VIỆN HÀN LÂM
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM
KHOA
HỌC
XÃ HỘI
VIỆT XÃ
NAMHỘI
HỌC VIỆN KHOA
HỌC
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THẾ NAM
TRƯƠNG QUANG NHÂN
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
ÁP DỤNG
BIỆN
NGĂN
CHẶN
ĐỐI VỚI
TỈNH CÁC
QUẢNG
NGÃI;PHÁP
TÌNH HÌNH,
NGUYÊN
NHÂN
GIẢI PHÁP
HUỲNH THẾ NAM
TRƯƠNG QUANG NHÂN
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
NGƯỜI
BỊ BUỘC TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TỈNH QUẢNG NGÃI; TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
TỪ THỰC
TIỄN
TỈNH
QUẢNG
VÀ GIẢI
PHÁP
PHÒNG
NGỪA NGÃI
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
: 60.38.01.05
Mã số
: 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN ..........5
1.1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo
pháp luật tố tụng hình sự.........................................................................................5
1.2. Khái niệm, các dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài sản ................................8
1.3. Khái niệm, đặc điểm người bị buộc tội trộm cắp tài sản ...............................15
1.4. Nhận thức chung về áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc
tội trộm cắp tài sản ................................................................................................20
Chương 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CÁC
BIỆN PHÁP CHẶN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BUỘC
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI ...............23
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn ............23
2.2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự đối với người
bị buộc tội trộm cắp tài sản tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến năm 2017 ..........37
2.3. Những hạn chế, khó khăn trong áp dụng các biện pháp ngặn chặn đối với
người bị buộc tội trộm cắp tài sản và nguyên nhân của chúng .............................48
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BUỘC TRỘM CẮP
TÀI SẢN ...................................................................................................................59
3.1. Dự báo tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
trong thời gian tới .................................................................................................59
3.2. Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp khác bảo đảm hiệu quả của việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn ..............................................................................62
Kết luận Chương 3 ................................................................................................77
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
:
Cơ quan điều tra
CSĐT
:
Cảnh sát điều tra
ĐTV
:
Điều tra viên
KSV
:
Kiểm sát viên
NXB
:
Nhà xuất bản
THTT
:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển miền Trung, bao gồm 14 đơn vị hành chính
(01 thành phố, 06 huyện miền núi, 06 huyện đồng bằng ven biển và 01 huyện đảo), có
bờ biển dài khoảng 129 km, có tuyến Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua
tỉnh, có Quốc lộ 24 nối Quảng Ngãi với Kon Tum và hạ Lào. Trong những năm gần
đây, cùng với cả nước, Quảng Ngãi đã không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống
xã hội và đang dần trở thành khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, với nhiều
khu kinh tế, khu công nghiệp được hình thành như: Khu kinh tế tổng hợp Dung Quất,
khu đô thị mới Vạn Tường, Khu Công nghiệp VSIP (Singapor), Khu Công nghiệp
Tịnh Phong, Quảng Phú và đặc biệt là Nhà máy lọc dầu Dung Quất, công trình trọng
điểm của quốc gia.
Bên cạnh đó, tình hình ANTT và tình hình tội phạm trên địa bàn diễn biến ngày
càng phức tạp, trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 712 vụ phạm tội các loại. Nổi lên
và đáng chú ý là tình hình trộm cắp tài sản với tính chất, mức độ, hành vi nguy hiểm
cho xã hội ngày càng tăng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong nhân dân. Trong bối
cảnh đó thì hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội trộm cắp tài sản trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi còn rất hạn chế, tỉ lệ điều tra khám phá án thấp, các cơ quan
THTT gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc áp dụng các BPNC đối với người bị
buộc tội trộm cắp tài sản.
