BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH THẢO
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
TÂN DƯỢC BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ
CHO CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH THẢO
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
TÂN DƯỢC BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ
CHO CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
văn này.
Hà Nội, ngày 04 tháng 04 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thanh Thảo
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................ 1
Chương 1. TỔNG QUAN .............................................................................. 3
1.1. Bảo hiểm y tế và Danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán ................... 3
1.1.1. Bảo hiểm y tế và phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế .................... 3
1.1.2. Danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế ................. 4
1.1.3. Nguyên tắc chi trả và thanh toán thuốc bảo hiểm y tế ............................. 6
1.1.4. Các văn bản quy phạm pháp luật về chi trả tiền thuốc bảo hiểm y tế ....... 7
1.2. Thực trạng chi trả thuốc bảo hiểm y tế được sử dụng tại các bệnh viện
công lập ở Việt Nam ........................................................................................... 7
1.2.1. Mô hình bệnh tật ở Việt Nam................................................................... 7
1.2.2. Tình hình chi trả thuốc bảo hiểm y tế ...................................................... 8
1.2.3. Tình hình chi trả bảo hiểm y tế đối với thuốc sản xuất trong nước và
thuốc nhập khẩu................................................................................................ 9
1.2.4. Tình hình chi trả bảo hiểm y tế đối với biệt dược gốc và thuốc generic . 11
1.2.5. Tình hình chi trả bảo hiểm y tế đối với thuốc kháng sinh ....................... 12
1.2.6. Tình hình chi trả bảo hiểm y tế đối với thuốc thuộc danh mục Thông tư
trong nước có thể thay thế được của các thuốc thuộc danh mục TT 10 ........... 53
Chương 4. BÀN LUẬN ............................................................................... 58
4.1. Cơ cấu thuốc sử dụng ................................................................................ 58
4.2. Giá trị sử dụng thuốc................................................................................. 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
BYT
Bộ Y tế
DMT
Danh mục thuốc
DM TT10
Tỷ lệ
TNK
Thuốc nhập khẩu
TP
Thành phố
TSXTN
Thuốc sản xuất trong nước
TW
Trung ương
VN
Việt Nam
WHO
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
STT
Cơ cấu danh mục thuốc phân loại theo nguồn gốc phát
26
minh tại Đà Nẵng
Bảng 3.6.
Cơ cấu thuốc sử dụng theo thành phần tại các bệnh viện
27
công lập tại TP. Đà Nẵng năm 2016
Bảng 3.7.
Cơ cấu danh mục thuốc phân loại theo nguồn gốc xuất xứ
28
tại Đà Nẵng
Bảng 3.8.
Nguồn gốc xuất xứ của thuốc điều trị ký sinh trùng chống
29
nhiễm khuẩn tại Đà Nẵng
Bảng 3.9.
Nguồn gốc xuất xứ của thuốc generic tại Đà Nẵng
42
nhiễm khuẩn có giá trị sử dụng nhiều nhất
Bảng 3.16. Các thuốc thuộc nhóm beta lactam có giá trị sử dụng nhiều
44
nhất tại Đà Nẵng
Bảng 3.17. Các thuốc biệt dược gốc có giá trị sử dụng nhiều nhất tại Đà
47
Nẵng
Bảng 3.18. Tỷ lệ thuốc nhập khẩu có hoạt chất, hàm lượng, đường
50
dùng tương ứng với danh mục TT 10 theo nhóm TDDL tại
Đà Nẵng năm 2016
Bảng 3.19. 10 thuốc nhập khẩu thuộc danh mục TT 10 có giá trị tiền
51
thuốc nhiều nhất tại Đà Nẵng năm 2016
Bảng 3.20. 10 biệt dược nhập khẩu có hoạt chất, hàm lượng và đường
52
Hình 3.2.
Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước thuộc danh mục TT 10
33
được sử dụng ở 3 tuyến tại Đà Nẵng năm 2016
Hình 3.3.
Kháng sinh thuộc nhóm beta lactam được chi trả ở tuyến
45
TW và tuyến tỉnh tại Đà Nẵng
Hình 3.4.
