BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH TRƯỞNG
CỦA RỪNG TRÀM (Melaleuca cajuputi) TRÊN ĐẤT THAN
BÙN TẠI VQG U MINH HẠ, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH TRƯỞNG
CỦA RỪNG TRÀM (Melaleuca cajuputi) TRÊN ĐẤT THAN
BÙN TẠI VQG U MINH HẠ, TỈNH CÀ MAU
Ngành: Lâm Nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
i
TÓM TẮT
Đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của rừng Tràm
trên đất than bùn tại VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau” trong khoảng thời gian từ
tháng 2/2011 - 7/2011.
Đề tài được tiến hành bằng việc điều tra đo đếm tất cả cây thân gỗ có D1.3 ≥
8cm trên 10 ô tiêu chuẩn, diện tích mỗi ô là 500m2 (20m x 25m), giải tích thân cây
nhằm xác định tuổi, hình số thân cây. Trong ô tiêu chuẩn tiến hành lựa chọn 2 ô tiêu
chuẩn điển hình cho 2 tiểu khu điều tra, vẽ 2 trắc đồ David & Richards, diện tích
trắc đồ là 200m2 (10m x 20m) .
Kết quả thu được như sau:
(i) Về quy luật phân bố
* Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/ D1.3)
Phân bố số cây theo cấp đường kính của rừng Tràm tự nhiên trên đất than bùn
tại khu vực nghiên cứu có dạng phân bố 1 đỉnh lệch trái với hệ số biến động
Cv=28.6%. Số cây tập trung chủ yếu ở cỡ kính từ 11 đến 15cm chiếm 61.9%
Phương trình cụ thể:
N = - 3900.83 + 4419.49.Ln(D1.3) – 1642.6.Ln(D1.3)2 + 201.11.Ln(D1.3)3
* Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/ Hvn)
Phân bố số cây theo cấp chiều cao của rừng Tràm tự nhiên trên đất than bùn tại
khu vực nghiên cứu là phân bố có dạng một đỉnh lệch phải, các cây tập trung nhiều
ở cấp chiều cao từ 11.5 – 14.5m chiếm 83% tổng số cây đo đếm trong các ô điều
tra. Hệ số biến động về chiều cao Cv = 11.1 %.
Phương trình cụ thể:
Ln(N) = 410.99 – 133.81.Hvn + 16.01.Hvn2 – 0.8305.Hvn3 + 0.015785.Hvn4
* Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/ D1.3)
Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính của rừng Tràm tự nhiên trên đất than
bùn tại khu vực nghiên cứu không đồng đều, trữ lượng tập trung nhiều nhất ở cấp
- Tương quan giữa chiều cao với đường kính 1.3m (Hvn/D1.3)
Hvn = 0.888292 + 4.80569.ln (D1.3)
với r = 0.99
- Tương quan giữa đường kính tán với đường kính 1.3m (Dt/D1.3)
Dt = 1.85565 + 0.00186229.D1.32
với r = 0.97
(iii) Độ tàn che
Độ tàn che trung bình trong khu vực được xác định thông qua việc vẽ trắc đồ
David & Richards trên 2 ô tiêu chuẩn có diện tích 200m2 là 0.39.
