NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG CÁM GẠO LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, MÀU SẮC CƠ THỊT VÀ SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI GAN CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus) - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
^]

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯNG
CÁM GẠO LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ
SỐNG, MÀU SẮC CƠ THỊT VÀ SỰ THAY ĐỔI
HÌNH THÁI GAN CỦA CÁ RÔ PHI
(Oreochromis niloticus)

NGÀNH: THỦY SẢN
KHOÁ: 2002 – 2006
SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐOÀN THỊ HẰNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-2006-


NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯNG CÁM GẠO LÊN SỰ SINH
TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, MÀU SẮC CƠ THỊT VÀ SỰ THAY ĐỔI HÌNH
THÁI GAN CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)

Thực hiện bởi

Đoàn Thò Hằng

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản.

cám gạo cũ đã làm gan cá to hơn bình thường
.

i


ABTRACT
The subject: “Study on the affect of rice bran quality to growth performances,
survival rate, muscle coloration and liver weight of Tilapia”. The experiment was
carried out at the Experiment Farm for Aquaculture of the University of Agriculture and
Forestry during March to May in 2006.
In the experiment, old and fresh rice bran were used at different proportims as
follows:
Treatment C0: 0% old rice bran + 100% fresh rice bran.
Treatment C25: 25% old rice bran + 75% fresh rice bran.
Treatment C50: 50% old rice bran + 50% fresh rice bran.
Treatment C75: 75% old rice bran + 25% fresh rice bran.
Treatment C100: 100% old rice bran + 0% fresh rice bran.
The result of the study shows that:
The nutrient composition of five diets are similar; except the peroxide index
(indication for the oxidized lipid) increased with increased level of old rice bran
inclusion in diets.
Growth performences and survival rates of Tilapia were not significantly
different among treatments (P > 0,05). Thus, old rice bran inclusion did not affect to
survival rates and growth of Tilapia.
Old rice bran inclusion to the diets had an impact on muscle coloration and
flavor of fish fillet of Tilapia.
The rate liver weight also increased with old rice bran inclusion rates. That
means hight peroxide in old rice bran enlarged the liver of Tilapia.


MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC BẢNG
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

i
ii
iii
iv
v
viii
ix

I.

GIỚI THIỆU

1

1.1
1.2

Đặt Vấn Đề
Mục Tiêu Đề Tài

1
1

II.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Đặc điểm về sinh sản
Tập tính sinh sản
Cám Gạo
Tính chất của cám gạo
Giá trò của cám gạo đối với cá
Hạn chế của cám gạo
Tiêu chuẩn cám gạo trên thò trường
Quá Trình Ôi Của Cám Gạo
Một Số Chất Chống Oxy Hoá Tổng Hợp
Tác Hại Của Dầu Mỡ Bò Oxy Hoá

2
2
2
2
3
3
4
5
5
6
6
6
9
9
10
11
13
14


Bố Trí Thí Nghiệm
Chăm Sóc Và Quản Lý
Các Chỉ Tiêu Theo Dõi
Phương Pháp Xử Lý Thống Kê

15
15
15
15
18
19
19
21

IV

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

22

4.1
4.1.1
4.1.2
4.1.3
4.2
4.3
4.3.1
4.3.2
4.4
4.5


KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

40

5.1
5.2

Kết Luận
Đề Nghò

40
40

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Kết quả thí nghiệm
Phụ lục 2: Kết quả xử lý thống kê

v


DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG

NỘI DUNG

Bảng 2.1
Bảng 2.2


Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3
Bảng 4.4
Bảng 4.5
Bảng 4.7

TRANG
3
5
8

9
10
11
11
14
17
17
26
27
29
31
33
36

Hệ số biến đổi thức ăn (FCR)
Tăng trọng trung bình trên mỗi nghiệm thức
Hệ số gan/thể trọng
Cảm quan gan
Cảm quan màu sắc cơ thòt (philê khi cá tươi)
Cảm quan màu sắc cơ thòt (sau khi đã nấu sơ)
Cảm quan mùi cơ thòt cá
Cảm quan mô gan

HÌNH

NỘI DUNG

Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 3.1
Hình 3.2
Hình 3.3
Hình 4.1
Hình 4.2
Hình 4.3
Hình 4.4
Hình 4.5
Hình 4.6
Hình 4.7
Hình 4.8
Hình 4.9