Các thuốc biệt dược gốc được chi trả nhiều ở tuyến TW và
tuyến tỉnh tại Đà Nẵng
49
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam, bệnh viện là cơ sở khám
chữa bệnh chủ yếu. Tại các bệnh viện, việc xây dựng danh mục thuốc hợp lý, đáp
ứng nhu cầu điều trị là hết sức quan trọng. Với mô hình bệnh tật ngày càng tăng,
nhu cầu chi trả cũng ngày càng tăng theo nhưng quỹ bảo hiểm y tế chỉ có hạn, rất
cần thiết phải có chính sách lựa chọn danh mục thuốc hợp lý, hướng nguồn tiền vào
thuốc thật hiệu quả. Bảo hiểm y tế là một chính sách an sinh xã hội quan trọng trong
thành phố Đà Nẵng đã đạt được 96,2% người dân tham gia bảo hiểm y tế [43].
Thị trường thuốc ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú cả về số lượng và
chất lượng. Hiện nay, thuốc sản xuất trong nước có thể đã đáp ứng yêu cầu điều trị
về số lượng, chất lượng, giá cho nhu cầu sử dụng. Và vấn đề đặt ra cho các cơ sở
khám chữa bệnh là xây dựng một danh mục thuốc phù hợp với nhu cầu điều trị đảm
bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả, đồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của
người bệnh. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào tiến hành nghiên cứu danh
mục thuốc bảo hiểm y tế chi trả cho các bệnh viện ở thành phố Đà Nẵng. Do đó, đề
tài “Phân tích danh mục thuốc tân dược Bảo hiểm y tế chi trả cho các bệnh
viện công lập tại thành phố Đà Nẵng năm 2016” được thực hiện với mục tiêu
sau:
Phân tích cơ cấu danh mục thuốc tân dược sử dụng được bảo hiểm y tế chi
trả cho các bệnh viện công lập tại thành phố Đà Nẵng năm 2016 theo tuyến.
Từ đó chỉ ra một số bất cập trong sử dụng thuốc của bảo hiểm y tế tại các
bệnh viện công lập, góp phần đưa ra một số kiến nghị hướng tới hợp lý danh mục
thuốc cho những năm tiếp theo.
2
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Bảo hiểm y tế và Danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của BHYT
1.1.1. Bảo hiểm y tế và phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế
a. Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một chính sách an sinh xã hội quan trọng trong xã hội hiện
đại, là sự quan tâm chia sẻ của toàn thể cộng đồng tới mỗi một bệnh nhân. Luật
BHYT bắt buộc đầu tiên được ban hành tại Đức vào năm 1883 dưới thời Thủ tướng
Bismark, mở đầu cho sự phát triển của một trong những loại hình bảo hiểm thuộc
hệ thống các chính sách an sinh xã hội lớn trên toàn thế giới. Ở Châu Á, Nhật Bản
với khả năng chi trả của quỹ BHYT, phù hợp với hệ thống khám chữa bệnh và công
tác quản lý, đồng thời đảm bảo tính trách nhiệm, chia sẻ cộng đồng và thực hiện
chính sách xã hội, mỗi nhóm đối tượng sẽ có một số khác biệt nhất định về phạm vi
được hưởng và mức hưởng BHYT đối với một số loại dịch vụ. Sự khác nhau cũng
liên quan đến việc lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người có thẻ BHYT.
Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13
ngày 13 tháng 6 năm 2014 thì người tham gia BHYT được quỹ BHYT chi trả các
chi phí sau đây:
- Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con.
- Vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện lên tuyến trên đối với đối tượng
quy định trong trường hợp cấp cứu hoặc khi đang điều trị nội trú phải chuyển tuyến
chuyên môn kỹ thuật [30].
