BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG
CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC “LÚA SẠCH” TẠI
HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE
NGUYỄN CHÍ HẢI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2011
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐÁNH GIÁ HIỆU
QUẢ KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC “LÚA SẠCH”
TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE” do NGUYỄN CHÍ HẢI sinh viên khóa
2007 - 2011, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo vệ thành công
trước hội đồng vào ngày ______________________
TS. ĐẶNG THANH HÀ
Người hướng dẫn,
Ngày
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo
giúp đỡ tôi trong suốt khoảng thời gian làm luận văn tốt nghiệp.
Cho tôi gửi lời cám ơn đến tất cả bạn bè tôi những người đã giúp đỡ tôi về mặt
tinh thần cũng như những đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cám ơn!
Sinh viên
NGUYỄN CHÍ HẢI
NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN CHÍ HẢI. Tháng 07 năm 2011. “Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế và
Môi Trường của Mô Hình Canh Tác “Lúa Sạch” tại Huyện Thạnh Phú Tỉnh Bến
Tre”.
NGUYEN CHI HAI. July 2011. “An Assessment of the Economic Efficency
and Environmental Impact of the “Clean Rice” Production Model at Thanh Phu
District, Ben Tre Province”.
Khóa luận tìm hiểu về hiệu quả kinh tế của việc canh tác “lúa sạch” tại Huyện,
từ đó so sánh hiệu quả kinh tế với mô hình canh tác “lúa thường” và tác động môi
trường từ hai mô hình này. Trên cơ sở phân tích số liệu điều tra của 50 hộ canh tác
“lúa sạch” tại hai xã An Qui và An Nhơn cùng 30 hộ canh tác “lúa thường” tại thị trấn
Thạnh Phú huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre.
Xuất phát từ thực trạng canh tác đề tài thấy được sự khác biệt giữa vùng được
ngăn đê bao (tức canh tác lúa thường) với vùng chưa được bao đê (tức vùng canh tác
lúa - tôm), nhận thức được sự mở rộng mô hình lúa - tôm ngày càng nhiều. Qua kết
quả nghiên cứu cho thấy, với 1 công lúa - tôm trong 1 năm sẽ thu được lợi nhuận là
5.483.000 VNĐ (lúa: 1.359.000 VNĐ; tôm 4.124.000 VNĐ) với chi phí 3.171.000
VNĐ (lúa: 1.059.000 VNĐ; tôm: 2.112.000.VNĐ) và doanh thu 8.654.000 VNĐ (lúa:
2.418.000 VNĐ; tôm: 6.236.000 VNĐ). Lợi nhuận gấp đôi so với lúa thường.
Tính riêng quá trình sản xuất lúa thì chi phí cho 1 công lúa - tôm thấp hơn chỉ
bằng 64,38% so với lúa thường và năng suất thấp hơn khoảng 64 kg/công. Có sự
chênh lệnh nhưng khi tính về lợi nhuận thì không khác biệt nhiều đạt 96,73% so với
1.1. Đặt vấn đề
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
3
1.2.1. Mục tiêu chung
3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
3
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu
3
1.4. Phạm vi nghiêu cứu
3
1.5. Cấu trúc luận văn
4
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
2.3.3. Đặc điểm nông nghiệp huyện Thạnh Phú
15
2.3.4. Công tác khuyến nông – khuyến ngư của Huyện
16
2.3.5. Đặc điểm lúa - tôm huyện Thạnh Phú năm 2011
17
CHƯƠNG 3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lý luận
18
18
v
3.1.1. Các khái niệm
18
3.1.2. Sơ lược về cây lúa trong mô hình lúa - tôm
20
3.1.3. Mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa
4.1. Tình hình trồng lúa và nuôi tôm huyện Thạnh Phú
