VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THÀNH CÔNG
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THÀNH CÔNG
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 838.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN KIM LIỄU
KHIẾU NẠI VỀ THU HỒI ĐẤT................................................................. 47
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại thu hồi đất ................... 47
3.2. Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại về thu hồi
đất .................................................................................................................... 53
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CT
Chỉ thị
KH
Kế hoạch
MTV
Một thành viên
QĐ
Quyết định
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư còn nhiều bất cập; công tác quản lý,
điều hành của Nhà nước trong việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn
nhiều bất cập, yếu kém, chưa tạo được sự đồng thuận cao của người dân, dẫn đến
khiếu nại, thậm chí khiếu nại đông người, kéo dài, gây mất ổn định về an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến niềm tin của quần chúng nhân dân đối
với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước.
Trước thực trạng khiếu nại, nhất là khiếu nại đông người, vượt cấp liên quan
đến việc thu hồi đất ngày càng tăng và diễn biến phức tạp, trong những năm qua,
Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực trong công tác giải quyết
khiếu nại của công dân. Tuy nhiên, kết quả giải quyết khiếu nại vẫn còn hạn chế và
những hạn chế đó xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu như: Pháp luật về khiếu nại và
các luật chuyên ngành còn mâu thuẫn; cơ chế giải quyết khiếu nại còn rườm rà,
phức tạp, chưa đảm bảo tính hiệu quả; cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại thiếu quan tâm giải quyết khiếu nại của người dân; đội ngũ cán bộ làm
công tác giải quyết khiếu nại còn hạn chế về trình độ, năng lực...
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về
thu hồi đất là yêu cầu bức thiết đặt ra trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
được pháp luật bảo vệ, ngăn vấn ngừa và hạn chế tình trạng khiếu nại đông người,
vượt cấp, tạo sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo thực
1
hiện thắng lợi hai nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay là xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu nhằm đưa ra những luận giải về mặt lý
luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại
hành chính nói chung và giải quyết khiếu nại hành chính về thu hồi đất nói riêng.
Tác giả quyết định chọn đề tài "Giải quyết khiếu nại về thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh
Quảng Ngãi" để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
“ Hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại ở Việt Nam hiện nay”, Luận
văn thạc sĩ của Hoàng Thị Thúy Hà (2001);
“Giải quyết tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai”, Luận văn thạc sĩ
của Nguyễn Thiện Thuật;
“Giải quyết khiếu nại về nhà đất của UBND thành phố Hồ Chí Minh”,
Luận văn thạc sĩ của Huỳnh Thị Tuyết Nhung (2009);
“Giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh Đắk Lắk”, luận văn thạc sĩ
của Thái Minh Phụng;
“Giải quyết khiếu nại về thu hồi đất từ thực tiễn thành phố Cần Thơ”, luận
văn Thạc sĩ luật học của Lê Phong Thành.
“Giải quyết khiếu nại quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Bình Định - 2017” của Lê Văn
Hải.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và riêng biệt
về việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thu hồi đất của cơ quan hành chính Nhà
nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Từ những cơ sở nghiên cứu trên, tôi tiếp thu và kế thừa những thành quả đã có
và trong phạm vi luận văn này, tôi xin được đi sâu vào nghiên cứu vấn đề giải quyết
khiếu nại về thu hồi đất của cơ quan hành chính Nhà nước ở tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại về thu hồi
đất nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này hướng đến mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết
3
khiếu nại về thu hồi đất và trên cơ sở phân tích đánh giá về tình hình giải quyết
khiếu nại về thu hồi đất để chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến khiếu nại và những
bất cập, hạn chế trong giải quyết khiếu nại hành chính về thu hồi đất, từ đó đề xuất
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian là giải quyết khiếu nại
về thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
4.2.3 Giới hạn về phạm vi nghiên cứu về thời gian
Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực
tiễn về việc giải quyết khiếu nại về thu hồi đất từ khi có Luật Đất đai năm 2013 và
các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành từ năm 2013 đến nay.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa lý luận
Qua nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra một hệ thống cơ sở lý luận nhằm cung cấp
cho các nhà quản lý, nhà làm luật và nhà hoạch định chính sách một cách nhìn tổng
quan về các nguyên nhân khiếu nại hành chính và vấn đề giải quyết khiếu nại liên
quan đến thu hồi đất và đề xuất những giải pháp làm giảm thiểu khiếu nại cũng như
nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường, tái định
cư.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Với việc khảo sát thực tiễn và chỉ ra những bất cập, hạn chế và đề xuất
những giải pháp khắc phục cụ thể, đề tài có khả năng áp dụng trên thực tiễn tại tỉnh
Quảng Ngãi, các tỉnh, thành phố khác, nhất là những nơi quỹ đất còn nhiều và có
nhiều dự án đã và đang triển khai thực hiện.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các quan điểm, đường lối của Đảng
cộng sản Việt Nam về pháp chế và xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân; bảo vệ quyền công dân, quyền con người; phát huy dân
chủ; khiếu nại và giải quyết khiếu nại nhất là quan điểm chỉ đạo của Đảng về chính
sách quản lý nhà nước về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai. Đồng thời, luận
văn còn dựa trên những vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật xã hội chủ nghĩa.