Hình dạng ngoài cá rô phi
Cấu tạo hạt thóc

3
6
23
25
26
31
35
34
35
37
37
38
38
39


I. GIỚI THIỆU
1.1

Đặt Vấn Đề

Cám gạo là một phụ phẩm giàu năng lượng có được từ quá trình xay xát gạo, là
vật liệu phong phú và rẻ tiền ở các nước trồng lúa, từ lâu đã được xem là nguồn nguyên
liệu thức ăn truyền thống trong nuôi trồng thủy sản. Sản lượng cám gạo toàn cầu mỗi
năm thường chiếm từ 10 – 12% khối lượng gạo chưa xay xát, vào khoảng 40 – 45 triệu
tấn. Nguồn nguyên liệu này sẵn có ở khắp mọi nơi từ các nhà máy xay xát, nhất là ở
Châu Á, nơi trồng 90% lúa gạo trên thế giới.
Việt Nam, nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Thái Lan, lại có
diện tích mặt nước thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản thì cám gạo là nguồn thức ăn dồi
dào để phục vụ cho nuôi tôm cá. Tuy nhiên, việc trữ và sử dụng cám gạo làm thức ăn

2.1

Đặc Điểm Sinh Học Cá Rô Phi

2.1.1

Vò trí phân loại

Có 80 loài cá được gọi tên chung là cá rô phi (Tilapia).Vò trí phân loại của cá rô
phi được nuôi chủ yếu ở Việt Nam
Lớp: Osteichthyes
Lớp phụ: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Bộ phụ: Percoidei
Họ: Cichlidae
Giống: Oreochromis
Loài: Oreochromis niloticus
Tên Việt Nam: rô phi vằn, rô phi Đài Loan
2.2.2

Phân bố

Cá rô phi phân bố tự nhiên ở Châu Phi, chúng chỉ không hiện diện ở Đông Nam
Châu Phi. Vào khoảng 1924, cá rô phi được nuôi đầu tiên ở Kenya, sau đó lan rộng khắp
Châu Phi.
Ngày nay việc giới thiệu và di nhập cá rô phi nhằm mục đích thương mại hay thí
nghiệm nên cá rô phi hầu như phân bố khắp thế giới (Nguyễn Văn Tư, 2000).
2.1.3

Đặc điểm hình thái

và lỗ hậu môn

Theo Khuyến Ngư Kiên Giang (2006)
2.1.5

Môi trường sống
Các loài cá rô phi hiện nay nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau.

2.1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-310C, thích hợp nhất là
29-310C, khả năng chòu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8-420C, cá chết rét ở
5,50C và bắt đầu chết nóng ở 420C. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự
tăng trưởng và tăng khả năng nhiễm bệnh (Phạm Thò Tuyết Hoa, 2005)
2.1.5.2 Độ mặn
Cá rô phi là loài cá nước ngọt, được thừa nhận một cách tổng quan là đã phát
triển từ một tổ tiên nước biển (Kirk, 1972; trích bởi Phạm Ngọc Tònh, 2005).


-5-

Có nhiều loài cá rô phi là loài rọâng muối, có khả năng sống được trong môi
trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ mặn từ 0
- 40 0 00 . Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10 - 25 0 00 ) cá tăng trưởng nhanh, mình dày,
thòt thơm ngon (Chen, 1976; trích bởi Ngô Nguyễn Thanh Nhàn, Lê Cao Ngọc Trân,
2005).
2.1.5.3 Hàm lượng oxy hoà tan (DO)
Cá rô phi sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm
lượng chất hữu cơ cao, thiếu oxy. Yêu cầu hàm lượng oxy hòa tan trong nước của cá rô
phi ở mức thấp hơn 5 - 10 lần so với tôm sú.
Hàm lượng DO thấp nhất mà cá rô phi có thể tồn tại là 0,1 mg/l, kể cả cá rô phi

