VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LINH
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LINH
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ
2.3. Hạn chế, vướng mắc trong áp dụng quy định của pháp luật về vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự tại tỉnh Nghệ An và nguyên
nhân của hạn chế, vướng mắc ..................................................................................... 45
Chương 3: YÊU CẦU GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI
TỈNH NGHỆ AN TRONG THỜI GIAN TỚI ..................................................... 53
3.1. Yêu cầu tăng cường vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình
sự tại tỉnh Nghệ An ...................................................................................................... 53
3.2. Giải pháp tăng cường vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
hình sự tại tỉnh Nghệ An.............................................................................................. 62
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 81
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCA
BLHS
BLTTHS
BQP
CHXHCN
CQĐT
HĐXX
KSĐT
KSND
KSV
KSTTPL
KSXX
KSXXHS
KSXXST
NDTC
: Nhân dân tối cao
: Nghị quyết
: Tòa án nhân dân
: Tòa án nhân dân tối cao
: Thực hành quyền công tố
: Trách nhiệm hình sự
: Tố tụng hình sự
: Thông tư liên tịch
: Ủy ban nhân dân
: Vụ án hình sự
: Viện kiểm sát
: Viện kiểm sát nhân dân
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
: Viện kiểm sát tối cao
: Xã hội chủ nghĩa
: Xét xử sơ thẩm
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Thống kê số vụ án bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử sơ thẩm và số
lượng bị đình chỉ, tạm đình chỉ, điều tra bổ sung giai đoạn 2011-2016 .. 41
Bảng 2: Thống kê số vụ án/bị cáo VKS đưa ra xét xử sơ thẩm đã giải
quyết và bị đình chỉ, tạm đình chỉ, điều tra bổ sung ............................... 42
Bảng 3: Thống kê số vụ án/bị cáo đã giải quyết trong phiên tòa sơ thẩm
và số vụ án/bị cáo kháng nghị ...................................................................... 43
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
tư, kinh doanh tại Nghệ An.
Hòa cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của địa phương, hệ thống VKS
hai cấp tỉnh Nghệ An cũng đã có những bước phát triển vượt bậc. Hằng năm,
hai cấp VKS đã thụ lý giải quyết trên hàng nghìn vụ án các loại. Tuy số lượng
các loại án năm sau luôn cao hơn năm trước với nhiều vụ án rất phức tạp,
nhưng tỷ lệ giải quyết các loại án của từng năm luôn được nâng cao. Trong
xét xử VAHS, hầu hết đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật ,
không kết oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
Trong phần xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong
thời gian tới, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã
nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động
công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình
tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm
oan người vô tội”…
Nhằm để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của VKSND trong TTHS, từ đó
đánh giá thực trạng về hoạt động của VKSND trong thực tiễn để tìm ra những
ưu điểm, khuyết điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến các hạn chế.
Trên cơ sở đó, nhằm đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện vai
trò của VKSND trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp. Tuy nhiên, trong quá trình cải cách tư pháp, với những đặc thù
riêng về chính trị, kinh tế, xã hội cũng như vai trò của VKSND trong bộ máy
nhà nước Việt Nam, những vấn đề lý luận về quyền công tố đòi hỏi tiếp tục
được nghiên cứu thấu đáo, tạo tiền đề lý luận và pháp lý cho VKSND thực
hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong TTHS. Việc xây dựng cơ sở lý
luận toàn diện trong bối cảnh cải cách mạnh mẽ về tư pháp hiện nay vẫn đang
là đòi hỏi cấp thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện về tổ chức, hoạt động
của ngành Kiểm sát cũng như nhận thức đúng về vị trí, vai trò, chức năng của
2
nước và Pháp luật, pháp chế XHCN, Đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam
về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta
5
hiện nay. Quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
nói chung, VKSND nói riêng trong thời kỳ đổi mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu và hoàn thiện trên cơ sở phương pháp khoa học
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác Xít. Trong quá trình thực hiện đề
tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu như:
Phương pháp phân tích để diễn giải làm sáng tỏ các khái niệm, các quy định
của pháp luật hiện hành về vai trò của VKSND trong TTHS, phương pháp
lịch sử để nhìn nhận, đánh giá các quy định pháp luật qua các thời kỳ phát
triển, phương pháp so sánh để có sự đối chiếu, làm rõ sự khác nhau và làm rõ
sự tiến bộ của pháp luật về vấn đề nghiên cứu qua các thời kỳ lịch sử.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đi sâu nghiên cứu có hệ thống lý luận
và thực tiễn về vai trò của VKSND trong TTHS tại tỉnh Nghệ An. Luận văn
góp phần làm phong phú thêm tri thức về pháp luật TTHS, đấu tranh chống
tội phạm và phòng ngữa tội phạm trên thực tiễn, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo
hộ. Do đó luận văn bao hàm những ý nghĩa sau:
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của
pháp luật TTHS về vai trò của Kiểm sát viên trong TTHS, tác giả mong muốn
góp phần vào việc phát triển lý luận về vai trò của VKS, đồng thời gợi mở
một số vấn đề để cơ quan Nhà nước có thẩ m quyền cần tâm trong việc thực
hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đúng với mục tiêu mà Nghị
quyết số 49-NĐ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị đề ra.
