ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-—_--_0oo___--—
NGUYỄN THỊ MAI ANH
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO Sự NGHIỆP GIÁO DỤC
TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-—_--_0oo___--—
NGUYỄN THỊ MAI ANH
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Xin trân trọng cảm ơn!
4.1.1.
4.1.
Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự
Danh mục tài liệu tham khảo
89
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
STT
1
2
3
4
5
Bảng
Bảng 3.1
Bảng 3.2
GD
Giáo dục
3
HĐND
Hội đồng nhân dân
Nội dung
Trang
4
KBNN
Kho bạc nhà nước
Số lượng giáo viên tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2015
40
5
KT - XH
Kinh tế - Xã hội
Chất lượng giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2014 - 2015
40
6
NSNN
Ngân sách nhà nước
Chất lượng các kỳ thi tốt nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 2012 - 2015
41
7
TCCN
Trung cấp chuyên nghiệp
Tổng hợp số liệu về sự phát triển các cấp học tỉnh Vĩnh Phúc
Ngân sách địa phương
54
2Cơ cấu
Hìnhchi
3.2thường xuyên cho hoạt động chuyên môn
48
Dự toán chi thường xuyên NSNN cho Giáo dục - Đào tạo tỉnh
Phúc
cấpcủa
họccác
(triệu
đồng)
Phân bổ chỉ tiêuVĩnh
nguồn
thu theo
học phí
trường
học
57
3 Hình 3.3
Cơ cấu chi thanh toán cho cá nhân theo cấp học năm 2015
Quan hệ giữa NSNN cấp chi thường xuyên cho giáo dục và
57
4nguồn
Hình
học3.4
phí công lập giai đoạn 2011 - 2015 tỉnh Vĩnh Phúc
Cơ cấu chi thanh toán cho cá nhân theo khoản mục năm 2015
2011sắm
- sửa
2015
7 Hình 3.7
13
52
2015
Chênh lệch tỷ lệ giữa dự toán và quyết toán chi thường xuyên
Công tác thanh tra, kiểm tra trong sử dụng
8 chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
Bảng 3.13
62 2011 NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
2015
53
55
55
61
MỞ ĐẦU
r
với sự phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đầu tư cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo thì Nhà
nước ta cũng cần phải coi trọng công tác quản lý ngân sách Nhà nước tránh việc sử dụng
nguồn vốn ngân sách không có hiệu quả, làm thất thoát lãng phí nguồn vốn của Nhà nước.
Tuy nhiên, việc quản lý các khoản chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo còn nhiều bất
cập làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động giáo dục đào tạo. Vì vậy, việc tìm ra những
điểm còn hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp khắc phục, phát huy các kết quả đạt được trong
công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển.
9
Xuất phát từ chủ trương, chính sách trên mà Nhà nước ta dần có sự thay đổi về
phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính đối với sự nghiệp thuộc lĩnh vực
GD&ĐT. Bước ngoặt đầu tiên là Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính
phủ, đơn vị sự nghiệp có thu được trao quyền tự chủ về tài chính giúp tháo gỡ cho đơn vị
những khó khăn vướng mắc trong điều hành ngân sách, tự chủ trong chi tiêu từ đó hạn chế
những tiêu cực lãng phí, làm tăng thu, tiết kiệm chi nâng cao thu nhập cho cán bộ, nhân
viên làm việc trong lĩnh vực giáo dục. Tiếp đó là Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày
25/4/2006 của Chính phủ thay thế cho Nghị định 10/2002/ NĐ - CP theo đó đơn vị sự
nghiệp công lập không những được giao quyền tự chủ tài chính mà còn được trao quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía bắc, là khu vực chuyển
tiếp giữa miền núi và đồng bằng. Nguồn thu cân đối của tỉnh còn nhiều hạn chế. Tuy
nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của Giáo dục cũng như được quán triệt đầy đủ sâu
rộng về chủ trương chính sách của Nhà nước, trong thời gian vừa qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã
không ngừng tăng cường chi ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục. Chính vì thế, Giáo
dục của Tỉnh trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Việc sử dụng có hiệu
quả nguồn chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là vấn đề cần thiết và quan trọng.