31
4.2. Mô hình 3 tăng - 3 giảm trong sản xuất lúa huyện Thạnh Phú
34
4.3. Đặc điểm mô hình trồng “lúa sạch” tại các hộ
34
4.4. Phân tích hiệu quả mô hình lúa - tôm
42
4.4.1. Phân tích hiệu quả chung của mô hình lúa - tôm
42
4.4.2. Sự khác biệt về năng suất lúa giữa mô hình lúa thường với lúa - tôm
47
4.4.3. So sánh tổng hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình canh tác
47
4.5. Phân tích tác động của mô hình đến năng suất lúa
58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
60
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH
Biến đổi khí hậu
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
TNMT
Tài nguyên môi trường
KNKN
Khuyến nông – khuyến ngư
NN&PTNT
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Tên Biến và Giải Thích Biến Trong Mô Hình
29
Bảng 4.1. Tình Hình Biến Động Cây Trồng Qua Các Năm
32
Bảng 4.2. Tình Hình Biến Động Nuôi Trồng Thủy Sản Qua Các Năm
33
Bảng 4.3. Chi Phí Đầu Tư Ban Đầu Cho 1 Công Nuôi Tôm
43
Bảng 4.4. Chi Phí Đầu Tư Sản Xuất Cho 1 Công Nuôi Tôm/Năm
44
Bảng 4.5. Chi Phí Đầu Tư Sản Xuất Cho 1 Công Trồng Lúa Trong Vuông Tôm
45
Bảng 4.6. Kết Quả - Hiệu Quả Kinh Tế của Lúa - tôm Cho 1 Công/Năm
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Bến Tre
6
Hình 2.2. Bản Đồ Hành Chính Huyện Thạnh Phú
8
Hình 2.3. Kim Ngạch Xuất Khẩu Nông - Lâm - Thủy Sản và Nhập Khẩu Nông Lâm
Thủy Sản của Việt Nam Giai Đoạn 2001 - 2009 (triệu USD)
13
Hình 3.1. Sơ Đồ Phát Triển Cây Lúa
21
Hình 3.1. Đặc Điểm Sinh Học của Hệ Sinh Vật:
24
Hình 4.1. Cơ Cấu Nhóm Tuổi của Hộ Điều Tra
35
41
Hình 4.10. Số Nguồn học hỏi Kinh nghiệm của Chủ Hộ
42
ix
DANH MỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LÚA VÀ TÔM
PHỤ LỤC 2: KẾT XUẤT HÀM NĂNG SUẤT
PHỤ LỤC 3: KẾT XUẤT MÔ HÌNH HỒI QUY BỔ SUNG
PHỤ LỤC 4: KẾT XUẤT KIỂM ĐỊNH LM
PHỤ LỤC 5: KẾT XUẤT KIỂM ĐỊNH WHITE
PHỤ LỤC 6: CÁC KIỂM ĐỊNH GIẢ THIẾT CHO MÔ HÌNH
PHỤ LỤC 7: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN ĐIỀU TRA
x
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp và khu vực nông thôn ở nhiều
nước trên thế giới đang đứng trước những thách thức to lớn. Do tác động của biến đổi
khí hậu, bệnh dịch phát triển trên phạm vi toàn cầu cùng với những bất ổn trong khu
vực tài chính tiền tệ, sự phát triển khoa học kỹ thuật dần dần theo hướng công nghiệp
lúa luân canh 1 vụ tôm và 2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm… Từ đó, cây lúa lại được người
nông dân quan tâm nhưng quá trình canh tác có nhiều khác biệt so với truyền thống.
Cây lúa trông ao tôm được gọi là “lúa sạch” vì nó phát triển tự nhiên, không sử dụng
thuốc trừ sâu, chỉ sử dụng một ít phân bón, chế phẩm vi sinh, góp phần làm cho hạt
gạo đảm bảo được chất dinh dưỡng cao hơn, an toàn hơn cho người tiêu dùng, đảm
bảo được sức khỏe cho người dân khi không sử dụng thuốc hóa học. Đây cũng là hàng
nông sản rất phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước hiện nay.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi giữa mô hình trồng lúa và nuôi tôm gây rất nhiều
khó khăn cho người dân, phải thật kỷ trong quá trình làm đất và xử lý môi trường khi
chuyển đổi giữa hai mô hình canh tác. Do đó, quy trình sản xuất từ mô hình trồng “lúa
sạch” sẽ khác nhiều so với mô hình trồng “lúa thường” và lợi nhuận thu về cũng sẽ
khác biệt rất nhiều.