iii
MỤC LỤC
TRANG
LỜI CẢM ƠN
i
TÓM TẮT
ii
MỤC LỤC
2.1.2. Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam
6
2.2. Sinh trưởng rừng
10
2.2.1. Nghiên cứu sinh trưởng rừng trên thế giới
10
2.2.2. Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng cây rừng ở Việt Nam
13
2.3. Đặc điểm đối tượng và khu vực nghiên cứu
17
2.3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
17
2.3.1.1. Đặc điểm hình thái
17
2.3.1.2. Đặc điểm phân bố và sinh thái
2.3.2.4. Các phân khu chức năng
23
iv
2.3.2.5. Địa hình - Đất đai, khí hậu thuỷ văn
24
2.3.2.6. Dân sinh kinh tế
25
2.3.2.7. Đa dạng sinh học
25
2.3.1.8. Tài nguyên thủy sản
26
Chương 3: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
27
28
3.4.2. Nội nghiệp
29
3.4.2.1. Tính các đặc trưng mẫu
29
3.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng
31
3.4.3. Độ tàn che
34
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
35
4.1. Mô hình hóa các quy luật phân bố
35
4.1.1. Phân bố số cây theo cấp đường kính tại 1.3m (N/D1.3)
35
v
4.2.7. Tương quan giữa đường kính tán và đường kính tại 1.3m
55
5.3. Độ tàn che của rừng
57
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
58
5.1. Kết luận
58
5.1.1. Về quy luật phân bố
58
5.1.2. Về quy luật sinh trưởng
59
5.1.3. Độ tàn che
Phụ biểu 7: Tương quan giữa chiều cao vút ngọn với tuổi (H1.3/ A)
XII
Phụ biểu 8: Tương quan giữa thể tích với tuổi (V/A)
XIII
Phụ biểu 9: Tương quan giữa trữ lượng với tuổi (M/A)
XIV
Phụ biểu 10: Tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang
ngực
XV
Phụ biểu 11: Tương quan giữa đường kính tán và đường kính 1.3m
XV
Phụ biểu 12: Trắc đồ Davis & Richards rừng Tràm tự nhiên trên đất than
bùn
XVII
Phụ biểu 13: Tọa độ các ô tiêu chuẩn và vị trí các ô tiêu chuẩn
Phụ biểu 14: Một số hình ảnh ngoại nghiệp
Dt
Đường kính tán (m)
Dt_lt
Đường kính tán lý thuyết (m)
Dt_tn
Đường kính tán thực nghiệm (m)
Hdc
Chiều cao dưới cành của cây (m)
Hvn
Chiều cao vút ngọn (m)
H_tn
Chiều cao thực nghiệm (m)
H_lt
Chiều cao lý thuyết (m)
Ln
QLBVR
Quản lí bảo vệ rừng
r
Hệ số tương quan
R
Biên độ biến động
vii
R2
Hệ số xác định mức độ tương quan
S
Độ lệch tiêu chuẩn
SK
Hệ số biểu thị cho độ lệch của phân bố
Sy/x
Bảng 4.2. Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiêm (N/D1.3)
36
Bảng 4.3. Kết quả tính toán phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3) của rừng
Tràm trên đất than bùn
37
Bảng 4.4. Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) của rừng Tràm trên đất than
bùn và các đặc trưng mẫu
38
Bảng 4.5: Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm (N/Hvn)
39
Bảng 4.6. Kết quả tính toán phân bố số cây theo cấp chiều cao
40
Bảng 4.7: Kết quả thử nghiệm một số hàm toán học mô tả mối tương quan giữa
đường kính với tuổi (D1.3/A)
42
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu tương quan giữa D1.3 và A
43
51
Bảng 4.16: Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm
53
Bảng 4.17: Các chỉ tiêu biểu thị tương quan giữa Hvn và D1.3
54
Bảng 4.18: Kết quả thử nghiệm một số hàm toán học mô tả mối tương quan giữa
D1.3 và Dt
55
Bảng 4.19: Các chỉ tiêu biểu thị tương quan giữa Dt và D1.3
56
ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ VQG U Minh Hạ
22
Hình 4.1. Đồ thị biểu diễn phân bố N/D1.3 từ các hàm thử nghiệm
36
50
Hình 4.9: Biểu đồ phân bố trữ lượng theo cấp kính D1.3 của rừng Tràm trên đất than
bùn (M/D1.3)
52
Hình 4.10: Tương quan giữa Hvn và D1.3 của loài Tràm trên đất than bùn tại VQG U
Minh Hạ
54
Hình 4.11: Tương quan giữa Dt và D1.3 của loài Tràm trên đất than bùn tại VQG U
Minh Hạ
56
x
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một tài nguyên thiên nhiên quí giá, là một bộ phận của môi trường
sống. Nó có vai trò quan trọng trong việc hấp thụ nhiệt, điều hòa khí hậu, cân bằng
nhiệt trên trái đất, bảo vệ nguồn nước, ngăn cản xói mòn rửa trôi. Ngoài những
chức năng trên rừng còn là nguồn cung cấp củi gỗ, lâm sản, … phục vụ cho nhu
cầu đời sống con người. Vì vậy nhà nước luôn coi trọng công tác bảo vệ, xây dựng
và phát triển rừng.