1.1.2. Danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế
Danh mục thuốc là một danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống
chăm sóc sức khỏe và bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc trong danh mục này. Danh mục
thuốc bệnh viện là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám
bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với mô hình
bệnh tật, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả
năng chi trả của người bệnh và được lựa chọn, phê duyệt để sử dụng trong bệnh
viện. Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội,
khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất
lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng [39]. Danh mục thuốc có nhiều
4
ý nghĩa, phụ thuộc vào quan điểm của mỗi người. Với Dược sĩ, danh mục thuốc
được xem như một danh sách các sản phẩm dược phẩm đã được chứng minh về tác
dụng dược lý và liên tục thay đổi, là một bản công cụ mang tính hành chính giúp
xác định loại thuốc cần mua. Với Bác sĩ, danh mục thuốc được xem như một công
cụ của các nhà quản lý, dược sĩ và Hội đồng thuốc & điều trị đối với việc kê đơn
định. Mỗi cơ sở khám chữa bệnh căn cứ theo mô hình bệnh tật, nhu cầu sử dụng
thuốc, khả năng tài chính tại cơ sở khám chữa bệnh (bao gồm viện phí và BHYT)
và danh mục theo tên generic của BYT để xây dựng danh mục thuốc cụ thể theo tên
thành phẩm sử dụng tại cơ sở khám, chữa bệnh đó.
- Thanh toán chi phí thuốc theo kết quả đấu thầu của cơ sở khám chữa bệnh:
Quy định này xác định tính phi lợi nhuận trong tổ chức thực hiện chính sách BHYT.
Theo đó, cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm nhập và nhượng nguyên giá thuốc
cho người bệnh nói chung và người bệnh có thẻ BHYT nói riêng, đồng thời đảm
bảo cho các cơ sở không phải bù lỗ do quá trình nhập thuốc sử dụng tại bệnh viện,
phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội mỗi địa phương.
Mọi chi phí khám, chữa bệnh nói chung, chi phí thuốc chữa bệnh nói riêng
đều phải được cơ quan BHXH giám định theo nguyên tắc: đúng người - đúng bệnh đúng thuốc - đúng chi phí trước khi thanh toán [32].
1.1.3.2. Quy định thanh toán đối với một số loại thuốc
- Các dạng đồng phân hóa học khác hoặc các dạng muối khác của hoạt chất
có trong danh mục thuốc đều được quỹ BHYT thanh toán nếu có cùng tác dụng điều
trị với dạng hóa học hay tên thuốc ghi trong danh mục thuốc.
- Thuốc được xếp nhóm này dùng điều trị bệnh thuộc nhóm khác được quỹ
BHYT thanh toán nếu có chỉ định như đăng ký trong hồ sơ đăng ký đã phê duyệt.
- Thuốc có phối hợp nhiều hoạt chất mà sự phối hợp này chưa được quy định
trong danh mục thì được quỹ BHYT thanh toán nếu các hoạt chất đều có trong danh
mục ở dạng đơn chất (trừ vitamin và khoáng chất) và có cùng đường dùng như quy
định tại khoản 2 điều 2 Thông tư 40/2014/TT-BYT. Thuốc phối hợp được lựa chọn
đảm bảo nguyên tắc sử dụng an toàn, hiệu quả và phù hợp với khả năng chi trả của
quỹ BHYT. Trường hợp thuốc phối hợp nhiều hoạt chất mà các hoạt chất có hạng
bệnh viện sử dụng khác nhau thì thanh toán theo hoạt chất được sử dụng ở hạng
6
bệnh viện cao nhất. Trường hợp thuốc phối hợp nhiều hoạt chất có tỷ lệ thanh toán
khác nhau thì thanh toán theo tỷ lệ của hoạt chất có tỷ lệ thanh toán thấp nhất [8].
chóng trong vòng hơn 30 năm trở lại đây với sự gia tăng nhanh tỷ trọng của các
bệnh không lây nhiễm. Gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm gây ra bởi bốn
nhóm bệnh chính là bệnh tim mạch, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đái
tháo đường. Bốn nhóm bệnh này chiếm 60,4% các trường hợp tử vong và 33% tổng
gánh nặng bệnh tật tính theo DALY năm 2012. Bên cạnh đó, gánh nặng do các bệnh
lây nhiễm vẫn ở mức cao, ngày càng khó kiểm soát và vẫn tiếp tục là một thách
thức đối với hệ thống y tế. Năm 2012, các bệnh lây nhiễm gây ra 86 100 trường hợp
tử vong (so với 97,7 ngàn trường hợp năm 2000) và gây ra 5,6 triệu DALY (so với
6,7 triệu năm 2000). Bên cạnh đó, các bệnh lây nhiễm hiện nay thường khó kiểm
soát hơn và gây ra gánh nặng kinh tế lớn hơn trước đây vì chi phí điều trị cao hơn
do tình trạng biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường, tình trạng đề kháng với các loại
thuốc, hoá chất, một số bệnh mới chưa có phương pháp điều trị, phòng ngừa đặc
hiệu [10].
