Thiết kế trò chơi dùng trong giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học qua các hoạt động ngoại khóa - Pdf 49

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo, cán bộ khoa Khoa học xã hội và
khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Quảng Bình đã tạo điều kiện
thuận lơi cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các giảng viên đã nhiệt tình giảng dạy và gợi mở
trong tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên ThS. Lê
Thị Thu Hiền, người đã tận tâm hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành bài khóa luận.
Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các bạn sinh viên lớp
Đại học GD Tiểu học A K56 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận
văn. Đồng thời xin gửi lời cám ơn đến các thầy (cô) và các học sinh tại trường Tiểu
học và Trung học cơ sở Nam Hóa đã nhiệt tình tham gia trả lời câu hỏi khảo sát và
các hoạt động ngoại khóa giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tác giả
Cao Thị Tuyết


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số liệu và kết
quả nghiên cứu của đề tài là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì một
công trình nào.
Tác giả
Cao Thị Tuyết


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................................... 1
2. Lịch sử ngiên cứu ........................................................................................................ 3
3. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 4
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài ............................................................ 4

2.2.2. Yêu cầu về trò chơi .............................................................................................. 23
2.2.3. Một số lưu ý khi sử dụng trò chơi học tập........................................................... 23
2.2.4. Cách thức tổ chức trò chơi học tập ...................................................................... 23
2.3. SƯU TẦM VÀ THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP .............................. 26
2.3.1. Nhóm trò chơi sưu tầm ........................................................................................ 26
2.3.2. Nhóm trò chơi tự thiết kế ................................................................................... 38
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................................... 42
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG ........................................ 43
TIỂU HỌC VÀ THCS NAM HÓA............................................................................... 43
3.1. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................ 43
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm .................................................................... 43
3.1.2. Ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm ...................................................................... 43
3.2. NỘI DUNG THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................................ 43
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm ........................................................................................ 43
3.2.2. Thời gian thực nghiệm......................................................................................... 44
3.2.3. Nội dung thực nghiệm ......................................................................................... 44
3.3. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ ...................................................... 51
3.3.1. Kết quả kiểm tra nhận thức .................................................................................. 51
3.3.2. Kết quả kiểm tra thái độ....................................................................................... 55
3.3.3 Kết quả điều tra hành vi........................................................................................ 56
3.3.4. Đánh giá chung kết quả thực nghiệm .................................................................. 58
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................................... 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 60
1. KẾT LUẬN ............................................................................................................... 60
2. KIẾN NGHỊ ............................................................................................................... 60
2.1. Đối với công tác quản lí chỉ đạo chuyên môn ........................................................ 60
2.2. Đối với giáo viên .................................................................................................... 60
2.3. Đối với học sinh ..................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 62
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 64


Học sinh

5

HSTH

Học sinh Tiểu học

6

MT

Môi trường

7

NXB

Nhà xuất bản


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Nguồn thông tin học sinh tiếp nhận về vấn đề MT và BVMT ..................... 44
Bảng 3.2. Nhận thức của HS về hành vi BVMT ........................................................... 45
Bảng 3.4. Nhận thức về hành vi BVMT của HS sau thực nghiệm................................ 52
Bảng 3.5. So sánh nhận thức về hành vi BVMT của HS trước và sau thực nghiệm..... 53
Bảng 3.6. Nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của HS trong việc BVMT .......................... 54
Bảng 3.7. So sánh nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của HS trong việc BVMT trước và
sau thực nghiệm ............................................................................................................. 54

nhà trường. Với nhiệm vụ: “Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, môi
trường, dân số rèn luyện thể chất cho học sinh” [17].
Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở học sinh sự hiểu biết và
quan tâm trước những vấn đề môi trường bao gồm kiến thức, thái độ hành vi trách
nhiệm và kỹ năng để tự mình và tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề
môi trường trước mắt cũng như lâu dài. Giáo dục môi trường nhằm mục đích cuối
cùng là học sinh được trang bị ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của
trái đất năng lực biết tự đánh giá vẻ đẹp thiên nhiên.
Trong hệ thống nhà trường, việc giáo dục môi trường (GDMT) cần được
coi trọng đặc biệt ở bậc tiểu học, bởi lẽ: Bậc tiểu học là bậc học nền móng, bậc
phổ cập của hệ thống giáo dục quốc dân. Hàng chục triệu trẻ em một khi đã được
1