Hiệu quả của mô hình trồng “lúa sạch” ở Bến Tre nói chung và huyện Thạnh
Phú nói riêng sẽ mang lại cho người dân niềm tin về chất lượng hạt gạo được làm ra,
vấn đề thu nhập sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn so với hình thức chỉ canh tác lúa và
giảm được nhiều rủi ro hơn so với nuôi tôm. Bên cạnh đó, chi phí cho việc đảm bảo
nguồn nước trong ruộng lúa và chi phí xử lý đất làm ảnh hưởng đến chất lượng môi
trường cũng có nhiều khác biệt, những ảnh hưởng môi trường từ việc nuôi tôm để lại.
Xuất phát từ hai vấn đề trên đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của
mô hình canh tác “lúa sạch” tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre” được thực hiện
dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Đặng Thanh Hà.
2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đề tài tập trung phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất trồng “lúa
sạch” từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình này. Đánh giá sự tác động khác biệt
từ hai mô hình canh tác đến chất lượng môi trường. Từ đó đưa ra khuyến cáo, kiến
nghị hướng phát triển cho hoạt động trồng lúa.
1.5. Cấu trúc luận văn
Bài luận văn được chia làm 5 chương
Chương 1: Đặt vấn đề
Chương này giới thiệu sơ lược về lí do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý
nghĩa nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và tổng quan về cấu trúc luận văn.
Chương 2: Tổng quan
Giới thiệu tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan. Giới thiệu tổng quát về
điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Thạnh Phú và
tỉnh Bến Tre nói chung. Cuối cùng là sơ lược về đặc điểm nông nghiệp của Việt Nam,
tỉnh Bến Tre và huyện Thạnh Phú.
Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày các cơ sở lí luận, các khái niệm và kỹ thuật canh tác “lúa
sạch” cũng như các đặc điểm của cây lúa và con tôm. Trình bày các phương pháp
nghiên cứu bao gồm phương pháp thu thập số liệu, thống kê mô tả, xử lý số liệu và
phân tích hồi qui, để phân tích lợi ích chi phí, xây dựng hàm năng suất lúa.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Tiến hành phân tích lợi ích – chi phí của mô hình “lúa sạch” và so sánh hiệu
quả về kinh tế và môi trường với mô hình trồng “lúa thường”. Phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả canh tác “lúa sạch”. Đưa ra các số liệu tính toán từ số liệu đã
thu thập được. Sử dụng phương pháp hồi qui chạy mô hình kinh tế lượng để xác định
hiệu quả của mô hình.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Đưa ra những kết luận chính mà đề tài đã thực hiện và một số kiến nghị cho
hoạt động trồng lúa của Huyện.
4
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
đồng ruộng nên thời gian trồng lúa sẽ càng bị rút ngắn. Giải pháp là sử dụng các giống
lúa ngắn ngày (100 đến 120 ngày). Hiện nay, có ít bằng chứng cho thấy rằng mô hình
tôm - lúa có thể làm giảm sản lượng lúa trong mùa mưa.
Mang lại thu nhập cao nhưng mô hình tôm - lúa cũng chứa đựng những rủi ro
về tài chính. Với chi phí để thả nuôi một vuông tôm có thể gấp 3 lần thu nhập từ vụ
lúa, một đợt dịch bệnh có thể khiến người nông dân điêu đứng. Phần lớn tôm giống
đang phải vận chuyển nhiều giờ trên đường từ các tỉnh miền Trung, trong khi việc sản
xuất giống phù hợp với độ mặn thấp trong các hồ nuôi còn gặp nhiều khó khăn về kỹ
thuật. Tuy nhiên thu nhập từ trồng lúa và các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp đã
giúp cho các gia đình đa dạng thu nhập, và giảm tác động của các rủi ro
().