Số liệu về gánh nặng bệnh tật tính theo DALY năm 2014 cho thấy có sự biến
đổi nhanh về mô hình bệnh tật và tử vong ở Việt Nam. Gánh nặng bệnh tật do các
bệnh truyền nhiễm, các vấn đề sức khỏe của bà mẹ, giai đoạn chu sinh và rối loạn
dinh dưỡng giảm từ 45,6% xuống 20,8%. Đồng thời gánh nặng bệnh tật do các
bệnh, chứng bệnh không lây nhiễm tăng từ 42% lên 66% tổng số DALY. Tỷ trọng
gánh nặng bệnh tật do chấn thương tương đối ổn định, chiếm khoảng 13%. 2 nhóm
bệnh thuộc các bệnh không lây nhiễm gây gánh nặng bệnh tật lớn nhất là bệnh ung
thư và tim mạch, tiếp theo sau đó là bệnh tâm thần và xương khớp. 10 bệnh không
lây nhiễm gây gánh nặng bệnh tật cao nhất chiếm 45% tổng số DALY của nhóm và
chiếm 30% tổng số DALY chung [42].
1.2.2. Tình hình chi trả thuốc bảo hiểm y tế
Đối với bệnh nhân có thẻ BHYT, chi phí thuốc chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT, khoảng trên 60%. Năm 2010, quỹ BHYT chi
trả 12.722 tỷ đồng tiền thuốc, tăng 25% so với năm 2009 và năm 2011 lên tới gần
15.000 tỷ đồng. Theo thống kê của cơ quan BHXH, chi phí thuốc tại tuyến huyện
thường chiếm khoảng 70% chi phí khám chữa bệnh BHYT [2].
2015
25,00
2011
15,29
2016
31,30
2012
18,99
2017
34,98
Trong đó, theo báo cáo về Thực trạng thanh toán chi phí thuốc BHYT, trong 20
nhóm tác dụng dược lý được BHYT chi trả nhiều trong năm 2016 thì nhóm thuốc
chống nhiễm khuẩn nhóm beta lactam là được chi trả nhiều nhất với 5.774,12 tỷ
đồng. Nhóm thứ hai là thuốc điều trị ung thư với 3.076,98 tỷ đồng và nhóm thứ ba
là thuốc kháng acid với 2.843,12 tỷ đồng [12].
