BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA LỨA TUỔI GÀ MÁI LƯƠNG
PHƯỢNG VÀ TRỌNG LƯỢNG TRỨNG ĐẾN MỘT SỐ CHỈ
TIÊU ẤP NỞ CỦA TRỨNG
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ NGỌC HÂN
Lớp: DH06TY
Ngành: Thú Y
Niên khoá: 2006 – 2011
Tháng 08/2011
BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
****************
TRẦN THỊ NGỌC HÂN
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA LỨA TUỔI GÀ MÁI
LƯƠNG PHƯỢNG VÀ TRỌNG LƯỢNG TRỨNG ĐẾN MỘT
SỐ CHỈ TIÊU ẤP NỞ CỦA TRỨNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
• Tiến sĩ Võ Thị Trà An đã hết lòng chỉ dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em
hoàn thành khóa luận này.
Xin chân thành biết ơn:
• Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Tp. HCM.
• Ban Chủ Nhiệm khoa Chăn Nuôi – Thú Y.
• Quý thầy, cô khoa Chăn Nuôi – Thú Y.
• Toàn thể ban cán bộ, công nhân viên của Công ty TNHH MTV Chăn Nuôi
Bình Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt thời gian
em thực tập tốt nghiệp.
• Chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã động viên, giúp đỡ và chia
sẻ những vui buồn trong suốt thời gian tôi học tập tại trường và thực hiện
khóa luận này.
Tp. HCM, ngày 10 tháng 07 năm 2011
Trần Thị Ngọc Hân
iii
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát ảnh hưởng của lứa tuổi gà mái Lương Phượng và
trọng lượng trứng đến một số chỉ tiêu ấp nở của trứng” được tiến hành tại Công ty
TNHH MTV Chăn Nuôi Bình Minh, thời gian từ ngày 14/01/2011 đến ngày
15/05/2011. Nghiên cứu được tiến hành trên 3 đàn gà Lương Phượng ở 3 độ tuổi là
34 tuần (8730 gà mái và 891 gà trống), 48 tuần (7347 gà mái và 882 gà trống), 57
tuần (5895 gà mái và 597 gà trống) và trứng của đàn gà giống Lương Phượng này.
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố và khối
hoàn toàn ngẫu nhiên hai yếu tố. Kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố được
sử dụng trong nghiên cứu tỉ lệ đẻ và tỉ lệ trứng chọn ấp và kiểu khối hoàn toàn ngẫu
nhiên hai yếu tố được sử dụng trong nghiên cứu các chỉ tiêu còn lại của đề tài. Kết
quả thu được như sau:
Chương 1 MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1
1.1 Đặt vấn đề .......................................................................................................... 1
1.2 Mục đích ............................................................................................................ 2
1.3 Yêu cầu .............................................................................................................. 2
Chương 2 TỔNG QUAN ......................................................................................... 3
2.1 Đặc điểm ngoại hình và năng suất của giống gà Lương Phượng ...................... 3
2.2 Cấu tạo cơ quan sinh sản của gia cầm mái......................................................... 3
2.2.1 Cấu tạo của buồng trứng ................................................................................. 3
2.2.2 Cấu tạo của ống dẫn trứng .............................................................................. 4
2.3 Quá trình tạo trứng và đẻ trứng .......................................................................... 5
2.4 Cấu tạo của trứng ............................................................................................... 6
2.5 Sự thụ tinh và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thụ tinh ......................................... 9
2.6 Bố trí trạm ấp ................................................................................................... 10
2.7 Tiến trình ấp trứng ........................................................................................... 10
2.8 Sự phát triển của phôi ...................................................................................... 13
2.9 Những yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ ấp nở của trứng .......................................... 16
2.9.1 Chất lượng đàn gà giống ............................................................................... 16
2.9.2 Trạng thái của trứng ấp ................................................................................. 17
v
2.9.3 Tỉ lệ trống mái ............................................................................................... 17
