạt động hàng ngày. Trong tương lai, tỷ lệ này còn đang tiếp tục tăng cao vì
sự gia tăng tuổi thọ... Ngoài tác động rất lớn về kinh tế, xã hội, các bệnh xương
khớp còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý tình cảm của con người. Chỉ riêng ở Mỹ,
thiệt hại do nghỉ việc, giảm năng suất lao động của các bệnh xương khớp tương
đương với 2,5 % tổng sản phẩm quốc gia (GNP) các bệnh xương khớp ảnh hưởng
hàng trăm triệu người, mà ước tính tiêu tốn của xã hội tới 215 tỷ USD hàng năm.
Tạo ra một gánh nặng cho gia đình và xã hội. [21]
Các thuốc giảm đau chống viêm Non-Steroid là những thuốc được lựa chọn
đầu tiên trong điều trị các bệnh xương khớp, với các tác dụng giảm đau, chống
viêm. Được sử dụng với nhiều chế phẩm, biệt dược và nhiều dạng bào chế rất
phong phú. Do hiểu biết về cách sử dụng của từng dạng bào chế của người dân nói
chung còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả điều trị nhiều khi không đạt được như
mong muốn. Việc sử dụng thuốc, kê đơn thuốc cho bệnh nhân tại các bệnh viện
nhiều khi vẫn thực hiện theo thói quen của người đi trước truyền lại, và có thể còn
vì lợi nhuận kinh tế, chưa chú trọng nhiều về lựa chọn loại thuốc, dạng thuốc và
hướng dẫn sử dụng hợp lý cho từng người bệnh theo đúng nguyên tắc sử dụng
thuốc. Vì vậy vấn đề sử dụng thuốc giảm đau chống viêm Non-Steroid trong điều
trị tại bệnh viện như thế nào để đạt hiệu quả điều trị tốt và hạn chế các tác dụng phụ
của thuốc là một vấn đề luôn được quan tâm.
1
Bệnh viện Đa Khoa Huyện Vĩnh Thạnh Thành phố Cần Thơ là một bệnh viện
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về thuốc giảm đau chống viêm non-steroid
Hyppocrates người được coi là ông tổ của nghề y, đã phát hiện ra tác dụng
giảm đau hạ sốt của nước chiết xuất từ vỏ cây liễu (còn gọi là cây thùy dương). Đến
năm 1899, sản phẩm aspirin đầu tiên của hãng Bayer được lưu hành trên thị trường.
Sau aspirin, là phenylbutason (1949) và indomethacin (1963) được tổng hợp. Tiếp
theo là sự ra đời của hàng loạt thế hệ thuốc NSAID khác như: ibuprofen (1969),
fenoprofen (1970), ketoprofen (1973), naproxen (1974), acid tiaprofenic (1975),
sulidac (1976), diflunisal (1977), piroxicam (1981), nimesulide (1983), acemetacin
(1985), tenoxicam (1987), meloxicam (1996), và gần đây là celecoxib, rofecoxib
(1998)...
2.1.1 Định nghĩa thuốc giảm đau chống viêm non-steroid
Các thuốc chống viêm Non-Steroid là một nhóm gồm nhiều thuốc khác nhau
về cấu trúc hóa học. Các thuốc trong nhóm đều có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống
viêm ở những mức độ khác nhau không thuộc nhóm các Opiat và trong cấu tạo của
chúng không có cấu trúc Steroid, do đó được gọi là các thuốc chống viêm NonSteroid (Non Steroidal Anti-Inflammatory Drug hay NSAID), và không có tác dụng
hormon. [3].