1.2.3. Tình hình chi trả bảo hiểm y tế đối với thuốc sản xuất trong nước và thuốc
nhập khẩu
Trong năm 2012, Cục Quản lý dược đã tổ chức thành công diễn đàn “Người
Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”. Đây là một trong những giải pháp quan
trọng hỗ trợ cho ngành Dược VN phát triển bền vững, bảo đảm nguồn cung ứng
nhập khẩu chiếm tỷ lệ từ 63,2% đến 74,5%, cao nhất tại bệnh viện đa khoa TW
Thái Nguyên (74,5%), thấp nhất tại bệnh viện Chợ Rẫy (63,2%). Giá trị sử dụng
thuốc nhập khẩu tại bệnh viện Chợ Rẫy chiếm tỷ lệ tới 87,9%, cao nhất trong các
bệnh viện tuyến TW. Đối với các bệnh viện tuyến tỉnh, số thuốc sản xuất trong
nước chiếm tỷ lệ cao nhất là 41,1% (bệnh viện đa khoa Hải Dương) và thấp nhất là
22,6% (bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng). Mặc dù vậy giá trị thuốc sản xuất trong
nước tại bệnh viện đa khoa Hải Dương chỉ chiếm tỷ lệ 13,3%. Tỷ lệ số khoản mục
thuốc nhập khẩu nằm trong khoảng từ 59,9% đến 77,4%. Giá trị sử dụng thuốc nhập
khẩu tại tuyến bệnh viện này chiếm tỷ lệ từ 42,9% đến 86,7%, cao nhất tại bệnh
viện đa khoa Hải Dương (86,7%) [20]. Tại bệnh viện Đà Nẵng năm 2013, kết quả
nghiên cứu cho thấy các thuốc sản xuất trong nước chiếm 247/867 khoản mục thuốc
10
(chiếm tỷ lệ 28,49%) nhưng giá trị sử dụng thuốc chỉ đạt 33,51 tỷ (chiếm tỷ lệ
18,80% tổng kinh phí sử dụng thuốc). Các thuốc nhập khẩu chiếm 620/867 khoản
mục thuốc (chiếm tỷ lệ 71,51%), giá trị sử dụng thuốc đạt 144,74 tỷ (chiếm tỷ lệ
81,20% tổng kinh phí sử dụng thuốc). Như vậy các thuốc nhập khẩu có số lượng
thuốc và giá trị sử dụng lớn hơn rất nhiều so với các thuốc sản xuất trong nước, xét
về số lượng thì các thuốc nhập khẩu nhiều gấp 2,51 lần, xét về giá trị sử dụng các
thuốc nhập khẩu nhiều gấp 4,32 lần các thuốc sản xuất trong nước [16]. Theo kết
quả phân tích giá trị tiền thuốc BHYT tại thành phố Hải Phòng năm 2013, cơ cấu
thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu về số loại thuốc và giá trị tiền thuốc
cho thấy tỉ lệ thuốc nhập khẩu sử dụng tại các bệnh viện tuyến thành phố lớn hơn tại
các bệnh viện tuyến quận huyện cả về số lượng (52,6% và 32,5%) và giá trị tiền
thuốc (81,7% và 45,2%). Ở 22 bệnh viện tuyến quận huyện, về số lượng thuốc sản
xuất trong nước, trung bình các bệnh viện đạt 67.5% nhưng mới đạt được 54.8%
tổng giá trị tiền thuốc [34]. Nhóm thuốc nhập khẩu tập trung vào các thuốc điều trị
ung thư, thuốc tác dụng đối với máu, đạm truyền, thuốc kháng sinh tiêm thế hệ mới,
thuốc điều trị tim mạch. Các thuốc này chưa được sản xuất nhiều ở Việt Nam.
viện tuyến TW bằng 47% số chi thuốc tại bệnh viện tuyến TW, tại tuyến tỉnh bằng
24% số chi thuốc tại bệnh viện tuyến tỉnh và tại tuyến huyện bằng 7% số chi thuốc
tại bệnh viện tuyến huyện. Chi phí các thuốc biệt dược gốc hết hạn bản quyền có từ
1-3 số đăng ký nhóm I thay thế trở lên theo Công văn số 2713/BYT-QLD là 2.982
tỷ đồng. Như vậy chi phí thuốc biệt dược gốc năm 2016 sau khi đã tách chi phí của
các thuốc biệt dược gốc hết hạn bản quyền còn lại là 5.243,9 tỷ đồng; bằng 16%
tổng chi thuốc. Tỷ lệ sử dụng biệt dược gốc tương ứng tại tuyến TW, tuyến tỉnh,
tuyến huyện là 32%, 15% và 4% số chi thuốc. Trong thời gian tới danh mục thuốc
biệt dược gốc hết hạn bản quyền tiếp tục tăng lên, đồng thời một số biệt dược gốc
hiệu quả sử dụng không vượt trội so với thuốc nhóm I sẽ loại khỏi danh mục thì chi
phí biệt dược gốc tiếp tục giảm thêm [4].
Sử dụng các thuốc generic được xem là một trong những cách làm giảm chi
phí điều trị và đây cũng là một trong những tiêu chí Bộ Y tế đưa ra trong việc lựa
chọn thuốc sử dụng tại bệnh viện [6].