Trong những năm qua đặc biệt là sau khi thống nhất, cả nước bước vào giai
đoạn xây dựng đất nước. Rừng đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân,
triển chúng trong tương lai.
2
Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần
thể thực vật rừng theo không gian và thời gian. Phân bố của quần thể thực vật trong
không gian biểu hiện ở hai khía cạnh: theo chiều thẳng đứng (tính thành tầng, tầng
phiến) và theo chiều nằm ngang của rừng (trạng thái khảm). Sự tổ hợp ấy là có
nguyên nhân, nghĩa là có sự chọn lọc mang tính quy luật của chúng trong tự nhiên.
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên được các tác giả trong và ngoài nước
đề cập đến từ những năm đầu thế kỷ XX. Những nghiên cứu về cấu trúc bước đầu
chỉ là định tính và mô tả thì nay đã chuyển sang nghiên cứu định lượng chính xác
với sự ứng dụng của toán thống kê và tin học. Định hướng nghiên cứu cấu trúc
sinh trưởng và sản lượng rừng đã được các nhà khoa học khái quát lại dưới dạng
mô hình toán học từ phức tạp đến đơn giản, nhằm định lượng hóa các quy luật của
tự nhiên, nhờ đó đã giải quyết được nhiều vấn đề trong kinh doanh rừng, đặc biệt
là trong lĩnh vực lập biểu chuyên dụng phục vụ cho công tác điều tra và dự đoán
sản lượng cũng như xây dựng hệ thống các biện pháp kinh doanh, nuôi dưỡng và
làm giàu rừng cho từng đối tượng cụ thể.
Tuy nhiên, đối tượng rừng tự nhiên rất đa dạng, phong phú và phức tạp về tổ
thành loài cây, tầng tán. Mỗi vùng địa lý khác nhau hình thành nên một kiểu rừng
có những đặc điểm riêng, cho nên vấn đề nghiên cứu về cấu trúc còn gặp rất nhiều
khó khăn, trở ngại. Vì vậy cấu trúc rừng vẫn là một trong những nội dung vô cùng
quan trọng đối với các hệ sinh thái rừng tự nhiên cần được quan tâm nghiên cứu.
Cấu trúc rừng bao gồm: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ, cấu trúc tuổi, cấu
trúc mật độ và một số chỉ tiêu cấu trúc khác như:
Tùy theo từng mục đích mà các tác giả đã nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm
phần theo các phương pháp khác nhau. Một số tác giả đã nghiên cứu vị trí của cây
có đường kính bình quân. Đối với lâm phần thuần loài đều tuổi, một tầng, Weise
4
xác định đường kính bình quân là cỡ đường kính của cây nằm ở vị trí thứ 57.5%
tính từ cỡ nhỏ trong cột số cây (ni) từ số liệu điều tra đo đếm.
Schiffel là tác giả đầu tiên nghiên cứu về phân bố số cây theo cấp đường kính
trung bình trong lâm phần rừng cây lá rộng và biểu hiện chúng theo phân bố giảm
của số cây. Phương pháp xác định phần trăm số cây trong sự tương quan với cấp
đường kính, theo đó tác giả đã nhận được sự phù hợp với chỉ tiêu điều tra rừng (dẫn
theo Phạm Phan Hòa, 2010).