Hàng năm, các trường được cấp phát kinh phí hoạt động từ nguồn chi thường
+ Phân tích, đánh giá thực trạng, quản lý thường xuyên NSNN và quản lý chi thường
xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
+ Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN và quản lý
chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu: công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo
dục tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Phạm vi thời gian: phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự
nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2011 - 2015; đề xuất giải pháp hoàn thiện
quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020.
4. Những đóng góp khoa học của đề tài
-
Khái quát được thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục
tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây.
-
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN
cho sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn hiện nay, góp phần vào việc nâng cao chất
lượng và hiệu quả phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
và giải quyết các vấn đề xã hội và nó càng quan trọng hơn khi nguồn lực ngân sách bị
thiếu hụt nhưng đòi hỏi các khoản chi đó phải hiệu quả. Các nhà nghiên cứu lĩnh vực quản
lý chi thường xuyên NSNN nói chung, chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự
nghiệp giáo dục nói riêng cũng chứng minh rằng nếu quản lý chi NSNN không hiệu quả sẽ
dẫn đến nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn. Vì vậy, vấn đề quản lý chi thường xuyên
NSNN trở thành đối tượng nghiên cứu phổ biến trong các đề tài khoa học, các sách chuyên
khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ, ...Có thể tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên
quan đến đề tài chi thường xuyên NSNN trên các lĩnh vực như sau:
1
2
Trần Trọng Sơn (2012), Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên của ngân
sách nhà nước qua kho bạc nhà nước quận Cầu Giấy, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường
ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia Hà Nội. Qua đề tài, tác giả đã đi sâu nghiên cứu công tác chi
NSNN qua KBNN quận Cầu Giấy trên cơ sở tiếp cận công tác kiểm soát chi theo yêu cầu
đổi mới quản lý tài chính công và kiểm soát chi tiêu công của các nước tiên tiến nhằm
hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng hiệu quả, đáp ứng yêu
cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý NSNN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các
đơn vị sử dụng NSNN, đồng thời phù hợp xu thế hội nhập quốc tế.
Vũ Minh Thông (2012), Quản lý nguồn thu chi ngân sách nhà nước tại chính quyền cấp xã,
phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Tài chính
Ngân hàng, Trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống
quá các vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách cấp xã.
Tác giả nhận định các khoản thu của ngân sách cấp xã trên địa
1
3
kinh tế thị trường với những nội dung cụ thể: mục tiêu, nguyên tắc, phương thức của quản
lý chi NSNN; quản lý chi NSNN với việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Luận án cũng
đã trình bày một cách khái quát thực trạng quản lý chi ngân sách thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội trên địa bàn tỉnh về hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý chi NSĐP.
Từ đó, rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế cùng với những nguyên nhân của
việc quản lý chi NSNN trong những năm vừa qua. Rút ra 5 bài học có thể nghiên cứu vận
dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi NSNN trong điều kiện hiện nay ở Việt
nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, đề xuất một hệ thống gồm 6 nhóm giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSĐP. Trong đó, giải pháp áp dụng quy trình lập dự
toán và phân bổ ngân sách trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn hướng theo kết quả đầu
ra; hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách.
Nguyễn Thị Minh Thuần (2013), Đổi mới quản lý chi NSNN trong điều kiện kinh tế
thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế Trường Đại học tài chính - Ngân hàng Hà
Nội. Đề tài đã hệ thống hoá và làm rõ thêm được các vấn đề lý luận về NSNN, chi và quản
lý chi NSNN trong nền kinh tế thị trường; mối quan hệ phân cấp quản lý kinh tế và phân
cấp ngân sách, cơ chế quản lý chi NSNN, sự cần thiết phải đổi mới phương thức chi. Đặc
biệt, khẳng định được vai trò của chi NSNN trong nền kinh tế thị trường thông qua việc
điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trên cơ sở trình bày định hướng về phát triển kinh tế - xã hội
và mục tiêu tài chính, ngân sách của Việt Nam đến 2020 và những năm tiếp theo cùng với
những quan điểm đổi mới chi NSNN, tác giả luận án đã nghiên cứu đề xuất một hệ thống
gồm 5 nhóm giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý chi NSNN. Trong đó, giải pháp đẩy
mạnh triển khai phương thức quản lý NSNN theo kết quả đầu ra với những điều kiện và
khả năng áp dụng là cần thiết và phù hợp với việc đổi mới công tác quản lý chi NSNN hiện
nay.