5
cạnh sau đây:
- Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt
quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đất;
- Quyết định hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi về nội
dung quản lý nhà nước về đất đai.
- Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện
pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của
người sử dụng đất.
Từ phân tích trên, chúng ta có thể hiểu: Thu hồi đất là quyết định hành chính
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật về đất
đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành vi hành chính vi vi
phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất.
Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013 định nghĩa: Thu hồi đất là việc Nhà
nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.
7
Như vậy, thu hồi đất sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt quyền sử dụng đất
của người sử dụng đất.
Việc thu hồi đất có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng
đều hướng đến hai mục đích:
Thứ nhất, thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước khi
người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến
tài sản của Nhà nước.
Thứ hai, thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi Nhà nước
cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo qui hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm khiếu nại về thu hồi đất
Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011 khái niệm khiếu nại hành chính “là
Khiếu nại về thu hồi đất có các đặc điểm sau đây: Đặc điểm cơ bản của khiếu
nại về thu hồi đất là nó nảy sinh từ mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền-người bị khiếu nại và chủ thể có quyền sử dụng đất-người khiếu nại. Người
bị khiếu nại thường có quyền lực nhất định, có khả năng tác động, gây ảnh hưởng
đến người khiếu nại. Đồng thời, khiếu nại về thu hồi đất bao giờ cũng hàm chứa
những dữ liệu chứng tỏ có sự vi phạm hoặc cho là vi phạm quyền và lợi ích được
pháp luật bảo vệ, cho nên việc khiếu nại không phải là hoạt động mang tính phòng
ngừa mà là việc bảo vệ một cách tích cực quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ
chức.
Khiếu nại về thu hồi đất là một hiện tượng phát sinh phổ biến trong xã hội,
việc làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của khiếu nại sẽ giúp cho cá nhân, cơ quan,
tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền khiếu nại của mình, góp phần phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân.
Khiếu nại về thu hồi đất có các loại sau đây: Điều 204 Luật Đất đai 2013 quy
định “Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất
có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về
quản lý đất đai”. Luật không quy định cụ thể các quyết định hành chính được khiếu
nại.
9
Theo Điều 22, Điều 195, Luật Đất đai nội dung quản lý nhà nước và các thủ
tục hành chính về đất đai quy định bao gồm thủ tục thu hồi đất, cưỡng chế thi hành
quyết định thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Như vậy, có
ba quyết định hành chính sau:
+ Quyết định thu hồi đất;
+ Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất;
+ Quyết định cưỡng chế thu hồi đất (trong trường hợp không chấp hành bàn
giao mặt bằng).
phải sửa chữa, khắc phục hoặc ngăn chặn kịp thời những hậu quả đã và sẽ xảy ra.
Thứ hai, chủ thể giải quyết khiếu nại thu hồi đất là cơ quan hành chính nhà
nước.
Các cơ quan này và cán bộ công chức trong những cơ quan hành chính nhà
nước thực hiện quản lý các lĩnh vực khác nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội trong hoạt động chấp hành và điều hành với việc ban hành các quyết định
hành chính hoặc hành vi hành chính. Khi quyết định hành chính hoặc hành vi hành
chính này bị khiếu nại, thì những người trong các cơ quan này có thẩm quyền, trách
nhiệm giải quyết để đạt được mục tiêu khẳng định quyết định hành chính hoặc hành
vi hành chính là đó là đúng hay sai; nói cách khác, nội dung công dân khiếu nại là
sai hay đúng.
Thứ ba, giải quyết khiếu nại về thu hồi đất phải tuân theo thủ tục do luật
định. Giải quyết khiếu nại là một quá trình bao gồm nhiều khâu, kể từ việc tiếp nhận
và thụ lý đơn khiếu nại cho đến khi ra quyết định giải quyết khiếu nại. Quá trình
này do cơ quan chức năng thực hiện (cơ quan Thanh tra nhà nước và cơ quan
chuyên môn) thực hiện tiếp công dân, thụ lý đơn, thẩm tra, xác minh, tham mưu cho
người có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Theo đó, pháp luật
quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về thu hồi đất được thực hiện theo
quy định của pháp luật về khiếu nại.