Các BPNC là một chế định pháp lí quan trọng trong luật TTHS Việt Nam. Việc
quy định và áp dụng đúng đắn các BPNC là sự đảm bảo cho quá trình phát hiện
nhanh chóng, chính xác; xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, ngăn
chặn người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến quá
trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Đây là vấn đề rất nhạy cảm, đụng
chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam, những vấn đề lí luận và thực tiễn áp dụng trong
lực lượng Cảnh sát nhân dân” của tác giả Trịnh Công Thanh, NXB Công an nhân
dân, Hà Nội, 2005; Luận án tiến sĩ “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam
trong tố tụng hình sự Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của tác giả
Nguyễn Văn Điệp và một số luận văn thạc sĩ như: “Các biện pháp ngăn chặn và giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại Thành phố Hồ Chí
Minh” của Lê Ngọc Tiến, 2003 đã tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến các
BPNC. Ngoài ra, còn có các bài tạp chí đề cập đến nội dung này. Tuy nhiên, các công
trình này chủ yếu nghiên cứu một cách tổng thể trên phạm vi rộng hoặc ở một số khía
cạnh về cách thức, phương pháp, căn cứ áp dụng các BPNC mà chưa nghiên cứu sâu
việc áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản ở từng địa phương
cụ thể và với những đặc trưng riêng của từng địa phương đó.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn
đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” có nội dung
đặc thù, cần được nghiên cứu để làm tiêu chí, cơ sở cho hoạt động áp dụng pháp luật
tại tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời còn là kinh nghiệm áp dụng chung cho các tỉnh khác
trong phạm vi toàn quốc.
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài
sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến năm 2017, nhằm phát hiện những
khó khăn vướng mắc, sơ hở, thiếu sót trong quá trình chỉ đạo, phối hợp, thực hiện
nhiệm vụ của cơ quan THTT tỉnh Quảng Ngãi (đặc biệt là Cơ quan CSĐT các cấp
trong Công an tỉnh), từ đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp
dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản ở địa bàn cấp tỉnh.
Trên cơ sở đó bổ sung thêm những vấn đề lí luận cần thiết góp phần hoàn thiện
tham khảo các công trình nghiên cứu của các tác giả khác, gắn lí luận và thực tiễn,
nhất là thực tiễn hoạt động TTHS của các cơ quan Công an, VKS nhân dân, TAND
tỉnh Quảng Ngãi.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả kết
hợp nhiều phương pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, tham khảo ý
kiến của các cán bộ làm công tác nghiên cứu, ĐTV, KSV, Thẩm phán đang hoạt động
thực tiễn, tham khảo bài viết của các tác giả trước đó để đánh giá, hệ thống hóa hoạt
động áp dụng BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài đã làm rõ những vấn đề lí luận và pháp luật về việc
áp dụng các BPNC trong TTHS của Việt Nam hiện nay; tổng hợp, đánh giá, tìm ra
những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, thiếu sót cũng như các kết quả đạt
được trong quá trình áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; đồng thời, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả việc áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm cắp tài sản theo quy định
của BLTTHS.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện lí
luận và pháp luật TTHS về việc áp dụng các BPNC đối với người bị buộc tội trộm
cắp tài sản, qua đó nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước và các cơ quan THTT trên cả nước nói chung và ở tỉnh Quảng Ngãi nói
riêng.
Ngoài ra, đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu trong các
trường Công an nhân dân và cơ sở đào tạo các cán bộ nghiên cứu, cán bộ trực tiếp
làm nhiệm vụ THTT.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lí luận về áp dụng các BPNC đối với người bị buộc
tội trộm cắp tài sản
biện pháp mà khi áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, các quyền cơ
bản của công dân như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại. Hiện
trong khoa học pháp lí còn nhiều cách diễn đạt về khái niệm BPNC.
Tác giả Trịnh Văn Thanh cho rằng: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng
chế tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng
và các cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định áp dụng
đối với bị can, bị cáo trong trường hợp đặc biệt có thể áp dụng đối với người chưa bị
khởi tố về hình sự nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục gây nguy hại cho xã hội”[20, tr.21].
5
Theo giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Biện pháp
ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người bị truy nã hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc
phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ,
ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở
cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”[19, tr.197].