Nguyễn Đức Tuấn (2014), Quản lý ngân sách nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh
Phúc, Luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I. Luận
văn nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước và quản lý thu - chi ngân sách cấp huyện,
luận văn tập trung phân tích làm rõ thực trạng quản lý thu - chi ngân sách cấp huyện trên
được công tác quản lý ở cấp cao hơn.
Các đề tài trên đã đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý chi
NSNN nói chung và chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói riêng. Mỗi công
trình nghiên cứu có nội dung, mục đích và đối tượng nghiên cứu khác nhau, hiện tại vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo
dục tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Trên cơ sở kế thừa kết quả đạt
được trong các công trình nghiên cứu đã công bố, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu quản lý chi
ngân sách thông qua quá trình lập, chấp hành, quyết toán, kiểm soát chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Với đặc thù là một tỉnh trung
du và miền núi nên hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN cũng có nhiều điểm khác
biệt. Do đó, tác giả lựa chon đề tài này vừa mang tính kế thừa, nhưng cũng mang quan
điểm nghiên cứu riêng có của tác giả.
1.2.
Những vấn đề lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự
nghiệp giáo dục
1.2.1.
1.2.1.1.
Khái quát về chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục
Khái quát về ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính thống nhất NSNN là khâu tài chính tập chung giữ vai trò
chủ đạo. Đồng thời, NSNN là khâu tài chính được hình thành từ rất sớm và gắn với sự tồn
tại và phát triển của hệ thống quản lý nhà nước và nền kinh tế hành hoá, tiền tệ. Hiện nay,
phí, lệ phí...) của NSNN là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua
việc phân phối thu nhập quốc dân, được tạo ra trong các hoạt động kinh tế và các khoản
chi cơ bản của Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho sự nghiệp đầu tư phát triển
và tiêu dùng của xã hội. Do đó, về mặt hình thức có thể hiểu: NSNN là toàn bộ các khoản
thu chi của Nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt (Quốc hội) và được thực hiện trong một năm để đảm bảo việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
về nội dung, ẩn sau hình thức biểu hiện ra bên ngoài của NSNN là một quỹ tiền tệ
với các khoản thu và các khoản chi của nó, NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ
tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
về bản chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo
lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở
luật định.
1.2.1.2. Khái quát về chi NSNN
> Khái niệm chi NSNN.
Chi ngân sách một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối
với sự phát triển của nền kinh tế. Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong
quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí bộ máy nhà
nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà nhà nước đảm nhận theo các nguyên
tắc nhất định.
Theo đó, chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực
hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN là quá trình
phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích
sử dụng. Do đó, Chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng
mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của
Nhà nước.
Chi cho quản lý hành chính: là những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của các cơ
quan quản lý thuộc chính quyền các cấp, quốc hội, Hội đồng nhân dân, viện kiểm soát
nhân dân, tóa án nhân dân, chi về ngoại giao...
Chi cho An ninh và quốc phòng: là những khoản chi dành cho các lực lượng vũ trang
và công tác bảo vệ trị an trong nước.
Căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội, chi NSNN được phân thành:
Chi tích lũy: bao gồm các khoản chi xây dựng cơ bản, chi cấp vốn lưu động cho các
doanh nghiệp Nhà nước, chi dự trữ.
Chi tiêu dùng: Chi tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với chi tích lũy bao
gồm: chi quản lý hành chính, chi sự nghiệp, chi bù giá và chi khác
Căn cứ vào yếu tố thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN được phân thành
3 nhóm:
Chi thường xuyên: Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn, bao gồm: chi
lương và các khoản có tính chất tiền lương, cho bổ sung quỹ hưu trí, chi công vụ phí, chi
mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho nghiệp vụ và cho sửa chữa thường xuyên, chi trợ cấp, bù
giá, chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước, chi cho quỹ dự trữ thường xuyên, dự bị phí.
Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài, bao gồm: chi đầu
tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Nhà nước hoặc
các địa phương, chi dự trữ cho mục đích đầu tư, chi viện trợ, đầu tư cho nước ngoài...
Chi trả khác: bao gồm, chi cho vay (cho vay các tổ chức Nhà nước, cho vay nước
ngoài...) và trả nợ gốc (trả nợ trong nước, trả nợ ngoài nước).
