Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT bình xuyên – vĩnh phúc(2018) - Pdf 49

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

LƯU THỊ QUYÊN

LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC
NHANH NÂNG CAO THÀNH TÍCH
CHẠY 100M CHO NỮ ĐỘI TUYỂN ĐIỀN
KINH TRƯỜNG THPT BÌNH XUYÊN –
VĨNH PHÚC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI, 5/2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

LƯU THỊ QUYÊN

LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC
NHANH NÂNG CAO THÀNH TÍCH
CHẠY 100M CHO NỮ ĐỘI TUYỂN ĐIỀN
KINH TRƯỜNG THPT BÌNH XUYÊN –
VĨNH PHÚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục Thể chất

Cán bộ hướng dẫn



GDTC

: Giáo dục thể chất

HLV

: Huấn luyện viên

N

: Số người

(s)

: Giây

STN

: Sau thực nghiệm

STT

: Số thứ tự

TD

: Thể dục

TDTT


XPT

: Xuất phát thấp


MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..................... 4
1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong
trường học ................................................................................................. 4
1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và vai trò của GDTC trong trường học...................... 5
1.2.1. Mục tiêu của giáo dục thể chất trong trường học ................................... 5
1.2.2. Nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong trường học .................................. 6
1.2.3. Vai trò của giáo dục thể chất trong trường học....................................... 6
1.3. Nội dung và các giai đoạn huấn luyện điền kinh ....................................... 7
1.3.1. Nội dung huấn luyện điền kinh ............................................................... 7
1.3.2. Các giai đoạn huấn luyện điền kinh ........................................................ 7
1.4. Sức nhanh và các biểu hiện của sức nhanh. ............................................ 11
1.4.1 Đặc điểm sức nhanh ............................................................................... 11
1.4.2. Cơ sở sinh lý của sức nhanh.................................................................. 13
1.5. Phương pháp rèn luyện sức nhanh ........................................................... 16
1.5.1. Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản ......... 16
1.5.2. Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng phức tạp ......................... 17
1.5.3. Phương pháp rèn luyện sức nhanh tần số động tác .............................. 17
1.5.4. Mối quan hệ giữa các tố chất thể lực trong việc nâng cao thành tích
chạy 100m ............................................................................................... 18
1.6. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT ............................................... 21
1.6.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT .................................................... 21



3.2.1. Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ
đội tuyển điền kinh trường THPT Bình Xuyên – Vĩnh Phúc ....................... 34
3.2.2. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức nhanh trong chạy
100m cho nữ đội tuyển trường Bình Xuyên – Vĩnh Phúc ..................... 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BIỂU BẢNG
Số biểu
bảng
Bảng 3.1

Nội dung

Trang

Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Bình

28

Xuyên – Vĩnh Phúc
Bảng 3.2

Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC

29


=8)

Bảng 3.7

Tiến trình thực nghiệm

38

Bảng 3.8

Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm

39

(

=

=8)

Biểu đồ 3.1 Biểu diễn kết quả chạy 30m XPT TTN và STN(s)

40

Biểu đố 3.2 Biểu diễn kết quả chạy 60m XPT TTN và STN(s)

40

Biểu đồ 3.4 Biểu diễn kết quả chạy 100m XPT TTN và STN(s)

tác dụng phát triển các tố chất thể lực cho con người như: Sức nhanh, sức
mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động; giáo dục năng lực thực hành, ý
thức kỷ luật, tính tự giác tích cực và ý chí vươn lên cho người học. Ngoài ra,