2.2. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.2.1. Tổng quan về tỉnh Bến Tre
Hình 2.1. Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Bến Tre
Nguồn:
6
a) Đặc điểm vị trí địa lý
Bến Tre là một tỉnh nằm ở phía Đông vùng đồng bằng sông Cửu Long. Về hình
dạng, Tỉnh có hình rẻ quạt mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn các nhánh sông lớn
giống như nan quạt xòe rộng ra ở phía Đông. Diện tích tự nhiên của Tỉnh có 2.356,85
km2, chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL. Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang có ranh giới
chung là sông Tiền, phía tây và tây nam giáp tỉnh Vĩnh Long, phía nam giáp tỉnh Trà
Vinh cùng chung ranh giới là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông với chiều dài
bờ biển 65 km. Thành phố Bến Tre cách Thành phố Hồ Chí Minh 85 km. Với chiều
dài giáp biển Đông của Tỉnh khá rộng nên khả năng chịu ảnh hưởng của BĐKH ở Bến
Tre là rất lớn.
b) Đặc điểm địa hình
nằm cuối cù lao Minh, giữa hai sông Hàm Luông, Cổ Chiên và tiếp giáp biển Đông.
Hệ thống giao thông đường bộ bao gồm một tuyến đường quốc lộ 57 xuyên suốt qua
Huyện, 7 tuyến đường huyện và những tuyến đường nhỏ được phân bổ đều trên toàn
Huyện, mật độ 0,833 km/km2. Về đường thủy, với 25 km đường bờ biển cùng 2 con
sông lớn là sông Hàm Luông (chiều dài 29 km) và sông Cổ Chiên (chạy qua Huyện dài
27 km) là huyết mạch quan trọng chạy qua địa phận Huyện, còn phải kể tới hệ thống
kênh rạch chằng chịt có mật độ cao tạo nhiều thuận lợi cho việc lưu thông đường thủy
của nhân dân trong Huyện.
Ranh giới hành chính
- Phía Đông giáp Biển Đông.
- Phía Tây giáp huyện Mỏ Cày.
- Phía Bắc giáp huyện Ba Tri với ranh giới là sông Hàm Luông.
- Phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh với ranh giới tự nhiên là sông Cổ Chiên.
8
Tọa độ địa lý: được giới hạn bởi:
- Kinh độ đông:
106o24’41’’ đến 106o41’47’’
- Vĩ độ bắc:
9o47’45’’ đến 10o03’52’’
Chiều dài nhất theo trục đông tây là 31,4 km, nơi hẹp nhất theo trục Bắc Nam là
9,8 km (từ Mỹ Hưng đến Bình Thạnh), nơi rộng nhất 16,3 km (từ An Điền đến Thạnh
Phong).
Về hành chính, huyện Thạnh Phú gồm 1 thị trấn và 17 xã. Thị trấn là trung tâm
hành chính, kinh tế, văn hóa của Huyện nằm cách TP. Hồ Chí Minh 94 km và cách TP.
hàng năm vào khoảng 9.900 - 10.000oC và không có sự khác nhiều giữa các tháng,
thuận lợi cho việc nuôi trồng quanh năm.
d) Độ ẩm
Do gần biển, độ ẩm tương đối của Huyện nhìn chung khá cao (81 - 83,7%) vào
mùa mưa các nơi vùng ven biển có khi đạt 84 - 94%, thấp nhất là tháng 2 đến tháng 3
(65 - 80%).
