Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn từ thực tiễn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỔNG MÂY HỒNG TRÚNG

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT
TRONG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NINH PHƯỚC,
TỈNH NINH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỔNG MÂY HỒNG TRÚNG

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT
TRONG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN NINH PHƯỚC,
TỈNH NINH THUẬN
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 83.80.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

2.3. Thực tiễn kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn.....................................59
2.4. Đánh giá thực tiễn công tác kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn tại
Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận .............................63
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN....................................................................................70
3.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn ................70
3.2. Tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát ............................................................73
3.3. Công tác cán bộ ..............................................................................................74
3.4. Cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ ...................................................................75
3.5. Các giải pháp khác .........................................................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

BPNC

Biện pháp ngăn chặn

CQĐT


Bảng 2.2.1.2. Số người bị VKS bắt trên địa bàn huyện Ninh Phước từ tháng
12/2013 đến tháng 12/2017 .......................................................................................45
Bảng 2.2.13. Số người bị Tòa án bắt tạm giam trên địa bàn huyện Ninh Phước từ
tháng 12/2013 đến tháng 12/2017 .............................................................................46
Bảng 2.2.2. Số người bị tạm giữ trên địa bàn huyện Ninh Phước từ tháng 12/ 2013
đến tháng 12/2017 .....................................................................................................48
Bảng 2.2.3.1. Số người bị CQĐT tạm giam trên địa bàn huyện Ninh Phước từ tháng
12/ 2013 đến tháng 12/2017 ......................................................................................50
Bảng 2.2.3.3. Số người VKS truy tố và áp dụng biện pháp ttạm giam trong thời gian
từ tháng 12/2013 đến tháng 12/2017 trên địa bàn huyện Ninh Phước......................55
Bảng 2.2.4.1. Số người bị CQĐT áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trên địa
bàn huyện Ninh Phước trong thời gian từ tháng 12/2013 đến tháng 12/2017 ..........56
Bảng 2.2.5.1. Số người bị CQĐT áp dụng biện pháp bảo lĩnh trên địa bàn huyện
Ninh Phước từ tháng 12/2013 đến tháng 2/2017 ......................................................57


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Biện pháp ngăn chặn (BPNC) quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
( BLTTHS), nhất là các biện pháp bằng hình thức bắt, giam giữ là biện pháp nghiêm
khắc nhất của Nhà nước áp dụng cho người phạm tội ngăn chặn hành vi xâm hại
đến các quyền và lợi ích của các quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ; nhằm
nhanh chóng xử lý vụ án hình sự. Tuy nhiên, nếu việc dụng các biện pháp này nhất
là các biện pháp bằng giam, giữ không có căn cứ, đúng đối tượng, áp dụng tràn lan,
tùy tiện, bắt, tạm giữ hình sự sau đó chuyển xử lý hành chính; bắt, tạm giữ, tạm
giam, oan sai sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của người bị bắt, quyền cơ
bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận. Ngược lại, có trường hợp cần thiết phải
bắt nhưng không bắt tạm giam dẫn đến nhiều vụ án không được điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án do người phạm tội bỏ trốn, đã gây nên sự hoài nghi của quần chúng
nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm sút uy tín của các cơ quan

Để việc áp dụng BPNC và công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
áp dụng các biện này đạt hiệu quả cao, công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm
nói chung và việc giải quyết giải quyết các vụ án hình sự nói riêng được đảm bảo,
bảo vệ an toàn xã hội cũng như quyền lợi của người bị bắt cần phải làm rõ lý luận
và thực tiễn về các biện pháp này cũng như việc áp dụng nó và vai trò của VKS
trong hoạt này.
Đó là lý do cơ bản làm cơ sở cho tác giả chọn đề tài “Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn từ thực tiễn huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, khoa học luật tố tụng hình sự (TTHS) trong nước đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn, như:
Cấp độ luận văn Tiến sĩ có đề tài:
- Áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án hình sự của lực lượng
cảnh sát nhân dân của tác giả Trịnh Văn Thanh, (Bộ Công an), 2000;