Thứ tư, giải quyết khiếu nại về thu hồi đất được đặt trong mối quan hệ giữa
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được quy định cụ thể trong Luật
Đất đai năm 2013, trong đó, có các quy định chung về quyền và nghĩa vụ của người
11
sử dụng đất, quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với từng nhóm sử dụng đất,
từng mục đích sử dụng đất. Giải quyết khiếu nại thu hồi đất về bản chất chính là
giải quyết khiếu nại trong mối quan hệ về việc đòi quyền lợi và yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ đối với người sử dụng đất.
Giải quyết khiếu nại về thu hồi đất góp phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã
hội. Hiện nay, khiếu nại xảy ra nhiều liên quan đến đất đai nói chung và lĩnh vực
thu hồi đất nói riêng. Nội dung chủ yếu là khiếu nại về giá bồi thường, hỗ trợ, bố trí
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng phát
triển kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng… Trong điều kiện phát triển kinh
tế thị trường, khi đất đai trở thành hàng hóa có giá trị kinh tế lớn, các tranh chấp,
khiếu nại liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai càng có chiều hướng gia tăng và
phức tạp hơn. Vi phạm trong quản lý sử dụng đất đai diễn ra ở nhiều nơi trên địa
bàn, gây lãng phí, thất thoát, thiệt hại cho ngân sách nhà nước rất lớn. Thông qua
việc khiếu nại trong lĩnh vực đất đai sẽ đóng góp tích cực vào việc phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực, qua đó tạo môi trường thuận lợi, thu hút đầu tư góp phần phát
triển kinh tế-xã hội. Nếu không giải quyết kịp thời các khiếu nại về thu hồi đất, thì
ngoài việc tác động trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người khiếu nại, còn làm
phát sinh chi phí rất lớn tới việc thu hồi đất để giao cho các nhà đầu tư thực hiện dự
án, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Nhiều dự án bị ngừng trệ, kìm hãm sản xuất,
cản trở kinh doanh, mất cơ hội thu hút đầu tư, làm giảm lòng tin của các nhà đầu
tư, gây thiệt hại về kinh tế.
Giải quyết khiếu nại về thu hồi đất của cơ quan hành chính góp phần nâng
cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước
và hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Thông qua
giải quyết kịp thời phát hiện, uốn nắn, những thiếu sót của cán bộ công chức nhà
nước, nêu cao trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với thực thi nhiệm vụ để đảm
bảo hạn chế tối đa những sai sót, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của
công dân, tổ chức. Qua đó, nâng cao hiệu quả của hoạt động chấp hành và điều
hành của cơ quan hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội
được nâng cao.
13
1.2. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thu hồi đất
bao gồm những vấn đề gì, yêu cầu của người khiếu nại là như thế nào, những căn cứ
mà người khiếu nại đưa ra để chứng minh cho yêu cầu của họ có đúng pháp luật hay
không, đã đầy đủ chưa... Đồng thời, có thể tiến hành việc tiếp xúc sơ bộ đối với
người khiếu nại. Thông thường, người khiếu nại thường cho mình là người bị oan ức,
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm do vậy trong đơn của họ thường không phản
ánh trung thực bản chất của vấn đề hoặc giấu giếm các chứng cứ để làm sai lệch
thông tin, làm lạc hướng sự nhận định của người giải quyết khiếu nại. Do vậy, người
giải quyết khiếu nại trong những trường hợp nhất định, để làm sáng tỏ những nội
dung cơ bản của vụ việc mà mình chưa rõ, cần thiết phải tiếp xúc với đương sự nhằm
khẳng định những nội dung khiếu nại và yêu cầu của họ, qua đó cũng có thể khai thác
thêm phần nào những thông tin liên quan đến vụ việc bị khiếu nại.
Trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm
thần hoặc mắc các bệnh khác và không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì
cha mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột hoặc người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
hoặc người giám hộ là người đại diện cho họ thực hiện việc khiếu nại; nếu không có
người đại diện thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi người đó cư trú cử người
đại diện để thực hiện việc khiếu nại. Người đại diện phải có giấy tờ hợp lệ hoặc xác
nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khiếu nại cư trú để chứng minh với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về việc đại diện hợp pháp của mình, trường hợp Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã cử người đại diện để khiếu nại thì phải có văn bản
nêu rõ lý do, trách nhiệm của người đại diện.
Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất
hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại được thì phải có
giấy ủy quyền có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cho cha, mẹ, vợ,
chồng, con đã thành niên, anh, chị, em ruột hoặc người khác có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại.
