VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LAN NGỌC
VAI TRÕ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN
TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TAM NÔNG - PHÖ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LAN NGỌC
VAI TRÕ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN
TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TAM NÔNG - PHÖ THỌ
Chuyên ngành : Chính trị học
Mã số: 8310201
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HỒ VIỆT HẠNH
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CHÍNH QUYỀN CẤP
HUYỆN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN TAM NÔNG – TỈNH PHÚ THỌ ......................... 61
3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp ................................................................ 61
3.2. Giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền cấp huyện Tam Nông – tỉnh
Phú Thọ trong công tác thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia
đình…........................................................................................................... 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 74
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. CNH – HĐH:
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.
2. CTV DS:
Cộng tác viên Dân số
3. DS-KHHGĐ:
Dân số - kế hoạch hóa gia đình.
4. HĐND:
Hội đồng Nhân dân
5. MCBGT:
hiện tốt các chính sách DS-KHHGĐ, duy trì mức sinh thay thế, bảo đảm cân bằng
giới tính hợp lý, nâng cao chất lượng dân số”. Đại hội XII (2016): Tiếp tục đổi
mới, hoàn thiện chính sách DS-KHHGĐ… Thực hiện tốt chiến lược dân số, gia
đình, chương trình hành động vì trẻ em... đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ
số phát triển con người, bảo đảm tổng tỉ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân
bằng giới tính khi sinh và bảo đảm quyền trẻ em. Nghị quyết số 21 ngày
25/10/2017 nêu rõ: “Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu
dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Chính sách dân số phải bảo đảm cân
bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền,
vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương
1
pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất
lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đầu tư cho công tác
dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy
mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công
tác dân số” [70].
Hội nghị TƯ 6 khóa XII cũng xác định phải kiếm soát quy mô, nâng cao
chất lượng dân số: “Trong 25 năm qua, cả nước ta đã kiên trì, kiên quyết thực hiện
chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, mỗi cặp vợ chồng chỉ có 2 con theo
tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII”.
Ngày 25/10/2017 Hội nghị làn thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác Dân số trong tình
hình mới. Trong Nghị quyết có nhận mạnh trong nhiệm vụ và giải pháp đó là:
Tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, đề cao
tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ
trương, chính sách về công tác Dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy
con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa rộng trong toàn xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dân số là một đề tài lớn, thu hút rất nhiều các nhà khoa học, các tổ chức
nghiên cứu. Chính vì vậy, có rất nhiều công trình được công bố về vấn đề này,
như:
Về giáo trình:
Nguyễn Văn Thanh (2005), “Dân số học và Địa lý dân cư”. NXB
ĐHKHXHNV HCM. Công trình đã đưa ra một số vấn đề lớn như: Một số vấn đề
về nhập môn Dân số học; Vấn đề phân bố dân cư; Cơ cấu dân số; Biến động dân
số; đặc biệt là khái quát tình hình dân số Việt Nam.
3
Trường Cao đẳng y tế Hà Đông (2013), “Dân số học cơ bản”. Công trình
đã đưa ra một số nội dung cơ bản về Nhập môn dân số ; chất lượng dân số và các
yếu tố ảnh hưởng; Tình hình dân số địa phương và xây dựng tháp dân số của địa
phương làm tiền đề nghiên cứu.
Về Tạp chí, luận văn, có các công trình:
Dương Đình Thiện (2003), “Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ,
dân số kế hoạch hóa gia đình tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”, Tạp chí
nghiên cứu Y học, số 22 (2) – 2003. Tác giả đã đưa ra những số liệu cho thấy các
bà mẹ chưa quan tâm tới sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở đó
đưa ra những biện pháp nhằm thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Bùi Thị Hồng Lâm (2005), “Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực
đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế của Đại học quốc gia Hà Nội trong
bối cảnh hội nhập”. Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục - Đại học Quốc gia Hà
Nội. Tác giả đã đưa ra 3 vấn đề cơ bản: Thứ nhất, Cơ sở lý luận về quản lý nâng
cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế; thứ hai, thực trạng
năng lực đội ngũ làm công tác quan hệ quốc tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội; thứ
ba, các biện pháp quản lý nhằm hình thành và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán
bộ làm công tác quan hệ quốc tế.
tác dân số trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2010 – 2013; Đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai đến năm 2025.
Phạm Văn Hùng (2014), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ dân số kế
hoạch hóa gia đình trên địa bàn huyện Gia Bình – tỉnh Bắc Ninh”. Tác giả đã đưa
ra một số lý luận cơ bản về công tác DS – KHHGĐ; đưa ra thực trạng chất lượng
đội ngũ cán bộ dân số, qua đó chỉ ra những giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ
DS – KHHGĐ huyện Gia Bình.
5
Đặng Thị Huyền (2014), “Quản lý công tác dân số kế hoạch hóa gia đình
trên địa bàn huyền Gia Lâm, thành phố Hà Nội”. Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh
tế - Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn
trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, tổ chức bộ máy dân số ở huyện Gia
Lâm qua đó đưa ra kiến nghị về chính sách thực hiện công tác dân số.
Nguyễn Duy Vương (2014), “Công tác xã hội với việc thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình của xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”.
Luận văn Thạc sĩ quản lý – Học viện Nông nghiệp Viêt Nam. Tác giả chia ra làm
3 phần: Thứ nhất, là tổng quan về địa bàn nghiên cứu; thứ hai, là đưa ra thực trạng
về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; cuối cùng, đưa công tác xã hội là vai
trò với việc thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Nguyễn Thị Thu Huyền (2015), “Nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn
huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội”. Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam. Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận của đề tài, kết quả nghiên
cứu thực trạng chất lượng dân số rồi đưa ra một vài kiến nghị quan trọng trong
việc thực hiện nâng cao chất lượng dân số ở huyện Gia Lâm.
Nguyễn Thị Thu (2015), “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số kế hoạch hóa gia đình tại huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh”. Luận văn Thạc sĩ quản
lý Kinh tế. Công trình này đã khái quát về công tác dân số huyện Quế Võ; đưa ra
thực trạng về bộ máy tổ chức ngành công tác dân số rồi đưa ra biện pháp để nâng