2.1.7

Đặc điểm về sinh trưởng

Trứng cá rô phi thụ tinh được ấp trong miệng cá mẹ ở 280C sẽ nở sau 4 ngày. Cá
mẹ chăm sóc và bảo vệ cá bột còn noãn hoàng cho đến khi cá con có khả năng sống độc
lập (Ballarin và Haller, 1982).
Khoảng 10 - 20 ngày sau khi nở, cá bột sống hoàn toàn độc lập và xuất hiện hiện
tượng ăn thòt lẫn nhau, nghiêm trọng nhất là giữa 10 - 30 ngày sau khi cá ăn ngoài.
Cá bột thích sống vùng nước nông và ấm do đó cá bột tăng trưởng tốt ở ao cạn có
diện tích bề mặt rộng.
Loài cá rô phi vằn (O.niloticus) thích hợp cho nuôi thòt do cá tăng trưởng nhanh
và có khả năng sử dụng tốt thức ăn tự nhiên và bổ sung.
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn (O.niloticus) trong điều kiện sử dụng
thức ăn công nghiệp.
Thời gian nuôi

2
tuần

1
tháng

2
tháng

3
tháng

4


So với các loài cá nước ngọt khác, cá rô phi thành thục sớm. Đối với cá rô phi
đen (O.mossambicus) bắt đầu sinh sản là 3 tháng tuổi, cá rô phi vằn (O.niloticus) và cá
rô phi xanh (O.aureus) thành thục lần đầu tiên là 5 - 6 tháng tuổi và tái phát dục 22 - 35
ngày (Nguyễn Văn Tư, 2004).
Trứng cá rô phi nở sau 4 ngày ở nhiệt độ 280C, thời gian phát triển phụ thuộc
mạnh mẽ vào nhiệt độ và có thể biến động từ 3-6 ngày với nhiệt độ 30 - 200C. Cá bột
sau khi nở còn noãn hoàng, hoạt động yếu nên được cá mẹ bảo vệ trong miệng.


-7-

Cá rô phi có thể đẻ 10 - 12 lần/năm tuỳ theo loài. Sức sinh sản của cá rô phi vằn
6,49 trứng/g cá cái, của cá rô phi đen 10,86 trứng/g cá cái và của con lai của cá rô phi
đen và cá rô phi vằn là 9,52 - 11,20 trứng/g cá cái (Nguyễn Văn Tư, 2004).
2.1.9

Tập tính sinh sản

Bãi đẻ thích hợp nhất là nơi đáy ít bùn, nước sâu khoảng 0,3 - 0,6 m, con đực
thường dùng miệng đào hố hình chảo ở đáy ao, hố to hay hỏ, nông hay sâu là tùy theo cơ
thể mà có sự khác nhau.
Đến giai đoạn sinh sản cá cái bơi đi tìm nơi thích hợp để đẻ, khi cá cái phóng
trứng xuống lỗ thì cá đực cũng phóng tinh trùng theo đám trứng. Sự thụ tinh xảy ra ngoài
cơ thể và trực tiếp trong môi trường nước (Mai Đình Yên, 1992).
Sau khi đẻ trứng cá mẹ hút toàn bộ trứng vào miệng và ấp từ 4 - 5 ngày thì nở.
Trong thời gian ấp, trứng được thông khí bởi hoạt động của miệng và mang con cái. Con
cái sẽ loại đi những trứng hư bằng cách phun toàn bộ trứng ra ngoài loại đi trứng hư và
hút ngược trở lại trứng đã được thụ tinh vào miệng (Nguyễn Tường An, 1988; trích bởi
Nguyễn Thò Bích Tuyền, 2004).

gạo thường sử dụng trong các khẩu phần của cá ăn tạp và cá ăn thực nhiều hơn là cá ăn
động vật. Cám gạo là loại nguyên liệu rẻ tiền có thể dùng cho việc nuôi các loại cá như
rô phi (Oreochromis niloticus), cá tra và cá basa (P. bocourti, P. hypothalmus)…
Độ tiêu hóa cám gạo của cá chép (Cyprinus carpio) tốt hơn cá trắm cỏ
(Ctenopharyngodon idella). Cá lăng (Mytus nemurus) sử dụng protein cám gạo hiệu quả
hơn cá da trơn Mỹ (Ictalurus punctatus).
Độ tiêu hóa các thành phần vật chất khô của cám gạo ở tôm thẻ chân trắng
(Penaeus vannamei) là 40% và độ tiêu hóa protein là 76,4%. Trong khi đó độ tiêu hóa
amino acid trong khoảng 73 – 85%.