2.9.4 Ảnh hưởng của gia cầm trống ....................................................................... 17
2.9.5 Ảnh hưởng của chuồng trại, thu nhặt, vận chuyển và bảo quản trứng ......... 17
2.10 Một số biểu hiện đặc trưng của phôi do ảnh hưởng của chế độ ấp ................ 17
2.10.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ .............................................................................. 17
2.10.2 Ảnh hưởng của ẩm độ ................................................................................. 18
2.10.3 Ảnh hưởng của độ thông thoáng khí ........................................................... 19
2.10.4 Ảnh hưởng của sự đảo trứng ....................................................................... 19
5.2 Đề nghị ............................................................................................................. 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 43
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 44
vii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TKS: tuần khảo sát
ĐG: đàn gà
TLT: trọng lượng trứng
ĐG
TLT
: Giá trị trung bình của đàn gà khảo sát
: Giá trị trung bình của từng mức trọng lượng trứng
SD ĐG : Độ lệch chuẩn của đàn gà khảo sát
SD TLT : Độ lệch chuẩn của từng mức trọng lượng trứng
viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
TRANG
Bảng 2.1 Bảng thời gian tạo trứng và chu kì đẻ trứng của gia cầm ........................ 6
Bảng 2.2 Bảng thành phần của trứng....................................................................... 7
Bảng 2.3 Bảng một số protein trong lòng trắng và những tính chất của chúng ...... 8
Bảng 2.4 Bảng ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỉ lệ ấp nở của trứng gà .................... 18
Bảng 3.1 Bảng bố trí thí nghiệm kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố .......... 23
giới hóa và tự động hóa, giúp giảm lao động chân tay. Nuôi theo lối tập trung còn
giúp việc xử lí chất thải hiệu quả và giảm gây ô nhiễm môi trường. Chăn nuôi gà
công nghiệp đã cung cấp được một lượng lớn thịt và trứng gà trong thời gian ngắn.
Đối với mô hình chăn nuôi gà theo lối công nghiệp, yếu tố năng suất và chất
lượng được đặt lên hàng đầu. Đồng thời, trong phương thức chăn nuôi công nghiệp,
cần có số lượng lớn gà con đồng đều về ngày tuổi và chất lượng. Xuất phát từ thực
tế trên, nhiều nghiên cứu về ấp trứng nhân tạo ra đời. Dụng cụ ấp trứng nhân tạo
đầu tiên đơn giản là những hố đào trong đất hoặc cát của người Ả Rập và người
Trung Quốc. Người ta xếp trứng vào và thổi hơi nóng qua trứng. Sau đó, phương
thức này lan truyền sang Châu Âu (khoảng 400 – 500 năm trước công nguyên).
Máy ấp trứng nhân tạo đầu tiên do nhà vật lí người Ý là Porto và người Pháp là
Reomior nghiên cứu và chế tạo vào thế kỉ 17. Sau khi nhiệt kế ra đời, máy ấp cũng
có nhiều cải thiện. Máy ấp bằng điện ra đời vào cuối thế kỉ 18. Cho đến nay, tuy
nguyên lí không thay đổi, nhưng nhiều thế hệ máy ấp đã không ngừng hoàn thiện
như những máy ấp hiện đại với công suất từ 500 trứng đến 100.000 trứng, chế độ ấp
tự động đảm bảo tỉ lệ ấp nở cao và chất lượng gà con tốt. Ngoài ra, loại hình ấp
trứng nhân tạo đã cho thấy những ưu điểm không thể phủ nhận, vì muốn gà mái đẻ
nhiều trứng nên trong công tác giống người ta đã loại bỏ tập tính ấp để gà mái đẻ
1
liên tục và trứng được đem ấp nhân tạo. Gà con nở ra được cách li khỏi nguồn lây
nhiễm bệnh từ gà bố mẹ, đồng thời giá thành giảm đáng kể do khi ấp nhân tạo với
máy tốt, thông số kĩ thuật thích hợp, tỉ lệ ấp nở cao (Lâm Minh Thuận, 2010).
Kết quả ấp trứng phụ thuộc vào chất lượng trứng giống, phương pháp thu lượm,
bảo quản trứng và kĩ thuật ấp. Nhằm nâng cao trình độ thực tế của bản thân, được
sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, Công
ty TNHH MTV Chăn Nuôi Bình Minh và dưới sự hướng dẫn của TS. Võ Thị Trà
An, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của lứa tuổi gà mái
thị hiếu của người dân. Theo kết quả báo cáo của Nguyễn Huy Đạt và cộng sự
(2001), tỉ lệ nuôi sống của giống gà Lương Phượng đạt 97 - 99 %, khối lượng cơ thể
21 tuần tuổi của gà mái là 2600 g, tỉ lệ đẻ trứng cao nhất là 75,2 %, sản lượng trứng
68 tuần tuổi đạt 170 – 175 quả/mái. Do vậy, giống gà này đã và đang được phát
triển rộng rãi trong chăn nuôi hộ gia đình ở nhiều vùng trong cả nước.