Các chất thuộc nhóm này có cùng cơ chế tác dụng là ức chế sự tạo thành
Prostaglandin. Chất trung gian hóa học khởi phát nhiều quá trình sinh lý và bệnh lý
của cơ thể. Prostaglandin sẽ khơi mào cho việc tạo ra các chất trung gian hóa học
khác như serotonin, bradikinin, histamin…ở ngọn sợi cảm giác (ngoại vi) nên các
thuốc nhóm này được xếp vào nhóm giảm đau ngoại vi. [6]
Một số chất đồng thời có cả ba tác dụng trên, có thể có một, hai tác dụng trội
hơn hoặc không có một tác dụng nào đó (paracetamol không có tác dụng chống
viêm) nhưng cùng một cơ chế tác dụng. [3]
3
- Tăng bài tiết chất nhày
tiểu cầu
- Tăng sức lọc cầu thận
LOX
Leukotrien
-Viêm dạ dày
- Viêm
Co thắt phế quản
Hình 2.1 Vai trò của Enzym cyclooxygenase (COX)
và lipooxygenase (LOX) [4]
PG có nhiều loại, hay gặp là PGE, PGF. Khi có những kích thích gây viêm
đều làm tăng tổng hợp PG. Trong cơ thể luôn có sự tổng hợp PG từ acid
arachidonic dưới tác dụng của COX. PGE-2 và Prostacyclin (PGI-2) làm giãn tiểu
4
động mạch, tiểu tĩnh mạch, gây ban đỏ, nóng, phù nề. PG làm cho những ngọn dây
thần kinh đi tới (afferent) gây đau nhạy cảm hơn với chất được giải phóng tại ổ
viêm. PGE-1 gây sốt, PGF-2α gây co cơ trơn phế quản rất mạnh; ngược lại, PGE-1,
PGE2 làm giãn phế quản. Ngoài ra, PGE-2 và PGE-2α làm tăng biên độ và tần số
co bóp của tử cung có thai. [16]
Cơ chế tác dụng chủ yếu của nhóm thuốc là ức chế enzym Cyclooxygenase.
Co thắt phế quản
Hình 2.2: Cơ chế gây viêm và tác dụng của thuốc NSAID [2]
Người ta tìm ra 2 loại enzym COX: COX-1 và COX-2, COX-1 có nhiều ở các
tế bào lành, tạo ra các PG cần cho tác dụng sinh lý bình thường ở một số cơ quan
trong cơ thể, duy trì cân bằng nội mô, bảo vệ niêm mạc dạ dày, thận. Trong khi đó
COX-2 chỉ xuất hiện ở các tổ chức bị tổn thương, có vai trò tạo ra các PG gây
viêm. [2]
5
Đa số các NSAID ức chế cả COX-1 và COX-2, ít có tác dụng lựa chọn trên
COX-2 nên kèm theo tác dụng chống viêm của NSAID là tác dụng gây viêm loét
dạ dày. Chính vì thế, xu hướng mới là tạo ra các thuốc chống viêm có tác dụng
chọn lọc lên enzym COX để thuốc không ảnh hưởng tới chức năng sinh lý bình
thường, giảm tác dụng không mong muốn mà vẫn duy trì được tác dụng chống
viêm. [2]
Tác dụng giảm đau
Thuốc có tác dụng giảm đau từ đau nhẹ đến đau vừa, vị trí tác dụng là ở các
reseptor cảm giác ngoại vi. Tác dụng tốt với các loại đau, đặc biệt là các chứng đau
do viêm. Khác với các thuốc giảm đau trung ương (nhóm opiat), thuốc giảm đau,
hạ sốt, chống viêm không có tác dụng giảm đau mạnh, không giảm đau sâu trong
nội tạng, không gây ức chế hô hấp và đặc biệt không gây lệ thuộc thuốc khi dùng
kéo dài.
Cơ chế giảm đau: Thuốc làm giảm tổng hợp PGF-2, làm giảm tính cảm thụ
của ngọn dây thần kinh cảm giác với các chất gây đau của phản ứng viêm như
bradykinin, serotonin. [2]
6
TKTƯ
-Rung cơ;
-Tăng hô hấp.
TKTV
-Co mạch;
-Tăng chuyển hóa.
GÂY SỐT
Hình 2.3 Cơ chế gây sốt và tác dụng của thuốc NSAID [15]
7
nhiệt
Tác dụng chống kết tập tiểu cầu
Hình 2.4 Cơ chế chống kết dính tiểu cầu của aspirin [2]
Các tác dụng khác
Ngoài ra các thuốc này còn đối kháng với hệ enzym phân hủy protein, ngăn
cản quá trình biến đổi protein làm vững bền màng lysosom và đối kháng tác dụng
các chất trung gian hóa học như bradykinin, histamin, serotonin, ức chế hóa hướng
động bạch cầu, ức chế sự di chuyển của bạch cầu tới ổ viêm, ngăn cản quá trình kết
hợp kháng nguyên và kháng thể, hủy fibrin. [2]
2.1.3 Tác dụng không mong muốn
Tác dụng không mong muốn của các thuốc NSAID chủ yếu liên quan đến tác
dụng ức chế tổng hợp PG. [2]
Hạ sốt do mọi nguyên nhân gây sốt.