Người được ủy quyền chỉ thực hiện việc khiếu nại theo đúng nội dung được
ủy quyền. Việc ủy quyền phải bằng văn bản và có xác nhận của Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi người ủy quyền cư trú.
15
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, cơ quan nhà
16
nước có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý đơn như sau:
Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết và có đủ các điều kiện để
thụ lý thì phải tiếp nhận, thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu
nại biết; trong trường hợp đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người thì có trách nhiệm
hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại.
Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng không đủ điều
kiện để thụ lý giải quyết theo quy định thì có văn bản trả lời cho người khiếu nại
biết rõ lý do không thụ lý.
Đối với đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì cơ quan có
thẩm quyền khi nhận được đơn có trách nhiệm tách nội dung khiếu nại và nội dung
tố cáo để xử lý cho phù hợp.
Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá
thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì Thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp
trên yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc
việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với
người thiếu trách nhiệm hoặc cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại đó. Trong
trường hợp cần áp dụng biện pháp vượt quá thẩm quyền của mình thì kiến nghị cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền để xử lý.
Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết, đơn khiếu nại về
vụ việc đã có quyết định giải quyết định giải quyết lần hai thì cơ quan nhận đơn
không có trách nhiệm thụ lý nhưng có văn bản trả lời, chỉ dẫn người khiếu nại. Việc
chỉ dẫn, trả lời chỉ thực hiện một lần đối với một vụ việc khiếu nại; trong trường
hợp người khiếu nại gửi kèm các giấy tờ, tài liệu là bản gốc liên quan đến việc
khiếu nại thì cơ quan nhận được trả lại các giấy tờ, tài liệu liên quan đó cho người
khiếu nại.
Cơ quan nhà nước nhận đơn khiếu nại do đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
người có quyền, lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người
khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại. Việc gặp gỡ, đối thoại phải tiến hành công
khai, dân chủ, nếu thấy cần thiết có thể mời đại diện tổ chức chính trị-xã hội tham
dự như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên…Đối với việc giải quyết
khiếu nại lần hai, việc gặp gỡ đối thoại trực tiếp chỉ thực hiện khi thấy cần thiết.
18
Trong trường hợp khiếu nại là vụ việc phức tạp, thì người giải quyết khiếu nại lần
hai phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có
quyền và lợi ích liên quan. Kết quả việc gặp gỡ, đối thoại là một trong các căn cứ
làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại.
Việc gặp gỡ, đối thoại phải được lập thành biên bản. Biên bản phải ghi rõ ý
kiến của những người tham gia, tóm tắt kết quả về các nội dung đã đối thoại, có chữ
ký của người tham gia, trường hợp người tham gia đối thoại không ký xác nhận thì
phải ghi rõ lý do. Biên bản này được lưu vào hồ sơ vụ việc khiếu nại.
Việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ, hồ sơ giải quyết khiếu
nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu giữ theo quy định của
pháp luật. Trong trường hợp người khiếu nại tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án
hành chính tại Tòa án thì hồ sơ đó phải được chuyển cho người giải quyết khiếu nại
tiếp theo hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có yêu cầu.
1.2.1.3. Ra quyết định giải quyết khiếu nại
Ra quyết định giải quyết khiếu nại là một hoạt động đặc biệt quan trọng vì
chính thông qua hoạt động này mà các yêu cầu của người khiếu nại được thỏa mãn
toàn bộ hay từng phần hoặc bị bác bỏ.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ban hành quyết định giải
quyết khiếu nại, không dùng thông báo, biên bản cuộc họp hoặc các hình thức văn
bản khác để thay thế quyết định giải quyết khiếu nại.
Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm
ra quyết định; Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; Nội dung khiếu
hợp vụ việc phức tạp thì thì có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày. Nếu ở vùng
sâu vùng xa, vùng khó khăn và hải đảo thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 45 ngày
có thể kéo dài 60 ngày. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, quyết định về giải quyết
khiếu nại sẽ được gửi đến cho người khiếu nại kể từ ngày có quyết định.
Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định này thì có
thể nộp đơn khiếu khiếu nại lần hai lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày hết thời hạn giải
quyết khiếu nại lần đầu mà không được giải quyết. Thời hạn này có thể kéo dài đến
45 ngày ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khan hay hải đảo.
Trong thời hạn quy định mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
không giải quyết thì bị xem xét xử lý kỷ luật. Người khiếu nại có quyền kiến kiến
nghị với cấp trên trực tiếp của người giải quyết khiếu nại để xem xét xử lý kỷ luật
20