2
môn điền kinh còn là một nội dung cơ bản không thể thiếu của hầu hết các
chương trình giảng dạy của các trường phổ thông, trung cấp, cao đẳng và đại
học.
Trong môn điền kinh, chạy 100m là môn được nhà trường đặc biệt
quan tâm. Tập luyện và thi đấu chạy 100m đòi hỏi vận động viên phải hội tụ
đầy đủ các tố chất thể lực và khả năng phối hợp vận động. Trong đó, việc phát
triển sức nhanh là rất quan trọng và là khâu then chốt vì nó ảnh hưởng trực
tiếp đến thành tích môn chạy 100m. Qua quá trình theo dõi, tìm hiểu về quá
trình học tập và tập luyện của các em nữ đội tuyển điền kinh trường THPT
Bình Xuyên – Vĩnh Phúc, tôi thấy hiệu quả chưa được cao, đặc biệt là sức
nhanh trong chạy 100m.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu chúng tôi được biết môn chạy 100m
đã có một số tác giả nghiên cứu như: Nguyễn Thị Mến (K33) khóa luận tốt
nghiệp năm 2011, Lê Thị Kim Thuý (K36) khóa luận tốt nghiệp năm 2014,
Lâm Đức Thuận (K33) Khoá luận tốt nghiệp… Tuy nhiên, chưa có tác giả
nào nghiên cứu sức nhanh nhằm nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội
tuyển điền kinh Trường THPT Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu
đề tài: “Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy
100m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Bình Xuyên – Vĩnh phúc ”
* Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn được bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy
100m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Bình Xuyên – Vĩnh Phúc để
ứng dụng vào giảng dạy và góp phần nâng cao thành tích chạy 100m.

nguyện của nhân dân, tạo điều kiện để không ngừng mở rộng các hoạt động
thể dục thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao”.[6]
Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban Bí thư (khóa IX) về phát triển TDTT đến
năm 2010. Sau 8 năm thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW của Ban Bí thư Trung
ương Đảng (khoá VII) và 4 năm thực hiện Thông tri 03-TT/TW của Bộ Chính
trị (khoá VIII), sự nghiệp thể dục thể thao nước ta đã có bước phát triển đáng
khích lệ, góp phần tích cực vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới và
phát triển kinh tế - xã hội. Thể dục thể thao quần chúng được mở rộng trong
các đối tượng và địa bàn với nhiều hình thức phong phú, đã có 13% dân số


5
thường xuyên luyện tập thể dục thể thao. Thể dục thể thao trường học được
chú trọng hơn. Thành tích các môn thể thao được nâng cao, nhiều môn đạt thứ
hạng cao tại các Đại hội thể thao Đông - Nam Á (SEA Games) và một vài
môn đạt trình độ chung của châu Á. Công tác tổ chức và quản lý ngành thể
dục thể thao được tăng cường một bước quan trọng. Cơ sở vật chất thể dục
thể thao bước đầu được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới. Quan hệ quốc tế về
thể thao được mở rộng[1].
Luật Giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2/12/1998 và pháp lệnh TDTT được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định:“Nhà nước coi trọng
TDTT trong trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp
thanh niên nhi đồng. GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh,
sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến
đại học. TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt
buộc và tổ chức TDTT ngoại khóa cho người học. Nhà nước khuyến khích và
tạo điều kiện cho học sinh được tập TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và
điều kiện từng nơi. GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu
giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

Mục tiêu của nền giáo dục nước ta đặt ra phải đào tạo ra những con
người phát triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mỹ. Nên bên cạnh công tác
giáo dục văn hóa thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng. Nó là một tiền
đề giúp người học có đủ sức khỏe, tinh thần thoải mái, sảng khoái để tiếp thu
kiến thức của các môn khác.
GDTC trường học là cơ sở, nền tảng của TDTT quốc dân. Đây là một
chiến lược quan trọng và có tác dụng lâu dài vì lực lượng học sinh, sinh viên
là lực lượng rất đông đảo và nhiệt tình trong việc tham gia tập luyện TDTT.
Phong trào TDTT trong học sinh, sinh viên phát triển sẽ kéo theo phong trào