Cấu tạo cơ quan sinh sản của gia cầm mái
2.2
Theo Lâm Minh Thuận (2010), trong quá trình tiến hóa của sinh vật, để thích
nghi với môi trường sống. Loài chim chỉ phát triển buồng trứng và ống dẫn trứng
bên trái, buồng trứng và ống dẫn trứng bên phải ngưng phát triển từ ngày tuổi thứ 5
của phôi.
2.2.1
Cấu tạo của buồng trứng
Buồng trứng của gia cầm có khoảng 3.000 – 3.500 noãn hoàng. Lúc mới nở,
buồng trứng có dạng phiến mỏng với kích thước 1 – 2 mm và nặng khoảng
0,3 - 0,5 g. Trong 4 tháng đầu, buồng trứng phát triển rất chậm. Ở gà mái, buồng
trứng có dạng phiến hình thoi và nặng khoảng 2,4 – 2,7 g khi được 4 tháng tuổi.
Thời kì gà bắt đầu đẻ trứng, buồng trứng phát triển lớn và có hình dạng như chùm
nho, với những noãn hoàng nhiều kích thước to nhỏ khác nhau. Giai đoạn gà con
3
được 2 tháng tuổi, noãn hoàng bắt đầu tích lũy khối lòng đỏ trong tương bào một
cách chậm chạp, khoảng 90 – 95 % khối lượng lòng đỏ tích lũy nhanh trong vòng
9 – 13 ngày trước khi rụng trứng. Noãn hoàng chín và rụng 1 lần trong ngày với
4
được hình thành từ lớp khung lưới hữu cơ do các sợi protein dạng collagen đan
nhau, cùng với chất trung gian cấu tạo từ muối canxi carbonat (99 %) và canxi
phosphat (1 %) bao phủ khung lưới. Sự tổng hợp chất tạo vỏ cứng được tiến hành
trong suốt thời gian trứng nằm trong tử cung (16 – 18 giờ). Trong thành tử cung có
nhiều mạch máu để cung cấp các chất nguyên liệu tạo vỏ trứng. Sự hình vỏ trứng có
sự tham gia tích cực của các enzyme như carbon anhydrase và phosphatase, những
enzyme này xúc tác việc tạo thành anion HCO 3 - từ acid carbonic và ion Ca+2. Các
chất ức chế men carbon anhydrase như chất sulfamid phá hủy quá trình hình thành
vỏ cứng, nên khi sử dụng kháng sinh sulfamid cho gà đẻ, trứng sẽ bị vỏ lụa hoặc vỏ
mỏng. Đoạn cuối của ống dẫn trứng là cổ tử cung, đây là nơi tiếp nhận trứng đã
được hoàn chỉnh và chuẩn bị đẩy ra ngoài. Cổ tử cung dài 7 – 12 cm, niêm mạc
nhăn, nghèo ống tuyến nhưng có lớp cơ dày phát triển tốt, đặc biệt là vùng cơ vòng
ở phần cuối, nhờ sự co bóp của lớp cơ này mà quả trứng được đưa ra lỗ huyệt. Phần
cổ tử cung che lấp lỗ ra của trực tràng, bảo vệ trứng không bị dính phân và nhiễm
bẩn. Động tác đẻ trứng là quá trình phản xạ phức tạp, quả trứng nằm trong tử cung
kích thích các cảm thụ quan ở niêm mạc tử cung và âm đạo gây co bóp đồng thời cơ
tử cung và cơ âm đạo, đẩy quả trứng ra ngoài. Gia cầm thường đẻ ở tư thế đứng.
Thần kinh phó giao cảm kích thích sự co bóp của cơ tử cung và cơ âm đạo, ngược
lại thần kinh giao cảm ức chế sự co bóp này. Một số chất như acetylcholin, histamin
và độc tố nấm cựa gà kích thích sự co cơ tử cung và cơ âm đạo, tương tự adrenalin,
oxytoxin. Ngược lại, atropin làm giảm tác dụng của acetylcholin, nếu tiêm
progesteron sẽ làm gia cầm mái ngừng đẻ (Lâm Minh Thuận, 2010).