giáo dục đầy đủ các hành trang về nhận thức, tri thức về bảo vệ môi trường sẽ là
một lực lượng hùng hậu đóng vai trò nòng cốt, trong mọi hành động cải thiện
môi trường, bảo vệ tài nguyên của xã hội. Học sinh tiểu học ở độ tuổi đang phát
triển và định hình dần về nhân cách. Vì vậy những hiểu biết cơ bản của các em được
bồi dưỡng qua giáo dục môi trường sẽ để lại dấu ấn sâu sắc không thể phai mờ
trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em. Đồng thời trẻ em lứa tuổi này có tính
tích cực cao, dễ hưng phấn, hiếu động, nghịch ngợm nếu không được giáo dục sẽ
dẫn tới hành động phá hoại môi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức.
Có thể nói giáo dục môi trường ở trường Tiểu học trong những năm gần đây và
nhất là hiện nay đã thực sự được coi trọng và được xúc tiến bằng hai con đường: con
đường trực tiếp thông qua giảng dạy môn văn hóa trong chương trình ở trường Tiểu
học nội dung giáo dục môi trườngđã được đưa vào các môn học: Tự nhiên xã hội,
Tiếng Việt, Đạo đức...và được giảng dạy ngay từ lớp 1. Và con đường gián tiếp là
thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Đối với học sinh Tiểu học, tổ chức giáo dục
ở trên lớp và ngoài lớp là hai bộ phận hữu cơ hợp thành một thể thống nhất nhằm thực
hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường. Thế nhưng hoạt động chính khóa hình thành

giáo dục môi trường trong trường tiểu học. Vấn đề được đặt ra trong 2 cuốn đều là giáo
dục môi trường, đề ra 1 số biện pháp giáo dục môi trường. Tuy nhiên không đi sâu vào
một biện pháp cụ thể nào. Để giáo dục đạt hiệu quả thì cần phải có những phương
pháp giáo dục cụ thể, đặc biệt là với lứa tuổi tiểu học [11], [12].
+ Trong cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí
lực, thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thắng (chủ biên) và cuốn “150 trò chơi thiếu
nhi” của Bùi Sỹ Tụng, Trần Quang Đức (đồng chủ biên), các tác giả đã đề cập đến lí
luận về trò chơi như vai trò, cách thức tổ chức, ưu nhược điểm và các hoạt động vui chơi
chung chung, mang tính khái quát cao [9], [13].
+ Tác giả Bùi Phương Nga và Vũ Xuân Đỉnh đã đề cập tới lí luận về trò chơi học
tập, các hoạt động vui chơi của HS tiểu học và các nghiên cứu sáng tác trò chơi phục
vụ hoạt động dạy học của giáo viên trong tài liệu “Học mà vui – vui mà học’ và “Trò
chơi học tập Tự nhiên – xã hội 1, 2, 3”. Tuy nhiên các trò chơi, hoạt động chơi của học
sinh gắn liền với các môn học chính khóa chủ yếu là môn Tự nhiên- Xã hội [2], [8].
+ Ở cuốn “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học
sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương, tác giả nghiên cứu lí luận về môi
trường và đề ra một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học
sinh tiểu học nhưng việc ứng dụng trò chơi trong hoạt động ngoại khóa giáo dục
BVMT vẫn chưa được tìm hiểu sâu [6].
Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu như:
+ Đề tài “Giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa môn tự nhiên - xã
3


hội” của Nguyễn Thị Loan, tác giả đã nghiên cứu lí luận môi trường và GDMT cho
HSTH qua các hoạt động ngoại khóa môn Tự nhiên – xã hội. Tuy nhiên, tác giả vẫn
chưa tìm hiểu sâu việc ứng dụng trò chơi và giáo dục BVMT cho học sinh tiểu học,
qua các buổi ngoại khoá khác ngoài môn Tự nhiên – xã hội.
Nhìn chung có rất nhiều đề tài về GDMT cho HSTH trong đó một số đề tài đã
khai thác các trò chơi sử dụng trong GDMT. Tuy nhiên, các đề tài hầu hết đều sử dụng