1.2.5. Tình hình chi trả bảo hiểm y tế đối với thuốc kháng sinh
Thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại
bệnh viện, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại VN có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao,
12
mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến [15].
Năm 2009, theo một thống kê của Bộ Y tế về tình hình sử dụng thuốc của một số
bệnh viện, tỷ lệ kinh phí sử dụng thuốc kháng sinh trung bình tại các bệnh viện đa
khoa tuyến TW (21 bệnh viện) là 28%, tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh (15
bệnh viện) là 34%, tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện (52 bệnh viện) là cao nhất
43% [26]. Nghiên cứu tại 38 bệnh viện đa khoa năm 2009 (7 bệnh viện đa khoa
tuyến TW và 14 bệnh viện tuyến tỉnh, 17 bệnh viện huyện, quận) đại diện cho 6
vùng trên cả nước cũng cho kết quả tương tự với tỷ lệ giá trị kháng sinh ở 3 tuyến
bệnh viện trung bình là 32,5%; trong đó cao nhất là ở các bệnh viện tuyến huyện
(43,1%) và thấp nhất tại bệnh viện tuyến TW (25,6%) [20]. Nghiên cứu tại bệnh
[22].
1.3. Vài nét về hệ thống y tế ở thành phố Đà Nẵng
1.3.1. Các bệnh viện công lập ở thành phố Đà Nẵng
Theo điều 41 của Luật khám, chữa bệnh năm 2009 thì các hình thức tổ chức
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm [29]:
- Bệnh viện
- Cơ sở giám định y khoa
- Phòng khám đa khoa
- Phòng khám chuyên khoa, bác sỹ gia đình
- Phòng chẩn trị y học cổ truyền
- Nhà hộ sinh
- Cơ sở chẩn đoán
- Cơ sở dịch vụ y tế
- Trạm y tế cấp xã và tương đương
Theo điều 81 của Luật khám, chữa bệnh năm 2009 hệ thống cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh của nhà nước gồm 4 tuyến như sau [29]:
+ Tuyến TW
+ Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc TW
+ Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
+ Tuyến xã, phường, thị trấn
Thông tư 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế quy định chi tiết
phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cụ
thể như sau [7]:
14
- Tuyến TW bao gồm:
+ Bệnh viện hạng đặc biệt.
+ Bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế
+ Bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc TW hoặc
độ, chuyên môn, chất lượng điều trị cho người bệnh.
Vấn đề bao phủ BHYT toàn dân phải được tiếp cận đầy đủ trên ba phương
diện về chăm sóc sức khỏe toàn dân của Tổ chức y tế thế giới bao gồm: i) Bao phủ
về dân số, tức là tỷ lệ dân số tham gia BHYT; ii) Bao phủ gói quyền lợi về BHYT,
tức là phạm vi dịch vụ y tế được đảm bảo; iii) Bao phủ về chi phí hay mức độ được
bảo hiểm để giảm mức chi trả từ tiền túi của người bệnh. Tuy nhiên, xuất phát từ
thực tế điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói
riêng, vấn đề thực hiện BHYT toàn dân hướng tới việc gia tăng tỉ lệ dân số tham gia
BHYT được xác định là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, trước khi cân nhắc mở rộng
phạm vi quyền lợi và mức độ được bảo hiểm [41]. Từ năm 2012 đến nay, tỷ lệ bao
phủ về dân số của BHYT tại thành phố Đà Nẵng đã đạt được cụ thể như sau:
Bảng 1.2. Phân bố về số người tham gia BHYT từ năm 2012 – 2015
STT
Năm
Số người tham gia
Tỷ lệ dân số
1
2012
887.089
91,66%
2
tiêu đề ra. Tính đến tháng 7/2016, thành phố Đà Nẵng đã đạt được 96,2% người dân
tham gia BHYT [43].
Để tiếp tục đẩy nhanh diện bao phủ BHYT nhằm phấn đấu rút ngắn lộ trình
tiến tới BHYT toàn dân đạt mục tiêu thuộc Đề án “Xây dựng thành phố 4 an”, với
16