Chống viêm: các dạng viêm cấp và mạn (viêm khớp dạng thấp, thấp khớp
cấp, viêm cột sống dính khớp, bệnh gút). [2]
9
2.1.5 Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc NSAID [1]
2.1.5.1 Cách uống thuốc
Các thuốc NSAID (trừ paracetamol) gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa
nên những thuốc này được chỉ định uống sau bữa ăn. Đối với những thuốc bị thức
ăn làm giảm hấp thu (aspirin) thì nên chọn dạng bào chế thích hợp như viên sủi,
viên bao tan ở ruột…hay trước khi uống nên dùng hồ tinh bột, cháo loãng hoặc sữa
để bao đường tiêu hóa trước.
Đối với viên nén trần thì phải uống sau bữa ăn, nhai kỹ viên và kèm theo uống
nhiều nước (khoảng 200 ml nước) để giảm thời gian lưu thuốc ở dạ dày.
Đối với viên bao tan ở ruột thì nên uống xa bữa ăn (khoảng 30 phút trước khi
ăn hoặc 2 giờ sau khi ăn, vì nếu uống cùng thức ăn thuốc có thể lưu lại ở dạ dày lâu
(từ 1-8 giờ) dễ làm màng bao viên bị vỡ.
Đối với viên sủi, thuốc bột khi pha thành dung dịch thì có thể uống trước hay
sau bữa ăn, bởi vì dạng dung dịch thuốc không bị cản trở bởi thức ăn mà nhanh
chóng được chuyển xuống ruột nên tránh được tác dụng kích ứng dạ dày.
Trong mọi trường hợp nên uống nhiều nước. Lượng nước lớn có tác dụng làm
tăng độ tan của thuốc, giúp cho thuốc tiếp xúc với bề mặt rộng lớn của ống tiêu hóa
tốt hơn, do tăng diện tích tiếp xúc nên thuốc hấp thu nhanh hơn.
2.1.5.2 Cách lựa chọn dạng bào chế
Dựa vào ưu nhược điểm của các dạng bào chế của các thuốc NSAID, để tránh
tác dụng kích ứng dạ dày có thể dùng các dạng viên bao tan ở ruột, viên sủi, thuốc
bột, thuốc đạn. Trong trường hợp người bệnh bị đau cấp tính, cần thuốc xuất hiện
tác dụng nhanh thì nên sử dụng thuốc tiêm.
Pyrazolon
Indol
Oxicam
Acid propionic
Metamizol
Noramidopyrin
Indomethacin, Sulin dac
Tolmentin, Etodolac
Piroxicam, Tenoxicam
Meloxicam
Giảm đau, hạ sốt, chống
viêm
Ibuprofen. Ketoprofen
Naproxen, Fenoprofen
Flurbiprofen, Oxaprozin
Acid phenylacetic
Diclophenac
Acid fenamic
Acid Mefenamic
Acid meclofenamic
Bảng 2.2 Phân loại thuốc NSAID trúng thầu năm 2017
Dẫn chất
Thuốc cụ thể
Tác dụng
Acid salicylic
Aspegic
Giảm đau, hạ sốt
chống viêm
Acid phenylacetic
Aspirin 81 mg
Diclofenac
Voltarel
Diclofenac gel
Oxicam
Aminophenol
Mebilax
Meloxicam
Partamol tab
Hapacol
Efferangan
Ðào thải qua thận chủ yếu dưới dạng acid salicylic tự do và các chất chuyển
hóa liên hợp.
Chỉ định:
Thuốc được chỉ định để giảm các cơn đau nhẹ và vừa, đồng thời giảm sốt. Vì
có tỷ lệ cao về tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, nên aspirin hay được thay thế
bằng paracetamol, dung nạp tốt hơn. Aspirin cũng được sử dụng trong viêm cấp và
mạn như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp dạng thấp thiếu niên, viêm (thoái hóa)
xương khớp và viêm đốt sống dạng thấp.