môi trường cho học sinh Tiểu học.
- Thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài.
7. Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng trò chơi học tập để GDMT cho học sinh khối lớp 3 và lớp 5 Trường
Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Hóa.
8. Các phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu:
Tôi đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu về môi trường, giáo dục môi trường, các
tài liệu về tâm lí học, các tài liệu bàn về vấn đề tổ chức các hoạt động ngoại khóa và
các trò chơi học tập dùng trong hoạt động ngoại khóa. Việc nghiên cứu cơ sở lí luận
này đã giúp tôi có căn cứ để xác định được các khả năng, tiêu chí lựa chọn các hình
thức tổ chức hoạt động ngoại khóa GDMT cũng như các trò chơi học tập liên quan đến
chủ đề GDMT.
* Phương pháp điều tra, khảo sát:
Tôi đã tiến hành điều tra về thực trạng nhận thức và hành vi và nhận thức của
giáo viên cũng như học sinh về vấn đề môi trường và BVMT thông qua phiếu điều tra.
Tìm hiểu thực trạng vấn đề tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDMT trong nhà trường
Tiểu học nhằm tìm ra những khó khăn, hạn chế của giáo viên khi tiến hành các hoạt
động ngoại khóa GDMT. Đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc thiết kế tổ chức các
hoạt động ngoại khóa GDMT, các trò chơi học tập dùng trong hoạt động một cách phù
hợp với trình độ của giáo viên, năng lực của học sinh, đặc biệt là khơi dậy sự hứng thú,
ham học hỏi của học sinh Tiểu học.
*Phương pháp thực nghiệm:
Đây là phương pháp được sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của mục đích đã đề
ra, kiểm định tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng các trò chơi học tập trong các
hoạt động ngoại khóa GDMT. Tôi sử dụng phương pháp này để thực nghiệm sư phạm
tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Hóa.
*Phương pháp thống kê toán học:
Được dùng để phân tích và xử lí các kết quả thu được qua điều tra và thực
nghiệm.

tại phải biết săn bắn và hái lượm mới chống lại được thú dữ, có thực phẩm để ăn và
vượt qua được điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên. Gặp khi thuận lợi săn bắt được
nhiều muông thú, người ta nuôi (nhốt) để dành cho những ngày thời tiết xấu không đi
săn bắt được hoặc lễ hội. Khi trao đổi kinh nghiệm sau mỗi buổi săn hay khi bắt lại các
vật nuôi chính là lúc tập luyện và vui chơi, thi tài.
Vì thế có thể nói trò chơi xuất hiện từ rất lâu, nó gắn liền với các hoạt động lao
động, văn hóa và tín ngưỡng của cong người thời tiền sử. Xuất phát từ những hành
động, hành vi mô phỏng các hoạt động lao động như: đi, chạy, nhảy, leo trèo, nắm bắt,
ném phóng… những thao tác bắt chước đó được hình tượng hóa mang tính chất tượng
trưng tập luyện cho thuần thục và đôi khi mang tính thần bí.
Với sự phát triển của xã hội, các nghi thức tôn giáo mất dần ý nghĩa chỉ còn giữ
lại mục đích vui chơi,giải trí,rèn luyện giáo dục của cộng đồng.Nhờ khả năng tư duy,
ngôn ngữ phát triển người ta nhận thấy sự quan trọng của sự chuẩn bị trước về các
công cụ lao động, sức khỏe và sự tập luyện những thao tác cơ bản để hiệu quả lao
động được cao hơn.
Vì vậy, “đối tượng” bị rượt đuổi được thay thế bằng “vai diễn” cũng là con
người, hoạt động tư duy và khái quát của người tham gia đã bổ sung thêm làm cho luật
và các quy ước trong trò chơi phong phú và mang tính chất tượng trưng cao hơn.
Trò chơi hoàn toàn và luôn luôn biến đổi theo từng sự phát triển của thể chế xã
hội, vì nó là phương tiện của giáo dục nên mỗi chế độ xã hội đều dùng trò chơi để
phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của xã hội đó. Do tính chất hấp dẫn, lôi cuốn nên
trò chơi không chỉ là phương tiện mà nó còn là phương pháp được sử dụng trong giáo
dục đối với mọi đối tượng đặc biệt là trẻ Tiểu học.
7


1.1.1.2. Phân loại trò chơi
Ngày nay trò chơi rất phong phú, đa dạng và được sử dụng vào nhiều mục đích
khác nhau. Căn cứ vào hình thức tổ chức và mục đích sử dụng có thể phân ra 4 loại trò
chơi, bao gồm:


vì vậy việc vận dụng trò chơi để giáo dục môi trường thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng cao
[2]. Cụ thể là:
- Hình thành hành vi đúng đắn – mục tiêu của vấn đề giáo dục môi trường. Nội
dung các trò chơi sẽ minh họa một cách sinn động các mẫu hành vi này. Nhờ đó mà
các hành vi này sẽ tạo được những biểu hiện rõ rệt ở học sinh, giúp các em ghi nhớ rõ
ràng lâu bền.
- Trò chơi học tập sẽ làm thay đổi thái độ và hành vi về môi trường, cũng như
luyện tập cho học sinh những kĩ năng đúng đắn về vấn đề môi trường, giúp các em thể
hiện hành vi một cách đúng đắn và tự nhiên.
- Qua trò chơi học sinh có cơ hội thể hiện những chuẩn mực hành vi bảo vệ môi
trường. Chính nhờ sự thể hiện này sẽ hình thành ở học sinh niềm tin về những chuẩn
mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi bảo vệ môi trường
trong cuộc sống.
- Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho
mình một cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với môi trường.
- Năng lực quan sát, kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác có phù
hợp hay không phù hợp với chuẩn mực hành vi bảo vệ môi trường cũng được hình
thành ở học sinh thông qua trò chơi.
1.1.2. Một số vấn đề về giáo dục môi trường
1.1.2.1.Khái niệm môi trường
"Môi

trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ

mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường
của Việt Nam) [22].
Môi trường sống của con người dựa vào chức năng được chia thành các loại sau:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh

công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, xóa nghèo
đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài
nguyên. Hơn nữa,nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực và
cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề
môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh.
Ở trong khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về vấn đề giáo dục môi
trường ở trong trường Tiểu học. Bởi Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất
quan trọng trong việc đào tạo các em trở thành công dân tốt cho đất nước, hơn nữa số
lượng học sinh Tiểu học rất đông chiếm khoảng gần 10% dân số. Con số này sẽ nhân
lên nhiều lần nếu các em biết và thực hiện được tuyên truyền về bảo vệ môi trường
trong cộng đồng, tiến tới tương lai cố cả một thế hệ biết bảo vệ môi trường.
10


1.1.2.3. Mục tiêu giáo dục môi trường trong trường Tiểu học
Xuất phát từ mục tiêu chung về GDMT các nước sẽ xây dựng mục tiêu riêng cho
nước mình, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động
của từng cấp học, dựa trên tiêu chuẩn quan trọng nhất là hành động tích cực của cá
nhân và tập thể trong việc cải thiện chất lượng môi trường. Thông qua chỉ thị 36/CTTƯ đưa ra ngày 25/6/1998 của bộ chính trị về “tăng cường công tác BVMT trong thời
kì công nhiệp hóa hiện đại hóa đất nước” ở đó có công tác GDMT là giải pháp đầu
tiên: ”Thường xuyên giáo dục,tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong
trào quần chúng BVMT” [12]. Vì vậy, mục tiêu GDMT trong nhà trường nhằm “Mỗi
trẻ được trang bị một ý thức trách nhiệm dối với sự phát triển bền vững của Trái Đất,
một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách được khắc
sâu bởi một nền tảng đạo lí về môi trường”.
1.1.2.4. Nhiệm vụ giáo dục môi trường ở trường Tiểu học
GDMT là một quá trình nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái
độ và hành vi đúng đắn cho học sinh về vấn đề môi trường, do đó có các nhiệm vụ sau:
- Làm cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường nói chung và môi
trường Việt Nam nói riêng. Nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít với sự tác động

Hoạt động ngoại khóa là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong toàn bộ
quá trình giáo dục của các trường phổ thông nói chung, của trường Tiểu học nói riêng.
Biết, hiểu, thiết kế và tổ chức hiệu quả hoạt động ngoại khóa trong trường Tiểu học
là một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo viên.
b, Mục đích
- Củng cố, khắc sâu những kiến thức đã được học qua các môn học ở trên lớp.
- Phát triển sự hiểu biết của học sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội, từ đó làm phong phú thêm vốn tri thức của các em.
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng ban đầu, cơ bản cần thiết phù hợp
với sự phát triển chung của trẻ (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tham gia các hoạt động tập thể,
kĩ năng nhận thức,…)
- Góp phần hình thành và phát triển tính tích cực, tự giác cho học sinh trong việc
tham gia vào các hoạt động chính trị- xã hội. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng cho trẻ thái độ
đúng đắn với các hiện tượng tự nhiên và xã hội, thái độ có trách nhiệm đối với công việc
chung.
c, Ý nghĩa
Hoạt động ngoại khóa là hoạt động mang lại rất nhiều ý nghĩa, có thể kể đến như
sau:
- Phản ánh cuộc sống học tập, sinh hoạt và rèn luyện của HS Tiểu học ở nhà
trường, gia đình và trong cộng đồng.
12