Giáo sư A.V.Tiurin (1945) đưa ra tương quan số cây phân theo cấp đường
kính từ nhỏ đến lớn và cũng chỉ ra được sự phân bố đó là ổn định trong lâm
phần. Và ông còn chỉ ra rằng nó không phụ thuộc vào loài cây, cấp lập địa và độ
dày của lâm phần.
Giáo sư N.V.Tretiakov đã đi đến kết luận quy luật cấu trúc của những phần tử
rừng thường xuyên mang những đặc điểm đặc trưng hiện tại, không phụ thuộc vào
tuổi rừng, loài cây, điều kiện sinh trưởng thậm chí điều này cũng được chỉ ra đúng
ngay cả lâm phần phức hợp và hỗn loài (dẫn theo Tô Quang, 2008).
Năm 1968, Assmann định nghĩa: “Một lâm phần hay một rừng cây là tổng thể
các cây cùng sinh trưởng và phát triển trên cùng một diện tích tạo thành một điều
kiện hoàn cảnh nhất định và có một cấu trúc bên ngoài cũng như bên trong, khác
biệt với diện tích rừng khác…”. Như vậy một rừng cây hay một lâm phần trên một
diện tích đất sẽ được hình thành khi có đủ số lượng cá thể cây, tạo nên một tầng tán
cũng như độ tàn che và những điều kiện hoàn cảnh rừng rất ổn định nào đó.
Để mô tả cho cấu trúc ngoại mạo và thành phần loài cây, sử dụng phương pháp
vẽ biểu đồ trắc diện của David & Richards. Ở vùng nhiệt đới, cho đến ngày nay
ngoài nước quan tâm nhưng các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng nhiệt đới thì
còn nhiều hạn chế.
Năm 1964, Lê Viết Lộc trong cuốn “Bước đầu điều tra thảm thực vật trong
khu rừng nguyên sinh Cúc Phương” ông cùng các cộng tác viên trong khi điều
tra các loại hình ưu thế trong loại rừng này, ông đã dùng một số chỉ tiêu khác
ngoài số lượng cá thể cây để tính sinh khối trên diện tích điều tra như chiều cao,
diện ngang… để tính toán độ ưu thế của loài. Ông là người đầu tiên đề ra một số
tiêu chuẩn và chỉ tiêu để phân biệt “loại hình ưu thế” trong kiểu rừng kín thường
xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Cúc Phương. Ngoài ra còn có nghiên cứu của Nguyễn
6
Tiến Bân về cấu trúc của rừng Cúc Phương trong cuốn “Cấu trúc sinh thái trong
rừng Cúc Phương”.
Năm 1965, Trần Ngũ Phương và những cộng tác đã thu thập được khá nhiều
tài liệu trên những vùng địa lý khác nhau ở miền Bắc Việt Nam và cho công bố tập
“Bước đầu nghiên cứu rừng gỗ miền Bắc Việt Nam”.
Năm 1974, Đồng Sĩ Hiền khi lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho
rừng gỗ hỗn loài ở miền Bắc nước ta, tác giả đã nghiên cứu phân bố đường kính,
phân bố chiều cao và phân bố của các nhân tố hình dạng thân cây. Qua các kết quả
nghiên cứu, tác giả đã rút ra kết luận: quy luật cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài
nước ta có dạng phân bố giảm theo đường kính, dạng phân bố nhiều đỉnh theo chiều
cao và sự phân bố của các chỉ tiêu hình dạng f0.1 và f1.3 của các loài cây trong rừng
tự nhiên hỗn loài có dạng phân bố tiệm cận với phân bố chuẩn và các quy luật này
khác hẳn so với rừng thuần loài đều tuổi.