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Những lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
hình sự
1.1.1. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
hình sự
Thuật ngữ “vai trò”. Vai trò có nghĩa là “tác dụng, chức năng của ai hoặc
cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức”
Từ khái niệm “vai trò” nêu trên có thể có thể đưa ra khái niệm vai trò
của VKSND trong tố tụng hình sự là phương diện hoạt động cơ bản của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự nhằm hướng tới kết quả, mục đích,
yêu cầu đã đề ra [45, tr.11].
Hiến pháp năm 2013 quy định: VKSND có chức năng THQCT và kiểm
sát hoạt động tư pháp; VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật , bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Theo đó, pháp luật TTHS quy
định vai trò rất quan trọng của VKSND là cơ quan có thẩm quyền tham gia tất
cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
VKSND là một trong bốn hệ thống cơ quan cấu thành của bộ máy nhà
nước, đóng một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự pháp luật, bảo
vệ chế độ. Xác định được tầm quan trọng của hệ thống cơ quan này, thời gian
qua, cùng với việc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã chủ trương đổi mới
tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong đó có VKSND. Đây
là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng được thể hiện trong nhiều văn
kiện: Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 Về một số công việc cấp bách của
các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Nghị quyết số 088
NQ/TW ngày 02/01/2002 Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp
trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Về chiến lược
VKSNDTC là cơ quan kiểm sát cao nhất của Nhà nước, có chức năng
giám sát pháp luật và lãnh đạo VKS địa phương các cấp trong việc thực hiện
chức năng giám sát pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật được
đúng đắn và thống nhất.
VKSND các cấp ở địa phương gồm: VKSND dân tỉnh, VKSND thành
phố, VKSND huyện. VKS là cơ quan độc lập với Chính phủ và Toà án. Viện
trưởng VKSNDTC do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội.
VKS không chịu sự tác động từ phía các cơ quan hành chính, nhưng chịu sự
giám sát của Quốc hội. VKS được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, các KSV phải phục tùng sự chỉ đạo
của Viện trưởng VKS cùng cấp và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Xu hướng xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
theo hướng là một cơ quan tư pháp trong bộ máy Nhà nước, có tính độc lập
như quy định của Hiến pháp hiện hành là phù hợp với tiến trình lịch sử tư
pháp ở nước ta và phù hợp với xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới
(như Trung Quốc, Liên bang Nga, Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ…). ở các nước trên, Viện kiểm sát (hoặc Viện
công tố) được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống
nhất dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát tối
cao (hoặc Tổng Công tố trưởng/Tổng Kiểm sát trưởng); các cơ quan chính
quyền không có quyền can thiệp vào công việc cụ thể của các Kiểm sát viên
(hoặc Công tố viên) [09, tr.103].
Trong khi ở các nước có cơ quan Công tố đang trực thuộc Bộ Tư pháp,
xu hướng chung hiện nay đều muốn cơ quan Công tố độc lập với Bộ Tư pháp
để các Công tố viên có điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của mình mà không
phải chịu bất cứ sự can thiệp nào thì không có lý gì chúng ta lại đưa Viện
kiểm sát theo mô hình mà các nước muốn thay đổi.
10
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
11
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Như vậy, từ các nghiên cứu của mình, chúng tôi mạnh dạn cho rằng,
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự là sự thể hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các phương diện hoạt động cơ bản của Viện
kiểm sát nhân dân trong mối quan hệ với các chủ thể tiến hành tố tụng khác
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án.
1.1.2. Các hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng hình sự
1.1.2.1. Hoạt động thực hành quyền công tố
Quyền công tố là quyền nhân danh công quyền buộc tội người phạm tội và
bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa. Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội
phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
cáo, kháng nghị. Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, Nhà nước quy định các
quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu TNHS
đối với người phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ án ra Tòa để xét xử
và bảo vệ việc buộc tội đó gọi là cơ quan thực hành quyền công tố. Ở nước ta, nhà
nước giao cho VKSND thực hiện chức năng này, cho nên chỉ có VKS mới có
chức năng THQCT mà không có cơ quan nào có được.
Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố TTHS để
thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về bản chất, THQCT là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực
hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay
từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt
quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự (Khoản 1, Điều 3 Luật
việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, không làm oan
người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị
khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công
dân trái luật. Về phạm vi, THQCT có phạm vi rất rộng, từ khi có tội phạm xảy
ra đến khi bản án, quyết định về VAHS có hiệu lực pháp luật. Quyền công tố
được thực hiện ở nhiều giai đoạn, trong đó giai đoạn từ khi có tội phạm xảy ra
14
đến khi VKSND có quyết định truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án được
gọi là THQCT trong giai đoạn điều tra VAHS.