-9-

Bảng 2.3 Độ tiêu hoá của cám gạo (%)
Cá chép

Trắm cỏ

Da trơn Mỹ

Cá lăng

Vật chất khô
Protein thô
Chất béo
Chất xơ thô
Carbohydrate
Năng lượng
Arginine
Histidine

75,9

2.2.1.2 Tính chất hoá học
Tính chất hoá học và giá trò dinh dưỡng của cám gạo ở nước ta biến động rất lớn,
chủ yếu phụ thuộc vào kỹ thuật xay xát gạo ta thu được cám gạo mòn có giá trò dinh
dưỡng tương đối cao, giàu protein, béo và ít xơ (Dương Thanh Liêm, 2002).
Cám gạo sau khi chiết tách dầu mỡ có thể bảo quản được lâu hơn và làm gia tăng
lượng các chất dinh dưỡng khoảng 20%, hàm lượng chất béo trong cám gạo giảm còn 1 2%.
Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng của gạo và các phụ phẩm từ gạo (% vật chất khô)
Cám gạo
Tấm gạo
Khử dầu Không khử dầu
Protein thô
15,1
9,0
8,1
Chất béo thô
1,7
7,4
0,6
Tro
16,7
24,7
0,7
Xơ thô
13,7
17,9
0,4
NFE
52,8

Bảng 2.5 Các amino acid thiết yếu của các phụ phẩm từ gạo (g/16g N)

Arginine
Histidine
Isoleucine
Leucine
Lysine
Methionine
Phenylalanine
Threonine
Tryptophan
Valine

Khử dầu
1,1
0,4
0,6
1,1
0,7
0,3
0,7
0,6
0,2
0,8

Cám gạo
Không khử dầu
0,9
0,3
0,5

0,4
0,1
0,8

Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)
Cám gạo chứa một lượng lớn phosphorus dưới dạng phytate từ 3 - 5%. Hàm
lượng phosphorus chiếm khoảng 0,79% trong cám gạo khử dầu và chỉ có 25% có giá trò
sử dụng đối với cá chép (Cyprinus carpio) và 19% đối với cá hồi (Salmo gairgneri). Cám
gạo khử dầu và không khử dầu có liên quan đến kẽm, sắt và đặc biệt cả hai đều rất giàu
vitamine.
2.2.2

Giá trò của cám gạo đối với cá

Cám gạo thường được sử dụng trong khẩu phần của cá ăn thực vật và cá ăn tạp
nhiều hơn cá ăn động vật. Chúng là nguồn nguyên liệu không đắt tiền có thể dùng cho
việc nuôi các loại cá đơn giản như cá rô phi (O.niloticus), cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon
idella), cá vàng (Carassius auratus)…
Cám gạo thường được dùng trong các khẩu phần thí nghiệm với hàm lượng từ 1070%. Cá chép được dùng cám với hàm lượng cao nhất, cá măng biển và cá đối xám có
hàm lượng cám gạo thấp nhất.
2.2.3

Hạn chế của cám gạo

Một điều cần lưu ý trong sử dụng cám gạo là lượng chất béo trong cám gạo rất
cao (12-14%), chúng nhanh chóng tạo thành các acid béo tự do do sự gia tăng hoạt lực
của enzyme lypolytic có sẵn trong cám gạo. Các acid béo trong dầu cám phần lớn là
không no, nên dễ bò oxy hoá, làm giảm giá trò dinh dưỡng và tính ngon miệng của gia
súc, do vậy không nên dự trữ cám gạo quá lâu (không nên quá 15 ngày). Có thể hạn


35
Tôm
10
Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)
2.2.4

Gạo/tấm (%)
10
50
60
20

Tiêu chuẩn cám gạo trên thò trường

Thái Lan, nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới đã có những tiêu chuẩn về các
loại cám gạo như sau.


- 12 -

Bảng 2.7 Tiêu chuẩn cám gạo của Thái Lan trên thò trường
Loại cám

Độ ẩm
tối đa

Protein
tối thiểu

Chất béo

14

Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)
Ở Đức còn nghiêm khắc hơn với các điều luật về các phụ phẩm của thóc và
không hề đề cập đến vỏ trấu như là một thực liệu. Việc sử dụng chúng là bất hợp pháp,
kể cả trộn chung với khoáng chất.
Bảng 2.8 Tiêu chuẩn của phụ phẩm thóc quy đònh bởi luật lệ về thực liệu ở Đức