Năm 1978, Thái Văn Trừng khi nghiên cứu về kiểu rừng kín thường xanh mưa
ẩm nhiệt đới nước ta, tác giả đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như tầng vượt tán,
tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết. Tác giả đã vận
dụng và có sự bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt của David và Richards, trong
tiêu chuẩn có diện tích từ 0.25ha đến 1ha trong đó các cây có D1.3 ≥ 1cm trở lên
được đo đếm về D1.3, Hvn, Dt, … Cự ly cấp kính là 4cm, chiều cao là 2m, cấp tiết
diện ngang là 0.025m2. Trong xử lý tính toán số liệu nghiên cứu theo xu hướng hiện
nay, tác giả dùng phương pháp toán học để tiếp cận vấn đề và định lượng hóa quy
luật phân bố bằng các mô hình toán học cụ thể, sau đó ông xây dựng mô hình có
cấu trúc chuẩn.
Cũng theo Nguyễn Văn Trương (1984) các công trình “Một số biện pháp lâm
sinh trong thiết kế kinh doanh rừng tự nhiên hỗn giao lá rộng”; “Nghiên cứu về cấu
trúc phục vụ công tác khai thác nuôi dưỡng” đã đề xuất các mô hình cấu trúc chuẩn
làm căn cứ cho khai thác và nuôi dưỡng rừng.
Năm 1986, Nguyễn Ngọc Lung cùng các cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng, tác giả đã tổng kết những quy luật khí hậu vùng
Thông và đã xây dựng bản đồ phân hạng đất trồng rừng, làm cơ sở cho việc đề xuất
các biện pháp kinh doanh. Về mặt cấu trúc của rừng Thông ba lá, tác giả đã sơ kết
trên những cơ sở dữ liệu lớn, đã đo đạc trên những ô tiêu chuẩn có kích thước khác
8
nhau từ 1000m2 – 10000m2 đều thấy sự phân bố số cây theo cỡ đường kính, chiều cao
theo thời gian và không gian, đồng thời xây dựng các phân bố đỉnh của hàm Pearson
cho số cây theo cỡ kính. Quy luật chỉ tồn tại một tầng phiến, tiêu biểu cho những lâm
phần đều tuổi. Quy luật phân bố theo đám trên mặt đất theo cách mọc, điểm này có
liên quan đến quy cách khai thác, tái sinh lại, và điều chỉnh mật độ trong nuôi dưỡng
nhằm nâng cao năng suất rừng trong tương lai (dẫn theo Tô Quang, 2008).
Trần Văn Con (1990) đã sử dụng mô hình Weibull để mô phỏng cấu trúc số
cây theo cấp đường kính (N/D1.3) của rừng khộp và đã cho rằng khi rừng còn non
thì phân bố có dạng giảm, và khi rừng càng lớn thì càng có xu thế chuyển sang phân
bố đỉnh và lệch dần từ trái sang phải. Đó là sự biến thiên về lập địa có lợi hay không
có lợi cho quá trình tái sinh.
điểm lâm sinh học và trữ lượng rừng…, các tác giả đã đề xuất ra các chỉ tiêu phân
loại các trạng thái rừng tự nhiên áp dụng rộng rãi trong công tác điều tra quy hoạch
và điều chế rừng và đề xuất những biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiệu quả cho từng
trạng thái rừng.
2.2. Sinh trưởng rừng
2.2.1. Nghiên cứu sinh trưởng rừng trên thế giới
Theo V.Bertelanfey, Sinh trưởng là sự lớn lên của cơ thể thông qua sự đồng
hoá. Như vậy sinh trưởng của cây rừng và của lâm phần là kết quả của quá trình
đồng hoá những nguồn năng lượng của môi trường ngoài hoàn cảnh sinh thái rừng,
dưới ảnh hưởng của các quy luật nội tại cũng như các yếu tố bên trong và bên ngoài
của nó. Về phương diện toán học, Sinh trưởng của cây rừng được hiểu như một hàm
số phụ thuộc vào nhiều biến số: Tuổi cây (A), các đặc trưng về nhiệt độ (TT), lượng
mưa (VL), độ ẩm (W), Lượng bức xạ (BX), dinh dưỡng, khoáng trong đất (NPK),
mật độ của rừng (N)… và được biểu diễn dưới dạng phương trình:
Y = f (A, TT, VL, W, BX, NPK, N...)