2.3
Quá trình tạo trứng và đẻ trứng
Thời gian tạo trứng ở gia cầm mái là 25 – 28 giờ, nếu trứng được hình thành
10
11
12
Mái 1
X
X
X
O
X
X
X
O
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
O
X
X
(27 giờ / trứng)
Mái 2
(26 giờ / trứng)
Mái 3
(25 giờ / trứng)
Trong bảng: X là đẻ trứng, O là không đẻ trứng.
Quá trình tạo trứng và đẻ trứng do hệ thần kinh – hormon điều khiển, dưới sự
ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Ở gia cầm non, hormon hướng sinh dục FSH
(follicle stimulating hormon) kích thích nang noãn phát triển và LH (luteinizing
Cả quả trứng (%)
Nước
87,8 – 87,9
49,0 – 49,7
65,5 – 65,6
Đạm
10,0 – 10,6
16,5 – 16,7
12,1 – 12,9
Béo
0,1 – 0,9
31,6 – 32,6
9,3 – 10,5
(Trích dẫn bởi Lương Thanh Sơn, 2010).
Ngoài cùng của trứng là lớp vỏ gồm nhiều lớp có cùng chức năng là định hình,
bảo vệ mầm phôi cùng khối chất dinh dưỡng, nhằm đảm bảo cho phôi phát triển
của hơn 40 loại protein khác nhau, nhưng chỉ có 7 loại protein chính chiếm khoảng
90 % của khoảng 4 g chất khô của lòng trắng. Các loại protein này đều có vai trò
nhất định trong sự phát triển của phôi thể hiện qua Bảng 2.3.
Bảng 2.3 Bảng một số protein trong lòng trắng trứng và những tính chất của chúng
Protein
% trong lòng
Phân tử lượng
Đặc tính sinh học
trắng
Ovoalbumin
54
45
Ức chế enzym, chứa Fe, Mn, Zn, Cu
Ovotransferin
12
76
Chứa Fe
Ovomucoid
lòng trắng và có tác dụng giữ khối lòng đỏ cân bằng ở vị trí trung tâm của quả
trứng. Trong lòng trắng trứng có chứa tỉ lệ nước cao và đó cũng là nguồn nước dự
trữ cho sự phát triển của phôi, vì vậy trong lòng trắng nguồn dinh dưỡng nghèo hơn
so với lòng đỏ, ngoại trừ một số chất khoáng như Cl, Mg, K, Na và S cùng các
8
vitamin niacin và riboflavin trong lòng trắng nhiều hơn trong lòng đỏ. Lòng trắng
có chức năng bảo vệ phôi nhờ hợp chất chứa Cl có tính diệt khuẩn cao, nên việc xử
lí trứng để bảo quản như nhúng dầu parafin hoặc bọc tro muối phải tiến hành khi
lượng Cl trong trứng còn cao, sẽ có tác dụng bảo quản trứng lâu bị hư. Còn nếu xử
lí muộn sau khi lượng Cl đã giảm thì trứng vẫn dễ bị hư hỏng trong thời gian ngắn.
Ngoài ra, lòng trắng còn cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi phát triển trong giai
đoạn đầu, cho đến ngày ấp thứ 14 lòng trắng đã tiêu hết.
Thành phần giàu chất dinh dưỡng của trứng là lòng đỏ, đây là nơi chứa hầu hết
các protein phức tạp, các vitamin, vi khoáng và các chất có hoạt tính sinh học cao,
cung cấp chất dinh dưỡng nuôi phôi phát triển và nuôi gà con trong những ngày
đầu. Lòng đỏ được bao bọc bởi màng phospholipit và thực sự hình tròn với nhiều
lớp đồng tâm. Noãn nang phát triển nhanh khi gia cầm thành thục sinh dục. Trong
khoảng 5 – 9 ngày trước khi rụng trứng, noãn nang tích lũy chất dinh dưỡng và
chuyển sang màu vàng. Trên bề mặt lòng đỏ có mầm phôi với kích thước khoảng
1,5 mm như một điểm trắng. Khi được thụ tinh, mầm phôi phát triển thành dạng đĩa
phôi hình vành khăn với kích thước khoảng 4,4 mm khi trứng được đẻ ra (Lâm
Minh Thuận, 2010).