7
thể thao quần chúng phát triển và đây cũng là cơ sở để tuyển chọn, bồi dưỡng
các tài năng thể thao tiến đến thể thao thành tích cao.
GDTC trong trường học làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của
người học. Nó là cầu nối để người học giao lưu, học hỏi, đoàn kết lại với
nhau. Nó khích lệ lòng tự tin, dũng cảm của bản thân người học có khát khao
khẳng định bản thân mình.
GDTC trong trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị cho lao động sản
xuất và sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Vì kết quả hoạt động GDTC nên trình độ
hoạt động thể lực của người học sẽ được nâng cao. Đó là cơ sở để tiếp thu các
thao tác lao động và giải quyết các nhiệm vụ mà thực tiễn đòi hỏi người lao
động và giải quyết các kỹ xảo vận động hoàn thiện. GDTC còn giúp các em
rèn luyện ý chí, tinh thần vượt khó, lòng tự tôn dân tộc, từ đó sẵn sàng tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.3. NỘI DUNG VÀ CÁC GIAI ĐOẠN HUẤN LUYỆN ĐIỀN KINH
1.3.1. Nội dung huấn luyện điền kinh
Nội dung huấn luyện thể thao nói chung và điền kinh nói riêng là quá
1trình huấn luyện về các mặt: Thể lực, kỹ - chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lý
và lý luận. Tất cả các mặt này đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau và tạo

Đặc điểm của giai đoạn này là sử dụng rộng rãi các phương pháp,
phương tiện huấn luyện, song có tính tới đặc thù của chạy ngắn.
Để huấn luyện tốc độ ở giai đoạn này không nên cho các em chạy với
tốc độ cực đại quá nhiều. Tập chạy trong các điều kiện khó khăn (chạy trên
bậc cầu thang, chạy trên dốc, chạy trên cát) luân phiên với chạy trong điều
kiện bình thường. Cần nhớ rằng điều quan trọng khi huấn luyện sức nhanh là
tình trạng hưng phấn tối ưu của hệ thần kinh trung ương, khi mà vận động
viên chưa bị mệt mỏi bởi những hoạt động trước đó. Vì vậy, các hoạt động
tốc độ cần được áp dụng ngay sau phần khởi động.


9
Để huấn luyện tốc độ có thể sử dụng các môn bóng (bóng đá, bóng rổ,
bóng ném) đòi hỏi phải sử dụng sức nhanh trong các tình huống thay đổi.
Trong những năm chuyên môn hóa ban đầu cần đặc biệt thận trọng tuân thủ
giới hạn cường độ của lượng vận động vì lúc này là lúc cơ thể các em đang
phát triển.
* Giai đoạn chuyên môn hóa sâu
Đặc điểm của giai đoạn này là tính chuyên môn hóa được thể hiện rõ
hơn. Tỷ trọng huấn luyện chuyên môn về thể lực, kỹ thuật, tâm lý được tăng
lên đáng kể. Khối lượng và cường độ của các phương tiện huấn luyện chủ yếu
tăng nhiều so với giai đoạn trước. Với mục đích hoàn thiện trình độ huấn
luyện về thể lực, kỹ thuật của vận động viên chạy ngắn, vẫn nên đa dạng hóa
các phương tiện huấn luyện và tỉ trọng tích hợp, đa dạng hóa điều kiện thực
hiện chúng và vị trí tiến hành tập luyện. Đây là giai đoạn vận động viên tập
luyện thể thao tích cực nhất đồng thời bộc lộ khả năng thể thao và đạt trình độ
điêu luyện về thể thao. Trong quá trình tập luyện thể hiện rõ đặc điểm của
chuyên môn hóa sâu như: Thể lực, kỹ thuật - chiến thuật, tâm lý cũng như
được nâng lên đáng kể nhờ tăng khối lượng đào tạo chung và cả khối lượng
các bài tập đào tạo chuyên môn cũng như các bài tập thi đấu. Tổng khối lượng

mạnh tốc độ. Tăng cường sức khỏe và rèn luyện sự bền bỉ dẻo dai của cơ thể.
Trong chạy 100m yêu cầu có các tố chất sức nhanh, sức mạnh tốc độ,
sức bền tốc độ. Trong đó, sức nhanh đóng vai trò quyết định đối với thành
tích chạy cự ly 100m, các tố chất này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tố chất
này củng cố cho tố chất kia phát triển. Nếu như thiếu đi một trong ba yếu tố
trên thì ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao thành tích chạy 100m.
+ Tố chất sức nhanh giúp đạt được tốc độ trong khi chạy.