Từ điển Luật học giải thích BPNC là: Biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng
được áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm
cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành
động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
BLTTHS Việt Nam năm 2003 mặc dù không đưa ra một khái niệm về BPNC,
tuy nhiên tại Điều 79 BLTTHS cũng đã quy định các căn cứ áp dụng các BPNC như
sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi
cần bảo đảm thi hành án, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án có thể áp
dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Trong các loại vi phạm pháp luật thì tội phạm được coi là hành vi vi phạm
pháp luật nguy hiểm nhất. Tính nguy hiểm của nó được thể hiện ở chỗ, tội phạm xâm
phạm vào các quan hệ xã hội có tầm rất quan trọng, gây nên những thiệt hại cho xã
hội ở mức đáng kể. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt nhiệm vụ đấu tranh phòng,
chống tội phạm và các vi phạm pháp luật lên hàng đầu, được tiến hành thường xuyên,
liên tục, khôn khéo áp dụng các biện pháp khác nhau để từng bước loại trừ chúng ra
khỏi đời sống xã hội. Do người thực hiện tội phạm nói chung luôn tìm mọi cách trốn
tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật nên buộc phải áp dụng các BPNC trong quá
trình giải quyết VAHS, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm. Vì vậy, việc áp dụng BPNC bao giờ cũng có vai trò và ý nghĩa sâu
sắc, có thể nói lí do áp dụng các BPNC là:
Trước tiên, nhằm loại bỏ những trở ngại trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ
của TTHS như: không cho tội phạm cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; đảm
bảo việc thi hành án đối với người phạm tội, buộc họ phải chịu hình phạt của pháp luật.
Đây là một trong những mục đích quan trọng của TTHS cần đạt được. Việc điều tra,
truy tố, xét xử sẽ trở nên vô nghĩa khi người phạm tội tránh được hình phạt của pháp
luật. Vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra cho TTHS, như quy định tại Điều 13
BLTTHS, phải là: “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân, trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách
nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội
7
phạm và xử lý người phạm tội”.
Thứ hai, việc áp dụng BPNC tước bỏ những điều kiện thuận lợi, không cho
phép người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, gây nên những nguy hại cho xã hội.
Đây là điều quan trọng nhất trong bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, xã hội, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân. Thực tế chỉ ra nếu không áp dụng BPNC đối với
hàng loạt văn bản pháp luật ra đời. Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày
21/10/1970 là những văn bản pháp lí đầu tiên của nước Việt Nam đã có tác dụng
trong đấu tranh phòng, chống các loại tội xâm phạm sỡ hữu nói chung và trộm cắp tài
sản nói riêng. Nhiều hành vi xâm phạm sở hữu được phát hiện, nhiều vụ trộm cắp tài
sản, nhất là tài sản XHCN đã bị xử lý nghiêm minh, mang lại lòng tin cho nhân dân.
- Tội trộm cắp tài sản theo quy định của BLHS Việt Nam năm 1985
Kế thừa tư duy khoa học và kinh nghiệm thực tiễn, BLHS năm 1985 của nước
ta quy định tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân tại các
Điều 132 và 155 theo hướng ưu tiên bảo vệ tài sản XHCN, trừng trị tội trộm cắp tài
sản XHCN nặng hơn so với tội trộm cắp tài sản của công dân.
- Tội trộm cắp theo quy định BLHS Việt Nam năm 1999
Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng XHCN, các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật đòi hỏi phải xem xét,
rà soát lại toàn diện các tội phạm về kinh tế, về sở hữu để có những sửa đổi, bổ sung
thích hợp cả về dấu hiệu pháp lí cũng như chính sách xử lý nhằm đáp ứng yêu cầu
của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ngày 21/12/1999, tại kỳ họp thứ 6, Quốc
hội khoá X đã thông qua BLHS mới. Tại Điều 138, BLHS mới quy định Tội trộm cắp
tài sản: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị
kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm:
a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d)
Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; e) Chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả
nghiêm trọng;
giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Học viện Cảnh sát nhân dân cho rằng: “Trộm
cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của người chủ tài sản hoặc người được giao trực tiếp
quản lí tài sản, có thể bằng thủ đoạn lén lút”. Tác giả Đinh Văn Quế cũng định nghĩa
tội trộm cắp tài sản trong quyển Bình luận khoa học BLHS như sau: “Trộm cắp tài sản
là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác”. Mặc dù có nhiều cách giải thích
khác nhau nhưng các ý kiến trên đều thống nhất ở dấu hiệu đặc trưng của hành vi trộm
cắp tài sản là: lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lí.