e) Gió
Thạnh Phú chịu ảnh hưởng của gió mùa, gió mùa Tây Nam mang theo mưa từ
tháng 5 đến tháng 11 hàng năm và gió mùa Đông Bắc trong mùa khô với vận tốc 3 5m/s có khi đạt tới 10 m/s trong tháng 3 và tháng 12 đôi khi gây thiệt hại cho vùng bờ
biển. Vùng biển Thạnh Phú ít có bão, tuy nhiên trong những năm qua có các cơn bão
đột xuất cũng gây thiệt hại đáng kể cho dân cư, cơ sở hạ tầng và tàu bè vùng ven biển.
f) Lượng mưa
Với vị trí nằm cận vùng duyên hải của biển Đông, Thạnh Phú là khu vực có
lượng mưa thấp nhất đồng bằng sông Cửu Long, lượng mưa bình quân hàng năm
1.279 mm và tương phản rõ rệt giữa hai mùa, lượng mưa mùa khô là 61 mm chiếm 5%
lượng mưa cả năm. Trong khi lượng mưa vào mùa mưa là 1.218 mm chiếm 95% lượng
mưa cả năm.
g) Tài nguyên nước
Nước mặt
- Vào mùa nước kiệt khi lượng nước sông đổ ra giảm xuống, quá trình xâm
nhập mặn tăng lên (sông Hàm Luông xâm nhập mặn mạnh hơn các sông khác trong
Huyện). Địa bàn xa biển nhất như Phú Khánh, Thới Thạnh cũng có thời gian mặn kéo
dài 2 - 3 tháng/năm. Theo số liệu quan trắc hàng năm: chất lượng nước trong mùa khô
sạch hơn mùa mưa và sông Cổ Chiên sạch hơn sông Hàm Luông.
10
- Do ở hạ lưu 2 con sông lớn Hàm Luông và Cổ Chiên thông ra biển Đông nên
chịu tác động thủy triều của biển Đông thuận lợi cho việc cấp thoát nước nuôi trồng
thủy sản tự chảy nhờ thủy triều. Nguồn nước mặt trong khu vực của Huyện trực tiếp
Khu vực rừng ngập mặn ven biển với chức năng như vùng đệm sinh thái khá
thuận lợi cho môi trường, được xem là rừng đặc dụng. Diện tích rừng hầu hết là rừng
trồng phòng hộ ven biển với các loài như: đước, bần trắng, bần chua, dừa nước, mắm
trắng, lát nước... chưa có giá trị kinh tế cao về mặt kinh tế nhưng có tác dụng bảo vệ
đất đai ven biển hoặc có thể tận dụng nuôi xen tôm.
Thảm thực vật vùng nước lợ ven sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên thường
xuyên bị ngập theo triều cường gồm: dừa nước, bần...
Tài nguyên động vật
Các động vật nuôi và các động vật sống ở hệ sinh thái rừng ngập mặn và ven
biển gồm: 27 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư, chim, thú... Tài nguyên động vật có giá trị
kinh tế chủ yếu là thủy sản bao gồm nước ngọt, lợ, mặn và hải sản. Do có hơn 25 km
chiều dài tiếp giáp với biển Đông nên có nguồn thủy hải sản tự nhiên tương đối dồi
dào (661 loài cá, 20 loài tôm, nghêu, sò, cua...).
Do vậy, các hệ sinh thái phổ biến ở Thạnh Phú là hệ sinh thái cửa sông và vùng
ngập mặn. Đây là những lợi thế so sánh lớn trước mắt và lâu dài của Huyện đặc biệt là
để phát triển một nền nông nghiệp và thủy sản toàn diện.