Ý nghĩa công tác thực hành quyền công tố của VKS nhằm bảo đảm: (1)
Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không
để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, (2) Không để
người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công
dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm
một cách trái pháp luật, (3) Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can
phải có căn cứ và đúng pháp luật.
Như vậy, VKSND thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất qua đó bảo vệ Hiến
pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
1.1.2.2. Hoạt động kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử
vụ án hình sự
Theo quy định của pháp luật và thực tiễn VAHS vài thập kỷ qua, tác
giả nhận thấy vai trò của VKSND trong TTHS qua hoạt động kiểm sát khởi
tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử vụ án hình sự được thể hiện như sau:
Thứ nhất là, vai trò, trách nhiệm của VKS khi thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc khởi tố - điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi
phạm tội và người phạm tội đều được phát hiện, xử lý theo quy định của pháp
tội; nếu thấy việc truy tố không có lợi nhiều mặt thì đình chỉ vụ án , bị can
(miễn truy tố) khi có những căn cứ luật định.
Trong giai đoạn truy tố, VKSND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi
THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp để bảo đảm quyền con người của
người bị buộc tội theo điều 16 và điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và
Điều 236, 237 BLTTHS năm 2015.
Sau khi nghiên cứu toàn bộ nội dung vụ án, KSV phải tổng hợp toàn bộ
chứng cứ, xem xét đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ trên cơ
sở các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội; chứng cứ chứng minh tình tiết tăng
nặng TNHS, tình tiết giảm nhẹ TNHS, đặc điểm nhân thân bị can và thực hiện
các phương pháp nghiên cứu trong trường hợp bị can nhận tội , không nhận
16
tội, trong đó phải lưu ý nghiên cứu kỹ nội dung lời khai của bị can chứng
minh tình trạng ngoại phạm và các tình tiết có liên quan đến vụ án để phát
hiện ra những mâu thuẫn ngay trong lời khai của bị can để có thể xác định lời
khai đó không phù hợp với các chứng cứ khác và bác bỏ lời khai không nhận
tội. Trường hợp bị can lúc nhận tội, lúc chối tội, hoặc nhận tội một phần thì
phải nghiên cứu kỹ cả những lần bị can khai nhận tội và không nhận tội để
xem xét lời khai nào là khách quan và phù hợp với các chứng cứ khác. Đối
với những lời khai của bị can một mực kêu oan không nhận tội thì phải phúc
cung ngay đối với bị can để làm rõ sự thật vụ án. Nghiên cứu kỹ lờ i khai của
người bị hại làm rõ mức độ bị thiệt hại; nếu bản thân bị hại cũng có lỗi thì
thường không nhận lỗi về mình…
Thứ ba là, vai trò, trách nhiệm của VKS trong việc bảo đảm của người bị
buộc tội qua hoạt động THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử
các VAHS ở giai đoạn xét xử giúp HĐXX tuyên bản án có căn cứ và hợp pháp.
Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 266, 267 BLTTHS
năm 2015: Khi THQCT trong giai đoạn xét xử VAHS, VKSND có nhiệm vụ,
biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ , tạm giam; (d)
Quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ , tạm giam không có căn cứ và
trái pháp luật; (đ) Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm
quyền trong việc tạm giữ, tạm giam đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi
bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ , tạm giam, chấm dứt
hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật; (e) Khởi
tố hoặc yêu cầu CQĐT khởi tố VAHS khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội
phạm trong tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật; (g) Giải quyết
khiếu nại, tố cáo và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc
tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.
Thứ năm là, vai trò, trách nhiệm của VKS trong việc bảo đảm quyền con
người của người bị buộc tội qua công tác thụ lý, giải quyết và kiểm sát việc giải
quyết khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành
tố tụng có thẩm quyền ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Thứ sáu là, vai trò, trách nhiệm của VKSND qua công tác THQCT,
kiểm sát xét xử để thực hiện quyền kháng nghị theo các thủ tục phúc thẩm ,
18
giám đốc thẩm hình sự do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS hoặc do có
sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc tái thẩm hình sự do
phát hiện có tình tiết mới. Trong TTHS, VKSND là cơ quan duy nhất có thẩm
quyền kháng nghị theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình
sự. Đây là hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp
của bản án, quyết định của Tòa án nhằm phục hồi công lý; khắc phục oan sai,
vi phạm quyền con người của người bị buộc tội ở nhiều mức độ và phạm vi
khác nhau. Hiệu quả bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội của
VKS phụ thuộc rất lớn vào tỉ lệ kháng nghị theo các thủ phúc thẩm , giám đốc
thẩm, tái thẩm hình sự và bảo vệ thành công các kháng nghị đó.
Thứ bảy là, vai trò, trách nhiệm của VKSND trong việc bảo đảm quyền