11
+ Tố chất sức mạnh tốc độ giúp cho mỗi bước chạy có lực đạp ở chân
sau, tăng khả năng thực hiện động tác hiệu quả.
+ Tố chất sức bền tốc độ giúp duy trì được tốc độ trên toàn cự ly chạy
100m.
1.4. SỨC NHANH VÀ CÁC BIỂU HIỆN CỦA SỨC NHANH
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất ở
một điều kiện nhất định. Người ta phân biệt ba hình thức biểu hiện sức nhanh
như sau:
+ Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động.
+ Tốc độ động tác.
+ Tần số động tác.
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau. Đặc
biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan
với tốc độ động tác. Những hình thức kể trên là thể hiện các năng lực tốc độ
khác nhau. Trong thực tiễn thì sức nhanh được biểu hiện tổng hợp. Thí dụ:
thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứng vận động, tốc độ động
tác đơn và tần số bước chạy. Trong động tác có sự phối hợp phức tạp thì tốc
độ không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố
khác. Thí dụ: trong chạy thì tốc độ phụ thuộc vào độ dài bước chạy và tần số
của bước, còn bước chạy lại phụ thuộc vào độ dài chi dưới và lúc đạp sau. Vì

Khả năng kéo dãn, tính đàn hồi và khả năng thả lỏng của cơ hoạt động
thay đổi nhau trong các bài tập sức nhanh. Nếu các tính chất này không được
phát triển đầy đủ thì không thể đạt được biên độ động tác cần thiết và các cơ
đồng vận phải khắc phục một lực cản rất lớn trong quá trình thực hiện động
tác đặc biệt ở những điểm tiếp của động tác. Do đó, các bài tập kéo dãn và thả
lỏng phải luôn luôn là thành phần của huấn luyện nhằm phát triển sức nhanh.


13

* Sự nỗ lực về ý chí
Việc đạt được sức nhanh cao nhất phụ thuộc một cách quyết định vào
sự nỗ lực của ý chí. Bởi vì trong huấn luyện cự ly ngắn không có một sự bắt
buộc bên ngoài nào trực tiếp tác dụng lên vận động viên, như khi nâng một
quả tạ nặng hoặc khi nhảy cao nên khó sử dụng sức mạnh và ý chí một cách
tối đa. Dó đó, đòi hỏi phải đạt được những thành tích lớn về mặt ý chí thông
qua các yêu cầu cao trong huấn luyện, trong đó một điều kiện không thể thiếu
được là thông báo tốc độ đạt được bằng sự đo chính xác về thời gian. Điều
này được tiến hành tốt nhất trong huấn luyện thi đấu với đối phương.
Như vậy, sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình
thần kinh cơ và tốc độ co cơ. Cả hai nhóm mặc dù biến đổi dưới tác dụng của
tập luyện nhưng nói chung đều là những yếu tố được quy định với các đặc
điểm di truyền do đó trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm và ít
hơn sức mạnh và sức bền.
1.4.2. Cơ sở sinh lý của sức nhanh
a. Khái niệm:
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn
nhất (tính bảng m/s và tần số động tác).
b. Bản chất của sức nhanh
Đánh giá bằng tính linh hoạt thần kinh - cơ và tốc độ co cơ

Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả sức
nhanh ở dạng phức tạp. Thời gian phản ứng, thời gian của 1 động tác đơn lẻ
hoặc tần số động tác cục bộ càng cao thì tốc độ thực hiện các hoạt động phúc
tạp sẽ càng cao.
Các dạng biểu hiện sức nhanh đơn giản phát triển tương đối độc lập với
nhau. Thời gian phản ứng có thể rất tốt, nhưng động tác đơn lẻ lại chậm hoặc
tần số động tác lại rất thấp. Vì vậy sức nhanh là tố chất tổng hợp của 3 yếu tố