Nhờ có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, aspirin được sử dụng trong dự phòng
thứ phát nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở những người bệnh có tiền sử về bệnh này.
Chống chỉ định:
Do nguy cơ dị ứng chéo, không dùng aspirin cho người đã có triệu chứng hen,
viêm mũi hoặc mày đay khi dùng aspirin hoặc những thuốc chống viêm NSAID
trước đây. Người có tiền sử bệnh hen không được dùng aspirin do nguy cơ gây hen
thông qua tương tác với cân bằng prostaglandin và thromboxan.
Không dùng aspirin cho những người có bệnh ưa chảy máu, giảm tiểu cầu,
loét dạ dày hoặc tá tràng đang hoạt động, suy tim vừa và nặng, suy gan, suy thận,
đặc biệt người có tốc độ lọc cầu thận dưới 30 ml/phút và xơ gan.
Tác dụng không mong muốn
ADR phổ biến nhất liên quan
đến hệ tiêu hóa, thần kinh và cầm máu.
Tần số ADR phụ thuộc vào liều. Thường gặp nhất là triệu chứng tiêu hóa và ở
liều cao (trên 3 g/1 ngày).
Liều lượng và cách dùng:
Người lớn: (liều dùng cho người cân nặng 70 kg)
Giảm đau/ hạ sốt: uống 325 mg đến 650 mg, cách 4 giờ 1 lần, nếu cần, khi
vẫn còn triệu chứng.
Chống viêm (viêm khớp dạng thấp): uống 3-5 g/ngày, chia làm nhiều liều
nhỏ.
Đa số người bị viêm khớp dạng thấp có thể được kiểm soát bằng aspirin đơn
nhất có tác dụng. Trong trị liệu dài ngày, kết quả phần lớn xuất hiện trong sáu tháng
đầu và thường được duy trì sau đó.
Viêm đốt sống cứng khớp: uống 100-125 mg/ngày, chia làm nhiều lần (25
mg, 4 lần / ngày, thêm 1 lần 25 mg vào lúc đi ngủ nếu cần).
Thoái hóa (hư) khớp: uống 100-150 mg/ngày, chia làm nhiều lần (50 mg, 2-3
lần/ngày, hoặc 75 mg/lần, 2 lần/ngày). Điều trị dài ngày: 100 mg/ngày; không nên
dùng liều cao hơn.
Hư khớp: 100 mg/ngày, uống làm một lần vào buổi tối trước lúc đi ngủ hoặc
uống 50 mg, ngày 2 lần.
14
Viêm khớp dạng thấp: Viên giải phóng kéo dài natri diclofenac, viên giải
phóng nhanh kali diclofenac hay viên bao tan ở ruột: 100-200 mg/ngày, uống làm
nhiều lần (50 mg, ngày 3 hoặc 4 lần, hoặc 75 mg, ngày 2 lần).
Viêm khớp dạng thấp thiếu niên: Trẻ em từ 1-12 tuổi: 1-3 mg/kg/ngày, chia
làm 2-3 lần.
Đau sau mổ: 75 mg, tiêm bắp ngày 2 lần; hoặc 100 mg, đặt thuốc vào trực
tràng ngày 2 lần.
Đau trong ung thư: 100 mg, ngày 2 lần.
Tương tác thuốc
Diclofenac có thể làm tăng hay ức chế tác dụng của các thuốc khác.
Không nên phối hợp diclofenac với
Thuốc chống đông theo đường uống và heparin: nguy cơ gây xuất huyết nặng.
Diclofenac và các thuốc NSAID khác có thể làm tăng tác dụng phụ lên hệ
thần kinh trung ương của kháng sinh nhóm quinolon, dẫn đến co giật.
Aspirin hoặc glucocorticoid: làm giảm nồng độ của diclofenac trong huyết
tương và làm tăng nguy cơ cũng như làm tăng nghiêm trọng tổn thương dạ dàyruột.
Diclofenac làm tăng nồng độ của digoxin trong huyết thanh và kéo dài T1/2