Như vậy, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh chống tội trộm cắp tài sản và lí luận
khoa học hình sự về tội trộm cắp tài sản cũng như quy định của BLHS năm 1999 (sửa
10
đổi, bổ sung năm 2009) đưa ra khái niệm như sau: ‘‘Tội trộm cắp tài sản được quy
định trong Bộ luật hình sự là hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người
khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án
về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
1.2.2. Dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài sản
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, cấu thành tội phạm có một ý nghĩa
quan trọng bởi vì các dấu hiệu pháp lí được quy định trong cấu thành tội phạm có tính
chất đặc trưng, điển hình. Nó cho phép xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời cho phép phân biệt giữa tội phạm này và tội
phạm khác. Mặt khác nó còn là cơ sở để xác định trách nhiệm hình sự và định tội
danh. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta cần phải tìm hiểu các yếu tố cấu thành của tội
phạm này.
Theo quy định của Điều 138 BLHS 1999, các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài
sản thể hiện như sau:
- Khách thể của tội phạm:
Điều 138 nằm trong Chương XIV - Các tội xâm phạm sở hữu. Hành vi phạm tội
khác. Một hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút, bí mật nếu được thực hiện bằng
những hình thức có khả năng làm cho chủ tài sản hoặc người đang quản lí tài sản
không biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra.
Sự “lén lút, bí mật” này chỉ cần đối với người chủ sở hữu tài sản hoặc người
đang quản lí về mặt nghiệp vụ đối với tài sản đó, mà không cần “lén lút, bí mật” đối
với những người khác. Tuy nhiên, đa số những hành vi trộm cắp tài sản, ý thức chủ
quan của người phạm tội cũng vẫn là lén lút, bí mật che giấu hành vi đối với người
khác.
Dấu hiệu chiếm đoạt trong cấu thành tội phạm trộm cắp tài sản của công dân
được quy định là dấu hiệu chiếm đoạt được tài sản. Với quy định như vậy, tội trộm
cắp tài sản chỉ coi là hoàn thành khi người thực hiện hành vi trộm cắp đã chiếm đoạt
được tài sản. Để đánh giá người phạm tội đã chiếm đoạt được hay chưa, đã làm chủ
được tài sản hay chưa phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt.
Dấu hiệu khách quan tiếp theo đó là công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa
điểm, hoàn cảnh phạm tội... nhưng những dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc
trong cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, việc xác định những dấu hiệu này cũng có ý
nghĩa rất quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, hành vi lén lút chiếm
đoạt tài sản của người khác chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản khi tài sản bị chiếm
đoạt có giá trị từ hai triệu đồng trở lên. Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị
dưới hai triệu đồng, thì phải kèm theo một trong ba điều kiện sau: gây hậu quả
12
nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt; đã bị kết án về tội
chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản, nhưng mỗi
lần giá trị tài sản bị xâm phạm dưới hai triệu đồng và không thuộc một trong các
trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng”.
- Mặt chủ quan của tội phạm:
Khoa học luật hình sự chỉ ra rằng, tội phạm là một thể thống nhất giữa hai mặt
khách quan và chủ quan. Nếu như mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của
tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội. Mặt chủ
quan của tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội.
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức cố ý
hoặc vô ý.
Người phạm tội trộm cắp tài sản chỉ có thể thực hiện hành vi với hình thức lỗi
cố ý trực tiếp. Theo khoản 1 Điều 9 BLHS, cố ý trực tiếp là: Người phạm tội nhận
thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó
và mong muốn hậu quả xảy ra.