Trong đó f là dạng phương trình thích hợp được xác định bởi các phương
pháp thống kê và phù hợp với đặc tính sinh học cây rừng. Nếu như đồng nhất các
yếu tố hoàn cảnh thì tham số trên chỉ còn phụ thuộc vào tuổi A.
Cho đến nay các nhà khoa học Lâm nghiệp trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu
với sự ứng dụng rộng rãi thống kê toán học, để tìm ra hàm toán học thích hợp cho
10
việc mô tả quá trình sinh trưởng của các loài cây và các loại rừng ở các vùng sinh
thái khác nhau trên các châu lục.
Tuy nhiên các hàm toán học hay các hàm sinh trưởng được tìm ra chỉ thích
hợp với một số loài cây ở một vùng sinh thái cụ thể nào đó, với các loài cây khác
nhau ở các vùng sinh thái khác nhau, các hàm toán học này có phù hợp hay không
[
− a 2. A
a0
2
)
]
( A)
]
]
Trong đó:
Y: Là đại lượng sinh trưởng như: Đường kính và chiều cao.
m: Giá trị cực đại có thể đạt được của Y.
a0, a1, a2: Các tham số của phương trình.
A: Tuổi của cây rừng hay lâm phần.
e: Số mũ tự nhiên Neper (e = 2.7182….).
Trong các hàm tăng trưởng đã trình bày ở trên, có thể coi hàm Gompertz là
hàm cơ sở ban đầu cho việc nghiên cứu quá trình sinh trưởng cây rừng nào đó, tiếp
tục phát triển tiếp theo các hàm sinh trưởng khác.
Bên cạnh đó, sinh trưởng của cây rừng cũng được thể hiện thông qua mối
tương quan và ảnh hưởng với nhau. Cụ thể hoá vấn đề này R.W.J.Keay (1961) đã
nhận thấy, tương quan giữa đường kính tán lá (Dt) và lượng tăng trưởng đường
Korf: Y ' = a0 . A − a
1
Trong đó:
A: Tuổi.
a0, a1: Tham số của phương trình.
e: Số mũ tự nhiên Neper (e = 2.7182…).
Theo Busson (1789), lượng tăng trưởng về thể tích gỗ sẽ tăng lên đến một tuổi
nào đó lại giảm xuống.
Prodan khi nghiên cứu quan hệ giữa đường cong sinh trưởng và đường cong
lượng tăng trưởng cho thấy rằng điểm uốn của đường cong sinh trưởng là cực đại
của đường cong tăng trưởng.
12
Việc nghiên cứu về quy luật sinh trưởng và tăng trưởng của cây rừng về
chiều cao, đường kính, đường kính tán, thể tích, … đã thu hút sự quan tâm của rất
nhiều nhà nghiên cứu về sinh trưởng cây rừng trên thế giới. Qua đó người ta đã
đưa ra nhiều dạng hàm toán học khác nhau ở từng vùng sinh thái, lập địa khác
nhau trên thế giới và cũng là cơ sở khoa học rất quý giá cho những nghiên cứu
khác về sinh trưởng cây rừng trên thế giới.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng cây rừng ở Việt Nam
Ở nước ta, sinh trưởng của cây cá thể và quần thể đã được nhiều nhà khoa
học lâm nghiệp ở Việt Nam đã nghiên cứu ứng dụng và đề nghị một số dạng hàm
toán học để diễn đạt quá trình sinh trưởng của một số loại hình rừng cũng như
các mối quan hệ giữa các nhân tố sinh trưởng với nhau trong quá trình sinh
trưởng của cây rừng.
Theo giáo trình điều tra của T.S Giang Văn Thắng; Tăng trưởng là hiệu số của