2.5
Sự thụ tinh và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thụ tinh
Sự thụ tinh xảy ra khi tinh trùng xâm nhập vào tế bào trứng nhờ có enzym làm
bảo quản tùy theo số trứng và số lần vào máy trong một tuần, có hệ thống điều hòa
nhiệt độ để đảm bảo nhiệt độ bảo quản trứng 15 – 20 oC.
Phòng làm ấm trứng nên bố trí kế kho bảo quản trứng, trứng cần được làm ấm
trước khi đưa vào máy ấp.
Phòng đặt máy ấp, máy nở.
Phòng ra gà con, chủng ngừa, phân loại và đóng gói gà con nên bố trí ở phía
ngoài để tiện cho khách hàng nhận gà con mà không gây trở ngại công việc trạm ấp.
Phòng rửa dụng cụ, kho chứa dụng cụ, vỉ trứng, khay đựng gà con.
Vỏ trứng, xác gà con phải có chỗ xử lí riêng.
Phòng nghỉ của công nhân nên bố trí kế phòng máy ấp để tiện theo dõi, vận hành
máy ấp.
2.7
Tiến trình ấp trứng
Có hai phương pháp ấp trứng là ấp đơn kì và ấp đa kì. Ấp đơn kì là qui trình đưa
trứng vào máy ấp một lần, trong máy ấp chỉ có trứng của cùng tuổi phôi, nên mọi
thông số kĩ thuật đều ở mức chính xác cho từng giai đoạn phát triển của phôi. Vì
vậy, tỉ lệ ấp nở luôn cao, chất lượng gà con tốt. Máy ấp được sát trùng triệt để sau
10
mỗi đợt ấp. Qui trình ấp đơn kì phù hợp với trại ấp lớn, lưu lượng trứng ấp cao. Ấp
đa kì là qui trình đưa trứng vào máy ấp hàng tuần, trong máy có trứng với các tuổi
phôi khác nhau nên các thông số kĩ thuật ở mức chung nhất. Qui trình ấp đa kì phù
hợp với các trạm ấp nhỏ, lưu lượng trứng không nhiều. Vì vậy để tránh tồn trữ trứng
lâu ngày người ta đưa trứng vào máy ấp 1 hoặc 2 lần trong tuần. Trong máy, trứng
cũ tỏa nhiệt có thể truyền hơi nóng cho trứng mới và tiết kiệm được năng lượng
cung nhiệt. Nhưng máy ấp hoạt động liên tục, nên việc sát trùng triệt để máy ấp gặp
thống điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng và đảo trứng.
Theo Bạch Thị Thanh Dân và Nguyễn Quý Khiêm (2002), đối với máy ấp đơn
kì thì toàn bộ trứng trong máy ấp có cùng tuổi phôi. Vì vậy chế độ ấp cho máy đơn
kì thay đổi phù hợp với sự phát triển phôi mỗi giai đoạn. Mùa hè, 1 – 7 ngày
(37,8oC), 8 – 18 ngày (37,6oC), 19 – 21 ngày (37,2oC). Mùa đông, 1 – 11 ngày
(37,8oC), 12 – 21 ngày (37,6oC). Đối với máy ấp đa kì, trong máy có nhiều loại lứa
ấp, vào ấp theo thời gian khác nhau. Vì không thể làm nhiều chế độ ấp trong cùng
một máy, nên ở máy ấp đa kì phải sử dụng chế độ nhiệt mà tất cả các lô trứng đều
có thể chấp nhận được và do trứng trong máy ấp không cùng một lứa tuổi nên máy
ấp đa kì đòi hỏi phải có máy nở riêng. Nếu là lô trứng đầu tiên vào máy thì từ 1 – 15
ngày để ở nhiệt độ 37,8 oC, sau đó cố định ở 37,6 oC. Khi đã ấp được 18 ngày thì
trứng được chuyển sang máy nở và áp dụng chế độ nhiệt giống như máy ấp đơn kì.
Nguồn ẩm độ rất cần thiết trong máy ấp, vì ở nhiệt độ cao 37,5 – 37,8oC thì ẩm
độ giảm thấp. Nếu không cung cấp thêm hơi nước, buồng ấp trứng sẽ bị mất nước
nhanh, phôi bị khô. Nguồn hơi nước cung cấp qua thiết bị phun sương trong máy
ấp, sao cho đảm bảo ẩm độ trong buồng ấp ổn định ở mức 65 – 75%.