Trong tội trộm cắp tài sản, động cơ và mục đích vụ lợi luôn là dấu hiệu đặc
trưng. Động cơ và mục đích vụ lợi được hiểu không chỉ trong trường hợp chiếm lấy
tài sản của người khác và biến tài sản đó thành của mình mà còn cả trong trường hợp
chuyển tài sản đó cho người khác hoặc nhằm mục đích khác mà người phạm tội
mong muốn. Nhưng động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc
trong cấu thành tội phạm.
So với Điều 138 BLHS năm 1999 thì Điều 173 BLHS năm 2015 quy định về tội
trộm cắp tài sản có những điểm mới:
Thứ nhất: Do tình trạng trộm cắp các loại tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng
gây tâm lí hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến cuộc sống, tâm lí
của người dân, tính chất manh động của tội phạm trong thời gian qua có xu hướng gia
tăng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân nên nhằm răn đe tội phạm, chấn chỉnh
trật tự xã hội, khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 bổ sung thêm 03 trường hợp đối
đó, nghiên cứu và tìm ra một khái niệm về người bị buộc tội trong pháp luật TTHS là
điều cần thiết để đi đến nghiên cứu khái niệm người bị buộc tội trộm cắp tài sản nói
riêng.
Trong TTHS, người bị buộc tội là người mà cơ quan THTT coi là đã thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Những người này chưa
có bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực kết tội nên họ chưa bị coi là có tội. Đây
là nguyên tắc cơ bản, là điều được khẳng định trong Hiến pháp 2013. Cụ thể, tại
khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “Người bị buộc tội là không có tội
cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Toà án
15
đã có hiệu lực pháp luật”. Họ là những người bị tình nghi phạm tội, có thể đó là
những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong quá
trình TTHS.
Người bị buộc tội không thể là người bị tình nghi phạm tội một cách cảm tính
mà phải là người được quy định rõ theo luật trong các trường hợp cụ thể khác nhau.
Họ tham gia vào tiến trình TTHS và có địa vị pháp lí cụ thể. Theo pháp luật TTHS thì
những người bị tình nghi phạm tội được xác định địa vị pháp lí tuỳ theo các giai đoạn
tố tụng khác nhau, qua đó có các chủ thể được định danh thành các khái niệm cụ thể.
Trước nay chưa có khái niệm chỉ ra được người bị buộc tội mang tính pháp lí, ngay
cả BLTTHS năm 2003 cũng nêu quy định về từng người bị buộc tội khác nhau, quy
định mang tính chỉ định, liệt kê từng chủ thể mà theo luật trong từng trường hợp khác
nhau họ có tên gọi khác nhau trong hoạt động TTHS. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng
“người bị buộc tội gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
BLTTHS năm 2015 có một điều luật giải thích từ ngữ (Điều 4). Trong đó, giải
thích người bị buộc tội “gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ
khoản 1 Điều 4)”. Như vậy, BLTTHS năm 2015 cũng chưa đưa ra khái niệm đầy đủ
về người bị buộc tội, mà chỉ chỉ liệt kê những loại chủ thể bị buộc tội. Vậy ngoài
trong TTHS như sau:
“Người bị buộc tội trong tố tụng hình sự là người bị xác định bởi quyết định tố
tụng của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền với tư cách là người bị bắt, bị tạm giữ, bị
can, bị cáo theo quy định của pháp luật khi có căn cứ cho rằng người đó đã thực hiện
hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định
trong Bộ luật Hình sự”.