1.2.1.3. Khái quát về chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục > Khái
niệm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là các khoản chi tiêu của các cơ
quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách dành cho các cơ sở giáo dục - đào tạo để
duy trì sự hoạt động của cơ sở giáo dục - đào tạo trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ đào tạo
nguồn nhân lực trên địa bàn.
Phân loại chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục bao gồm 4 nhòm chi
NSNN để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của các trường cũng như các cơ quan quản lý
nhằm đảm bảo các trường thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang đầy đủ các đặc điểm của
chi thường xuyên NSNN, cụ thể:
Thứ nhất, chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục khá ổn định. Nhận biết
được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và để thực
hiện các mục tiêu chiến lược phát triển của quốc gia, vì vậy cần phải có khoản đầu tư ổn
định và thích đáng cho ngành giáo dục. Hàng năm, Nhà nước ta phải trích một khoản chi
NSNN để đầu tư cho ngành giáo dục (chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn) bất kể nền
kinh tế quốc gia đang tăng trưởng hay suy thoái.
Thứ hai, nếu xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối
cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN cho sự
nghiệp giáo dục có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu
dùng xã hội. Tuy nhiên khi xét về tác dụng lâu dài thì đây là khoản chi mang tính chất tích
luỹ đặc biệt. Khoản chi này là một trong những nhân tố quyết định tới việc tăng trưởng
kinh tế trong tương lai vì nó không mất đi sau quá trình tiêu dùng mà tạo thành “chất xám”
của con người cho tiêu dùng trong tương lai. Xã hội ngày càng phát triển thì mọi của cải
làm ra, tỷ lệ “chất xám” trong sản phẩm đó càng lớn.
Thứ ba, Phạm vi và mức độ của khoản chi thường xuyên NSNN gắn chặt với cơ cấu
tổ chức của bộ máy Nhà nước, sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng
hoá công cộng. Như chúng ta đã biết, giáo dục là hàng hoá công cộng, trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước hiện nay thì hoạt động giáo dục có sự chăm lo của cả
Nhà nước và người dân, nhờ vậy mà Nhà nước có thể thu hẹp được phạm vi và hạ thấp
mức chi cho lĩnh vực này
1.2.2.
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên điạ bàn
xem xét dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của các đơn vị trực thuộc
tỉnh, dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của các huyện; lập dự toán
chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục tỉnh (gồm dự toán chi thường xuyên
NSNN cho sự nghiệp giáo dục các huyện và dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự
nghiệp giáo dục cấp tỉnh).
Tổ chức làm việc với các đơn vị sử dụng chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp
giáo dục về dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục hàng năm. Đối với
năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, Sở Tài chính tổ chức làm việc, thống nhất với Sở
Giáo dục và đào tạo về dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục; yêu cầu
bố trí lại những khoản chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trong dự toán chưa
đúng chế độ, tiêu chuẩn, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợp với khả năng ngân
sách và chủ trương của Nhà nước về phát triển giáo dục trên địa bàn. Đối với các năm tiếp
theo của thời kỳ ổn định ngân sách, Sở Tài chính chỉ làm việc, thống nhất với Sở Giáo dục
và đào tạo khi có đề nghị. Trong quá trình làm việc, dự toán chi thường xuyên NSNN cho
sự nghiệp giáo dục và phương án phân bổ chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục
còn có ý kiến khác nhau giữa Sở Tài chính với các cơ quan sử dụng NSNN, Sở Tài chính
phải báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định;
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc tổng hợp, lập dự
toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục và phương án phân bổ dự toán chi
thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục ngân sách theo lĩnh vực, nhiệm vụ chi được
phân cấp.
> Tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Đây là quá trình bao gồm toàn bộ các công việc từ khi có quyết định phê duyệt dự
án, đề tài, giao kế hoạch và dự toán ngân sách thực hiện cho đến khi hoàn thành toàn bộ dự
án, đề tài chuyên môn và nhiệm vụ thường xuyên thuộc chi thường xuyên NSNN cho sự
nghiệp giáo dục cấp tỉnh. Quá trình này gồm các công việc sau:
Đôn đốc, hướng dẫn đơn vị chủ trì thực hiện.
Sở Tài chính có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn đơn vị chủ trì thực hiện dự án,