Hệ thống thông thoáng cũng rất quan trọng. Vì trong quá trình phát triển, phôi
gia cầm cần lượng O 2 cho quá trình hô hấp, đồng thời thải ra lượng CO 2 và hơi
nước. Nếu trong không khí, hàm lượng O 2 giảm dưới 18 % và hàm lượng CO 2 tăng
lên, có thể gây chết phôi. Độ thông thoáng trong máy ấp tùy thuộc vào số trứng,
khoảng 60 – 180 m3/1000 trứng/giờ, nhu cầu không khí khoảng 0,8 – 0,9 m3/1000
trứng/giờ. Hệ thống thông thoáng gồm quạt và các lỗ thông hơi được bố trí sao cho
không mất nhiệt, và không khí trước khi đưa vào máy ấp được sấy khô tránh nấm
mốc theo vào và phát triển trong máy.
12
Thiết bị đảo trứng tùy theo thiết kế của máy, sao cho trứng được đảo 45o theo
trục chính của trứng, thiết bị đảo trứng tự động bằng cách bố trí trục xoay đảo toàn
13
Phôi bắt đầu phát triển sau khi thụ tinh 3 giờ, với sự phân chia liên tục tế bào
đầu tiên trong quá trình hình thành trứng. Khi trứng ở giai đoạn hình thành vỏ
trứng, khối phôi đã có khoảng 346 tế bào lớp phía trong là entoderm và lớp ngoài là
ektoderm nằm trên tế bào lòng đỏ, đậm hơn màng vetelin như hình vành khăn. Sau
khi gà đẻ trứng, với nhiệt độ môi trường bên ngoài dưới 25 oC, phôi tạm ngưng
phân chia. Khi trứng được đưa vào buồng ấp với nhiệt độ buồng ấp 37,5 oC, phôi lại
tiếp tục phát triển.
Trong 24 giờ đầu, các lớp mầm phôi dày lên, tiếp tục phân chia và tạo thành lớp
giữa mezoderm, xuất hiện rãnh thần kinh với những nết gấp đầu tiên. Hoàn chỉnh 3
lớp lá phôi, tiền thân của các cơ quan bộ phận cơ thể sau này. Lớp lá phôi ngoài
(ektoderm) sẽ phát triển thành da, lông, mỏ, móng, hệ thần kinh, võng mạc mắt,
niêm mạc miệng và lỗ huyệt. Lớp lá phôi trong (endoderm) phát triển thành các cơ
quan tiêu hóa, hô hấp, các tuyến nội tiết. Lớp lá phôi giữa (mezoderm) phát triển
thành cơ, xương, máu, cơ quan sinh dục, các tuyến ngoại tiết và các mô liên kết.
Sau 22 giờ ấp, ống ruột hình thành, đồng thời các tế bào máu đầu tiên xuất hiện và
hệ thống mạch máu ngoài hình thành bao trùm phần vỏ trứng. Sau 24 giờ ấp, phôi
phát triển có hình ovan với kích thước khoảng 5 mm.
Ngày ấp thứ 2, phôi phát triển nhanh, tách khỏi lòng đỏ, uốn cong và xoắn lại ở
phía trái tạo thành các túi alantois, amnion và túi lòng đỏ bắt đầu hình thành. Phôi
có phần đầu lớn, mắt xuất hiện, ống thần kinh nằm dọc theo cột sống, tim hình
thành và bắt đầu đập để hút và đẩy máu vào hệ thống mạch máu trong cơ thể phôi.
Ngày thứ 3, phôi có hình thù rõ rệt, đầu to với mắt, mũi, mỏ và cột sống. Thấy
rõ các túi màng phôi allantois và amnion, mầm cánh và chân xuất hiện tương đối rõ,
ống ruột, tim và mạch máu khá rõ.
Ngày thứ 4, phôi có hình thù rõ nằm ở phía trái lòng đỏ, đầu và đuôi cong lại
như hình chữ C. Cuống túi lòng đỏ bắt đầu xuất hiện, túi allantois lớn ra bao bọc
phôi trong nước, tim to hơn, miệng và mũi rõ hơn. Phôi đạt tới kích thước khoảng 8