Vậy người bị buộc tội trộm cắp tài sản là gì? BLTTHS nước ta chưa đưa ra
khái niệm cụ thể người bị buộc tội trộm cắp tài sản là như thế nào. Tuy nhiên, theo
chúng tôi, người bị buộc tội trộm cắp tài sản cũng có những đặc điểm pháp lí giống
như người bị buộc tội nói chung như đã nêu trên. Người bị buộc tội trộm cắp tài sản
gồm người bị tình nghi thực hiện tội phạm, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo. Tùy vào từng giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án mà người bị buộc tội có
thể được gọi theo những cách khác nhau. Cụ thể, khi có căn cứ xác định rằng người
đó đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì gọi là người bị tình nghi, khi mới bị
bắt giữ người bị buộc tội được gọi là người bị bắt, kể từ thời điểm bị khởi tố bị can,
người bị buộc tội sẽ được gọi là bị can; còn kể từ thời điểm có quyết định đưa vụ án
ra xét xử, người bị buộc tội sẽ được gọi là bị cáo. Ngoài ra, người bị buộc tội trộm
cắp tài sản còn có những đặc điểm riêng theo các dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài
sản. Đặc điểm khác biệt để so sánh giữa người bị buộc tội trộm cắp tài sản đối với
người bị buộc tội nói chung là mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản quy định trong
BLHS. Hành vi khách quan của người bị buộc tội trộm cắp tài sản là lén lút, bí mật
17
chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi này đã được mô tả cụ thể trong mặt khách
quan của các yếu tố cấu thành tội trộm cắp đã nêu trên. Tội trộm cắp tài sản là tội cấu
thành vật chất, vì vậy, tội trộm cắp tài sản chỉ coi là hoàn thành khi người thực hiện
hành vi trộm cắp đã chiếm đoạt được tài sản do người khác quản lí.
Từ những quan điểm, phân tích nêu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm
tích, việc buộc tội của các chủ thể này không ngẫu nhiên, cảm tính mà phải dựa trên
cơ sở pháp luật và thực hiện theo trình tự pháp luật quy định. Trong các giai đoạn tố
tụng khác nhau thì người bị buộc tội trộm cắp tài sản cũng có tên gọi khác nhau.
Người thực hiện hành vi đáng nghi là bất minh nhưng không phải là hành vi có dấu
hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS thì họ không phải là chủ thể bị
buộc tội theo quy định của pháp luật TTHS. Hơn nữa, nếu một người đã thực hiện
hành vi có dấu hiệu của tội phạm nhưng không đủ tuổi, chưa đủ điều kiện đặc điểm
về nhân thân để xác định là chủ thể của tội phạm trộm cắp tài sản theo quy định của
BLHS thì họ không phải là người bị buộc tội trộm cắp tài sản.
Thứ hai, người bị buộc tội trộm cắp tài sản phải là người có hành vi lén lút, bí mật
chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên. Trường hợp tài sản
bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng, thì phải kèm theo một trong ba điều kiện là:
gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt; đã bị kết án
về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm (hành vi này đã được mô
tả mặt khách quan trong phần dấu hiệu pháp lí của tội trộm cắp tài sản nêu trên).
Thứ ba, người bị buộc tội trộm cắp tài sản được xác định là chủ thể trong quan
hệ pháp luật TTHS với tư cách là người tham gia tố tụng.
Xuất phát từ việc bị các quyết định TTHS xác định là người bị buộc tội, họ trở
thành chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS với tư cách là những người tham gia tố
tụng. Đặc điểm này xác định tư cách chủ thể trong TTHS, qua đó cũng xác định được
người bị buộc tội phải có địa vị pháp lí cụ thể, được pháp luật quy định quyền và nghĩa
vụ đối với họ. Người bị buộc tội là đối tượng bị tình nghi phạm tội, bị các quyết định tố
tụng hạn chế một số quyền công dân bình thường như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi
nơi cư trú... nên những người này phải có quyền biết được căn cứ, lí do của việc buộc
phải thực hiện những nghĩa vụ do các quyết định tố tụng đó ban hành. Với tư cách là
người tham gia tố tụng, có địa vị pháp lí cụ thể, người bị buộc tội sẽ được đảm bảo các
quyền con người cơ bản trong điều kiện bị giam giữ, quản thúc và bị đặt vào điều kiện
yếu thế trước phía buộc tội là cơ quan công quyền.
Đặc điểm này cũng chỉ ra việc bị buộc tội được hiểu là đang ở trong tiến trình