2.3. Tổng quan về đặc điểm nông nghiệp
2.3.1. Đặc điểm nông nghiệp Việt Nam
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp nhiệt đới có thể áp dụng các biện pháp
thâm canh tăng vụ, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ. Tùy thuộc vào địa hình, đất mà có các
hình thức canh tác khác nhau. Hiện nay, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng
của Việt Nam. Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng,
tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước. Tỷ trọng
của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây, trong khi các
các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng. Đóng góp của nông nghiệp tạo việc làm còn lớn
hơn cả đóng góp của ngành này vào GDP. Trong năm 2005, có khoảng 60% lao động
làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản. Sản lượng nông nghiệp
xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2005. Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp,
đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất
có được thương hiệu riêng cho hạt gạo của mình. Do đó, mỗi tấn gạo của chúng ta
được bán thấp hơn Thái Lan 100 USD dù cùng chủng loại. Tính ra, chúng ta mất hơn
600 triệu USD cho 6 triệu tấn gạo xuất khẩu. Nhiều người còn so sánh gạo Việt Nam
với gạo Mỹ, dù chất lượng gạo Mỹ thua xa nhưng giá bán vẫn cao hơn giá gạo ta. Do
đó, nhất thiết phải xây dựng được thương hiệu cho hạt gạo, phải giải được bài toán
chất lượng thì mới có thể xây dựng và giữ được thương hiệu gạo Việt trên thị trường
thế giới. Bộ NN&PTNT xác định, trong những năm tiếp theo vấn đề quan trọng là tập
trung sản xuất tốt để có gạo chất lượng tốt, bán có giá, bảo đảm lợi nhuận cho nông
dân.
2.3.2. Đặc điểm nông nghiệp tỉnh Bến Tre
Bến Tre là Tỉnh có nền sản xuất nông nghiệp rất đa dạng do đặc điểm tự nhiên,
với ba vùng sinh thái mặn, lợ, ngọt khác nhau. Ngành nông nghiệp Tỉnh cũng đã ứng
dụng các quy trình, mô hình canh tác tiên tiến, an toàn như: mô hình 3 tăng – 3 giảm,
IPM, sản xuất trái cây nghịch vụ, sản xuất rau an toàn, trồng rau màu luân vụ trên đất
lúa, chăn nuôi an toàn sinh học, chăn nuôi kết hợp sản xuất khí sinh học, trồng xen cây
ca cao trong vườn dừa, nuôi xen tôm cá trong vườn dừa và ruộng lúa,…và đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, góp phần quyết định trong việc chuyển đổi cơ cấu, nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả cây trồng, vật nuôi theo hướng chuyên canh tập
trung, an toàn dịch bệnh, an toàn môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm.
Lĩnh vực trồng trọt chuyển dịch theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Cơ cấu giống lúa được chuyển đổi theo hướng có năng suất, chất lượng, giống có sức
đề kháng sâu bệnh tốt và chịu mặn cao. Cây màu phát triển khá mạnh với các hình
thức chuyên canh trên đất giồng cát và luân canh theo hướng đưa cây màu xuống
ruộng có năng suất, hiệu quả khá cao. Diện tích trồng mía giống mới có năng suất và
chữ đường cao tăng nhanh, chiếm trên 70% tổng diện tích mía toàn tỉnh.
Bến Tre cũng có diện tích trồng lúa khá lớn. Đất Bến Tre do phù sa sông Cửu
Long bồi đắp, đặc biệt là ở Hàm Long. Cây lương thực chính là lúa, hoa màu phụ cũng
chiếm phần quan trọng là khoai lang, bắp, và các loại rau. Loại cây công nghiệp mang
nước. Từ thị trấn ngược lên Đại Điền, Phú Khánh là những cánh đồng lúa bao la. Từ
thị trấn đi về phía biển, diện tích đồng lúa bị thu hẹp dần lại, nhường chỗ cho các đầm
nuôi tôm, đưa lại thu nhập cao gấp nhiều lần trồng lúa. Người dân ở vùng này còn có
thu hoạch từ rừng, từ đánh bắt và chế biến hải sản.
Nông dân huyện Thạnh Phú đang gặt hái một vụ lúa bội thu trên diện tích gần
6.000 ha thuộc vùng nước lợ vốn trước đây trồng lúa mùa luôn thất bát, sau khi chuyển
15