- Những thông tin cập nhật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù
hợp với nhận thức của học sinh tiểu học.
- Tạo cơ hội để học sinh tiểu học phát triển các khả năng của mình trong hoạt động
ngoại khóa.
1.1.3.2. Phân loại
Có nhiều hình thức ngoại khóa, tuy nhiên ở trong khóa luận, tôi đặc biệt đề cập tới
các hình thức ngoại khóa với nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu học:

thì trí tuệ và tình cảm mới có khả năng phát triển tốt [5].
Cơ thể của học sinh tiểu học có những đặc điểm sau:
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay
đang trong thời kỳ phát triển nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,.. Vì thế mà trong các hoạt
động vui chơi của các em, cha mẹ và thầy cô cần phải chú ý quan tâm, hướng các em
tới hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi các
trò chơi từ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ.
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy các em
chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó,
các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của
các em.
1.1.4.2. Đặc điểm về hoạt động môi trường sống
- Hoạt động của học sinh tiểu học: Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo
của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về
chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập.
- Những thay đổi kèm theo:
+ Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham
gia các công việc trong gia đình. Điều này thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn,
hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,... các em phải tham gia lao động sản
xuất cùng gia đình từ rất nhỏ.
+ Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay
đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức,
thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập trung tốt.
+ Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính
tập thể. Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người
biết đến mình.
Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp
đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cục của các em trong công việc gia đình, quan hệ
xã hội và đặc biệt là trong học tập.

năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông
qua kênh thông tin khác nhau.
+ Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau
dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào
các loại sách .
15


- Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:
+ Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều
khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú
ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng
trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu
dàng...[5].
+ Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của
mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ có sự nỗ lực về ý chí
trong hoạt động học tập như học thuộc lòng một bài thơ, một công thức toán...Trong
sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn củ yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng
được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công
việc trong khoảng thời gian quy định [5].
-Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn
so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa,
chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa xây dựng dàn
bài để ghi nhớ tài liệu.
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi
nhớ chủ định phát triển . Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn
của nộ dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hừng thú của các em.

trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn. Sau 5
năm học, "tính cách học đường" của trẻ mới dần ổn định và bền vững [1].
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc
điểm cơ bản sau:
Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình
phát trẻ luôn bộc lộ nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư,
hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng, nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm
ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác
động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển.
Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được
"chụp mũ" nhân cách tốt đẹp, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi
mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không
đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy.

17


1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1.Thực trạng và nhận thức hành vi của học sinh Tiểu học về môi trường
và bảo vệ môi trường
1.2.1.1. Về mức độ nhận thức
- Về mức độ tiếp nhận những thông tin về vấn đề môi trường và bảo vệ môi
trường: Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng là nguồn tác động GDMT lớn
nhất sau đó là nhà trường. Điều này chứng tỏ GDMT đang được triển khai ngày càng
mạnh mẽ hơn ở các trường Tiểu học. Tuy nhiên, năng lực và thời gian của giáo viên
mới chỉ tập trung chủ yếu vào các môn học như Toán, Tiếng Việt, TNXH… còn rất ít
hoạt động ngoại khóa đề cập đến vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường, và trong các hoạt
động được tổ chức việc kết hợp lồng ghép trò chơi còn hạn chế.
- Khả năng nhận thức về trách nhiệm và các biện pháp bảo vệ môi trường của
học sinh Tiểu học: Ở trường Tiểu họcphần lớn các em học sinh đã nhận thức được vai

được giáo viên đều nhận thức đúng về vai trò của trò chơi giáo dục trong các hoạt
động ngoại khóa.
Trò chơi trong hoạt động ngoại khóa được sử dụng ở các mức độ khác nhau. Ở
trong các trường Tiểu học thuộc địa bàn các thành phố, các trung tâm, mức độ và tần
suất sử dụng nhiều. Ở các trường thuộc địa phương, vùng núi, vùng có kinh tế khó
khăn và đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số thì mức độ và tần suất sử dụng còn thấp, có
nơi không sử dụng đến.
Mặc dù giáo viên còn đánh giá cao vai trò và mức độ cần thiết của trò chơi trong
các hoạt động ngoại khóa giáo dục BVMT nhưng vẫn chưa sử dụng triệt để, bởi các lí
do sau:
- Yêu cầu mục đích giáo dục môi trường cho học sinh quá rộng nhưng điều kiện
thực tế để giáo dục lại còn quá hạn chế, nên việc thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường
cho học sinh ở Trường tiểu học gặp nhiều khó khăn.
- Kiến thức thực tế về môi trường của học sinh còn quá hạn hẹp.
- Nhận thức về bảo vệ môi trường trong quần chúng ở địa phương chưa cao nên
dẫn đến ý thức tự giác BVMT của học sinh còn hạn chế
- Do tâm sinh của lứa tuổi dễ nhớ nhưng chóng quên nên việc thực hiện bảo vệ
môi trường chưa được thường xuyên.
- Kế hoạch về bảo vệ môi trường giữa địa phương và nhà trường chưa được
thống nhất nên kết quá giáo dục chưa cao.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status