15
cấu thành là thời gian phản ứng, thời gian của cộng tác đơn lẻ và tần số hoạt
động.
* Đặc điểm cấu trúc cơ và thần kinh
Khi áp dụng bài tập tốc độ, tốc độ co cơ phụ thuộc vào tỉ lệ sợi cơ,
trong 1 bó cơ (sợi cơ nhanh II và sợi cơ chậm I)
Đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A có khả năng co cơ tốc độ nhanh. Nó phụ thuộc
vào:
-Nồng độ ATP-CP trong cơ. Khi hàm lượng ATP và CP trong cơ cao
thì khả năng co cơ nhanh tăng lên. Trong các bài tập sức nhanh phản ứng đơn
giản , theo một số tác giả, hàm lượng ATP_CP có thể tăng 10-30%
-Phụ thuộc vào hoạt tính của men phân giải và tổng hợp ATP-CP, tập
luyện sức nhanh có thể làm tăng hoạt tính của các men này.
* Quan hệ giữa sức nhanh và sức mạnh
Trong các hoạt động thể thao, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật thiết với
nhau.
Phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh. Trong nhiều môn
thể thao, kết quả hoạt động phụ thuộc không chỉ vào sức nhanh hay sức mạnh
riêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp hợp lý giữa 2 tố chất. Sự phối hợp giữa
sức nhanh và sức mạnh gọi là sức mạnh tốc độ.
Ví dụ: Chạy 100m (là hoạt động có chu kì ) là bài tập có cả sức nhanh

phương pháp cảm giác vận động do Gelerstein đề xuất năm 1958 để hoàn
thiện phản ứng vận động đơn giản. Phương pháp này dựa trên mối liên quan
chặt chẽ giữa sức nhanh phản ứng và năng lực phân biệt những khoảng thời
gian ngắn. Thông thường những người có khả năng cảm giác tốt và khoảng
thời gian ngắn thì sẽ có sức nhanh phản ứng cao.


17

1.5.2. Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp
Phản ứng vận động phức tạp thường gặp trong thể thao gồm có 2 loại:
phản ứng đối với vật thể di động và phản ứng lựa chọn. Phản ứng đối với vật
thể di động thường gặp trong các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân,
phản ứng với vật thể di động thường kéo dài từ 0,25 - 1 giây. Bài tập phản
ứng đối với vật thể di động yêu cầu tập luyện được gia tăng thông qua tốc độ
vật thể tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự ly. Trò chơi vận động với bóng có tác
dụng rất tốt trong rèn luyện sức nhanh đối với vật thể di động. Trong khi tiến
hành giáo dục phản ứng vận động phức tạp cần phải đảm bảo nguyên tắc từ
đơn giản tới phức tạp và tiến hành theo cách tăng dần số lượng biến đổi tình
huống có thể xảy ra.
1.5.3. Phương pháp rèn luyện sức nhanh tần số động tác
Mặc dù phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng tốc độ tối đa phụ thuộc chủ
yếu vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh. Suy rộng ra thì tốc độ chủ yếu
phụ thuộc vào tần số động tác. Như vậy, bản chất của rèn luyện tốc độ là tác
động nâng cao tần số động tác. Phương tiện rèn luyện sức nhanh tần số là các
bài tập, các bài tập này thỏa mãn 3 yêu cầu:
+ Kỹ thuật động tác cho phép thực hiện với tốc độ giới hạn.
+ Kỹ thuật bài tập đã được tiếp thu tới mức kỹ xảo.
+ Thời gian bài tập tương đối ngắn (không quá 20 - 22 giây) để tốc độ
không bị giảm sút ở cuối cự ly.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status