Loại cám
Cám gạo vàng
Cám gạo vàng (nồng
độ đá vôi thấp)
Cám gạo
Cám gạo khử dầu
Cám gạo trắng
Cám gạo trắng (nồng
độ đá vôi cao)
Mầm thóc
Bột mầm thóc (phần ly
trích)
Bột mầm thóc (thêm
dầu)
Bánh mầm thóc

Độ ẩm

Protein
thô

Chất

-

12,5
12,5

1,7
1,7

3,0
3,0

3,0

13,0
13,0
13,0
13,0

-

-

12,5
8,0
-

1,25
1,7
0,6
1,2


4,0

-

1,0

-

13,0

23,0

-

5,0

-

1,0

-

Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)
2.3

Quá trình ôi của cám gạo

Theo Metzlen D.E, 1997; trích bởi Thái Thò Loan, 2004 thì quá trình ôi của cám
gạo xảy ra theo qui trình sau.

hiệu hoá các gốc tự do bằng cách ngăn cản quá trình tái tạo nó. Phần lớn các chất này
đếu có cấu tạo gồm một nhân thơm với nhiều nối đôi tiếp cách, đồng thời có mang một
nhóm hydroxy hoạt động, điển hình cho loại chất này là BHA (Butyl hydroxy anisol) và
cơ chế tác động chống oxy hoá của nó như sau.

BHA phản ứng với gốc tự do R để ổn đònh ở dạng phân tử RH. Đồng thời, chính
BHA trở thành gốc tự do (phân tử mang một điện tử cô lập). Tuy nhiên, điện tử cô lập
này lại không linh động như những gốc tự do khác nhờ cơ cấu các vân đạo pi của nhân
thơm. Do đó, nó không thể tham gia vào phản ứng oxy hoá bình thường như gốc tự do R
nên sự oxy hoá bò gián đoạn.
Tất cả các chất chống oxy hoá tự nhiên hay tổng hợp đều có cơ chế tác động
tương tự như thế.
Như chúng ta đã biết hầu hết các chất chống oxy hóa (BHA, BHT, Ethoxyquin,
vitamine E,…) đều là những chất kỵ nước (hydrophobic). Trong khi những gốc tự do là


- 15 -

những chất ưa nước (hydrophilic) và để cho hai nhóm chất này có thể phản ứng được với
nhau, một chất tác dụng bề mặt (surfactant) sẽ giúp giải quyết vấn đề này.
Chẳng hạn trong chế phẩm của một chất chống oxy hóa thương mại của hãng
Kemin có tên endox có cấu tạo gồm một hạt Calcium silicate đóng vai trò của một chất
mang, bên ngoài được áo bởi một lớp hóa chất chống oxy hóa nhân tạo như BHA, BHT,
Ethoxyquin, chất tạo phức EDTA và mono, doglycerides đóng vai trò chất hoạt động bề
mặt.
BHT, BHA, Ethoxyquin, EDTA và
monoglyceride, diglyceride
Calcium silicate

Bảng 2.9 Ảnh hưởng chất chống oxy hóa đến sự phân hủy các vitamine A và E


- 16 -

Mang bò phù.
Cá giảm ăn, chậm tăng trưởng, tỷ lệ tử vong cao.
Cá chép ăn dầu mỡ bò ôi dầu dẫn đến bệnh “sekoke” với biểu hiện tăng trưởng
chậm, cơ thoái hoá và tỷ lệ chết rất cao (Watanabe và ctv., 1966), trên cá hồi tỷ lệ chết
này có thể lên đến 70%.
Cá ăn dầu mỡ bò ôi dầu để lại mùi khó chòu trên thòt cá do đó làm giảm giá trò
của sản phẩm.


- 17 -

III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1

Thời Gian Và Đòa Điểm Nghiên Cứu

Đề tài được tiến hành từ 31/3/2006 đến 14/5/2006. Đề tài được thực hiện tại Trại
thực nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
Thí nghiệm nghiên cứu chất lượng cám gạo bò ôi dầu đến sự sinh trưởng, tỷ lệ
sống, màu sắc cơ thòt và hình thái gan của cá rô phi (Oreochromis niloticus).
3.2

Vật Liệu Và Trang Thiết Bò

3.2.1

Đối tượng nghiên cứu

Nguyên liệu làm thức ăn thí nghiệm gồm: Cám gạo cũ, cám gạo mới, bột cá,
bánh dầu đậu nành, tinh bột khoai mỳ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status