2


- Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt
Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của Nguyễn Văn Điệp, Học viện Tư
pháp, 2005;
Ở cấp độ luận văn Thạc sĩ có đề tài:
- Áp dụng pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn của Cơ
quan điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam, của Nguyễn Văn Đồng, 2004;
- Vai trò của Viện kiểm sát trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt,
tạm giữ, tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, của Nguyễn Bá Phùng,
2010;
- Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình

sâu ở bậc cao học trong bối cảnh điều kiện kinh tế, xã hội của huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận trong thời gian 05 năm qua.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về hệ thống lý luận và thực tiễn các quy định của pháp luật về
tổng thể các BPNC quy định trong BLTTHS và việc áp dụng các biện pháp này; vai
trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS. Đánh giá những hạn chế, tồn tại, đưa
ra một số giải pháp để góp phần bổ sung, hoàn thiện những quy định của pháp luật
về các BPNC, đồng thời làm rõ hơn vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong
hoạt động này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp hóa, nghiên cứu, phân tích, đánh giá làm rõ, bổ sung các quy định
của pháp luật chưa hoàn thiện về các BPNC. Đặc biệt là những vấn đề lý luận về vị
trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong vấn đề này cũng như thực
trạng hiện nay của việc áp và các hoạt động kiểm sát các biện pháp này. Trên cơ sở
đó, tìm ra giải pháp khắc phục nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao
chất lượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động này của VKS.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn việc áp dụng các BPNC và hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong việc áp dụng các biện pháp này
trên cơ sở số liệu thực tiễn từ huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn về công tác kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động áp dụng các BPNC của VKS trong 05 năm từ tháng
12 năm 2013 đến tháng 12 năm 2017.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
áp dụng các biện pháp ngăn chặn của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực trạng hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát áp dụng các biện
pháp ngăn chặn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước

6


Chương 1
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
1.1. Khái quát về các biện pháp ngăn chặn
1.1.1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm các BPNC.
Trong Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái
niệm “BPNC là phương pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường
hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm
cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có
hành động gây cản trợ cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”
[25]. Tuy nhiên, khái niệm này chưa nêu rõ cơ quan có thẩm quyền áp dụng.
Còn tác giả Nguyễn Mai Bộ thì “ BPNC là những biện pháp cưỡng chế
TTHS do những cơ quan hoặc những người có thẩm quyền theo quy định pháp luật
áp dụng với bị can, bị cáo và có thể với những người chưa bị khởi tố khi có căn cứ
do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho công tác điều tra,

tạm hoãn xuất cảnh. Các biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng xuyên suốt quá
trình điều tra, truy tố xét xử vụ án hình sự.
Khi cần phải kịp thời ngăn chặn tội phạm
Kịp thời ngăn chặn tội phạm là ngăn ngừa không cho tội phạm đang
được chuẩn bị xảy ra hoặc không cho tội phạm đang được thực hiện tiếp tục
thực hiện. Do vậy căn cứ này thường được áp dụng đối với người chưa bị
khởi tố bị can, trong trường hợp bị bắt quả tang theo khoản 1 Điều 82 (Khoản 1,
Điều 111 BLTTHS 2015) hoặc bắt người trong người trong trường hợp khẩn cấp
như ở điểm a khoản 1 Điều 81 (Hay giữ người trong trường hợp khẩn cấp như
điểm a, khoản 1, Điều 110 BLTTHS 2015), khi có căn cứ xác định:
Căn cứ này không thể là căn cứ áp dụng cho đối tượng áp dụng BPNC tạm
giam là bị can, bị cáo, hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trong quá khứ.
Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho hoạt động
điều tra

8


Người bị buộc tội theo quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 4 BLTTHS 2015,
đó là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Khi có căn cứ cho rằng người đã thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo sẽ
gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điểu tra, truy tố, xét xử và thi hành án
được thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành vi phạm tội người phạm tội có thể bỏ
trốn, tiêu hủy, làm giả hoặc thay đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, mua
chuộc, dụ dỗ, lừa phỉnh, khống chế người làm chứng, người bị hại, thông cung...dẫn
đến gây khó khăn cho việc xác định, làm rõ sự thật khác quan vụ án trong quá trình
điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội
Để nhận định cáo căn cứ chứng tỏ người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa

- Ngăn chặn không cho hành vi phạm tội đang được thực hiện tiếp tục
tiếp diễn;
- Ngăn chặn người phạm tội thực hiện tội phạm mới.
Đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án:
Các BPNC có ý nghĩa rất quang trọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử cũng như công tác thi hành án. Tạo điều khiện thuận lợi về mặt pháp lý, về thời,
sự thuận tiện, nhanh chóng cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
đảm bảo được hiểu quả, kịp thời (vì bảo đảm sự có mặt của người đã thực hiện hành
vi phạm tội chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo trong các hoạt động tố tụng khi cần thiết;
làm cho người đã thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo không có khả năng bỏ
trốn; bảo đảm bí mật điều tra; không có điều kiện thông cung; tiêu hủy chứng cứ,
mua chuộc nhân chứng ....nên không gây khó khăn hoặc cản trợ các hoạt động điều
tra điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
1.1.4. Cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
1.1.4.1. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
Theo quy định tại điều 33 BLTTHS 2003 (Điều 24 BLTTHS 2015) thì Cơ
quan Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), Tòa án có thẩm quyền áp
dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo
lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.

10


1.1.4.2. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
- Đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Giữ người trong trường hợp
khẩn cấp, Điều 110 BLTTHS 2015) thì những ngưới sau đây có quyền ra lệnh bắt:
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội
độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và
biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển,khi tàu bay,tàu biển đã rời khỏi sân bay,
bến cảng (Điều 81BLTTHS năm 2003).

Theo quy định tại Chương VI của Bộ luật TTHS năm 2003 (Mục 1
Chương VII Bộ luật TTHS năm 2015), thì đối tượng có thể bị áp dụng BPNC trong
giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án gồm:
- Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có đủ căn cứ người đó bị nghi
thực hiện tội phạm và xét thấy cần thiết ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc
tiêu hủy chứng cứ; ( người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; Người đang chuẩn bị
thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (Giữ người trong
trường hợp khẩn cấp);
- Người đang thực hiện tội phạm; Người đã thực hiện tội phạm; Người có
dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, hoặc nơi làm việc hoặc trên phương
tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm (Người bị bắt phạm tội quả tang);
- Người đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm (Người này
đã áp dụng các BPNC không bằng giam giữ nhưng vi phạm nên thay đổi chuyển
sang BPNC bắt giam);
- Người không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị
can (Người này khó xác định nhân thân, lai lịch);
- Người bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
- Người tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
- Người có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian
dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ
án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng,
bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này;
- Người đã khởi tố bị can( Bị can, bị cáo).

12


1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung kiểm sát việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn
1.2.1. Khái niệm kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Việt Nam chính thức xác định khái niệm một cách chi tiết và cụ thể tư pháp có nội
hàm gì, cơ quan tư pháp gồm những cơ quan nào và còn nhiều ý kiến, quan điểm
khác nhau, nhưng điều này đã được thể hiện qua chủ trương, chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam nêu trong các Nghị quyết về cải cách tư pháp và thông qua cách
thức tổ chức bộ máy nhà nước cùng với các hoạt động thực thi quyền lực nhà nước.
Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08) lần đầu
tiên tiếp cận khái niệm tư pháp và cơ quan tư pháp dưới góc độ đường lối chính
sách của Đảng về công tác tư pháp. Theo đó, nội dung của công tác tư pháp và cơ
quan tư pháp có phạm vi rất rộng, từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án [1].
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49) tiếp tục chỉ ra hệ thống các cơ quan tư
pháp mà trọng tâm là Tòa án nhân dân thực hiện quyền xét xử; Viện kiểm sát thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; các Cơ quan điều tra thực hiện
nhiệm vụ điều tra trong tố tụng hình sự và các cơ quan thi hành án [2].
Ngoài những cơ quan tư pháp kể trên, Nghị quyết 08 đề cập đến hoạt động
của Luật sư, Cảnh sát tư pháp, tổ chức giám định, hoạt động công chứng, thống kê
tư pháp với tư cách là các hoạt động bổ trợ tư pháp[1]; Nghị quyết số 49 xác định
nhiệm vụ hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp này như một hoạt động quan trọng
trong công tác tư pháp và hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp là một khâu quan
trọng trong công tác cải cách tư pháp [2].
Như vậy, hoạt động tư pháp là các hoạt động điều tra, hoạt động truy tố,
hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án và một số hoạt động do các cơ quan được
giao một số thẩm quyền tư pháp thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được
thực hiện trong quá trình tố tụng, được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, trực tiếp
liên quan tới quá trình giải quyết các vụ án.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014: “ Kiểm
sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp

14

áp dụng các biện pháp ngăn chặn của những ngườicó thẩm quyền trong Cơ quan

15


điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra có căn cứ, đúng pháp luật; góp phần loại trừ những vi phạm
pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn của những người này, bảo
đảm quyền và lợi ích chính đáng của công dân không bị xâm phạm”.
1.2.2. Đặc điểm của kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong áp dụng các BPNC là một trong
những hoạt động của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nói riêng của ngành kiểm
sát, nó vừa mang những đặc điểm chung của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp
nhưng cũng mang trong mình những đặc điểm riêng, đó là
Thứ nhất, hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn do các cơ
quan tiến hành tố tụng được nhà nước giao thẩm tiến hành.
Thứ hai, hoạt động nhằm thực hiện quyền kiểm tra, giám sát, đảm bảo việc
áp dụng các BPNC đúng quy định của pháp luật.
Thứ ba, đối tượng của hoạt động này là kiểm sát việc áp dụng các BPNC do
các chủ thể là những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng và
một số cơ quan được giao một số hoạt động điều tra hoạt động điều tra tiến hành
như quy định tại khoản 1, Điều 80, khoản 2, Điều 81 BLTTHS 2003 (Điều 35
khoản 1, Điều 113 BLTHS 2015).
Khi kiểm sát các BPNC do CQĐT áp dụng thì VKS thực hiện chức năng
thực hành quyền công tố, còn khi kiểm sát các BPNC do Tòa án áp dụng thì VKS
thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thứ tư, đối tượng bị áp dụng BPNC là những người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, truy nã, bị

1 Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015) hay không. Đó là các căn cứ sau:
+ Khi có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
KSV kiểm tra để xác định có hay không việc người bị bắt có hành vi chuẩn
bị thực hiện tội phạm như: Chuẩn bị công cụ, phương tiện, lập kế hoạch để thực
hiện tội phạm và điều quan trọng là đó có phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội

17


phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự ( BLHS) năm
1999 (Điều 14 của Bộ luật hình sự năm 2015) hay không.
+ Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi
xảy ra tội phạm chính mắt (trông) nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã
thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
KSV cần nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản ghi lời khai của
người cùng thực hiện tội phạm, người bị hại hoặc lời khai của người có mặt tại nơi
xảy ra tội phạm để xác định đúng người bị bắt là người đã thực hiện tội phạm và có
chứng cứ chứng tỏ người đó sẽ bỏ trốn.
+ Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm
việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy
cần ngăn chặn ngay người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Trường hợp này, KSV cần phải nghiên cứu biên bản khám xét, thu giữ vật
chứng, tài liệu, đồ vật đã được CQĐT thu thập để xác định có dấu vết của tội phạm
ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị bắt cũng
như các tài liệu chứng cứ chứng minh việc người bị bắt có dấu hiệu
bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ ( như xóa dấu vết tội phạm, cất giấu công cụ, phương
tiện phạm tội, tẩu tán tài sản vừa lấy được).
Đối với căn cứ có dấu hiệu trốn, KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ để đánh giá
nhân thân người bị bắt ( có tiền án, tiền sự, lang thang, không nghề nghiệp, không

người bị bắt. Điều 110, BLTTHS 2015 thì chỉ quy định trong thời hạn 12 giờ sau
khi giữ người thì Cơ quan ra lệnh phải ra Quyết định tạm giữ hoặc trả tự do ngay và
bổ sung quy định mới là ra lệnh bắt người bị giữ.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ, KSV phải đề xuất Lãnh
đạo ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trường hợp, VKS
quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì
người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT đã nhận người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ. Như vậy, với cách
quy định này thì cần lưu ý VKS chỉ xem xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Lệnh
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chứ không phải xem xét việc phê chuẩn
hoặc không phê chuẩn Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status