BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
TRẦN THU HƯƠNG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2013
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
TRẦN THU HƯƠNG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế Chính tri
Mã số: 60 31 01 02
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Anh Tuấn
HÀ NỘI - 2013
KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ
12
1.1.
HÀ NỘI
Một số vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới
12
1.2.
trên địa bàn Thủ đô
Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thủ
đô Hà Nội thời gian qua
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NHỮNG GIẢI
29
CHƯƠNG 2
PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI
51
2.1.
THỜI GIAN TỚI
là lực lượng cơ bản của cuộc cách mạng.
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới cùng với sự đổi mới
chung của đất nước, nông nghiệp nông thôn nước ta đạt được nhiều thành tựu
to lớn. Nông nghiệp phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng
hóa, nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh
lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công
nghiệp, dịch vụ, các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới. Bộ mặt nhiều
vùng nông thôn thay đổi, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết
các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện.
Tuy nhiên những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp còn phát triển kém bền
vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa
phát huy tốt các nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao
khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm,
phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng
nhiều mặt hàng còn thấp. Các hình thức tổ chức xuất chậm đổi mới, chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp và nông thôn
phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi
4
trường ngày càng ô nhiễm, đời sống người dân nông thôn còn thấp, chênh
lệch giàu nghèo giữa thành thị - nông thôn lớn.
Do đó xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời tăng
trưởng kinh tế góp phần cải thiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
người dân nông thôn. Đây còn là mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng xuyên
suốt trong quá trình phát triển nước ta.
Thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính, trên 57% diện tích
ở các nước nông nghiệp trồng lúa,....Đặc biệt chú ý là những kết quả nghiên
cứu của công trình về làng truyền thống Việt Nam, quan hệ làng xóm – Nhà
nước ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Tác phẩm “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”
của tác giả Frans Ellits do Nhà xuất bản nông nghiệp ấn hành năm 2004.
Trong tác phẩm này tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách
nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết
và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh.
Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính
sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại
nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa. Điều đặc biệt cần
lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát
triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với thương mại
nông sản trên thế giới, đồng thời cũng nêu lên những mô hình thành công và
thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề
nông dân.
Báo cáo thường niên ngành nông nghiệp 2007 và triển vọng năm
2008 (Trung tâm Thông tin PTNNNT (AGROINFO) - Viện Chính sách và
Chiến lược PTNNNT (IPSARD) thực hiện): đã đưa ra bức tranh tổng quan về
6
tình hình nông nghiệp, nông thôn qua các dữ liệu lịch sử (2001 - 2007), đồng
thời phân tích triển vọng cho năm 2008. Báo cáo cũng đề cập đến các vấn đề
nổi bật của nông nghiệp Việt Nam trong năm qua như: Nông nghiệp Việt Nam
sau 1 năm hội nhập WTO, thay đổi trong tổ chức quản lý nhà nước, diễn biến
giá cả và sản xuất nông nghiệp, phát triển doanh nghiệp nông nghiệp nông
thôn, tình hình thiên tai, dịch bệnh và vấn đề đang được thế giới quan tâm như
nhiên liệu sinh học.
Ở trong nước cũng có hàng loạt các công trình nghiên cứu, giới thiệu
PGS-TS Nguyễn Sinh Cúc Nxb Thống kê năm 2003. Đây là công trình nghiên
cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có tính thuyết
phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm, công trình
còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta
như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ. Công trình đã luận giải
rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta
trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá
trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Những gợi mở về những
vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như vấn
đề đầu tư, vấn đề phân hóa giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh,
xuất khẩu nông sản đã được tác giả lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết
phục.
Công trình nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Văn Bích và TS Chu Tiến
Quang do Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996 với tiêu đề “Chính sách
kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” đã
luận giải nhiều nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu như khái niệm về
chính sách, các nội dung của chính sách kinh tế và quá trình thay đổi chính sách
nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đổi mới và những tác động của chúng.
Công trình nghiên cứu “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị
8
quyết X của Bộ chính trị” do TGS-TSKH Lê Đình Thắng chủ biên – Nxb
Chính trị quốc gia ấn hành năm 1998 đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng
liên quan đến chủ đề nghiên cứu như phân tích quá trình phát triển nông
nghiệp của Việt Nam dưới sự tác động của hệ thống chính sách, đi sâu phân
tích một số chính sách cụ thể như chính sách đất đai, chính sách phân phối
trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta.
Công trình nghiên cứu “Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó
đến phát triển nông nghiệp Việt Nam” TS Nguyễn Từ phụ trách. Trong công
cả nước nói chung và phân tích tình hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế mà nhất là tập trung đi sâu tới sự phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, tình hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp,
nông thôn, quá trình đô thị hoá, xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng. Đề tài đã đưa ra những đánh giá,
nhận xét toàn cảnh về thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn đồng bằng sông Hồng.
Nêu lên các quan điểm, phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh công
nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng. Cụ thể như: chỉ ra
những cơ hội và thách thức, nêu lên những quan điểm về việc thực hiện CNH,
HĐH nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng, đề ra những mục tiêu,
bước đi và phương hướng thực hiện. Đặc biệt là kiến nghị với Đảng và Nhà
nước 8 giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông nghiệp
nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng.
“Nông dân, nông thôn & nông nghiệp, những vấn đề đang đặt ra” Nhà xuất bản Tri thức, tháng 12/2008. Cuốn sách là tập hợp các bài viết trong
khuôn khổ đề tài nghiên cứu về “tam nông” của Viện Nghiên cứu Phát triển
IDS. Mỗi tác giả có một cách nhìn riêng và đi sâu vào các khía cạnh khác
nhau của vấn đề, nhưng đều có điểm chung nhau ở chỗ đánh giá thực trạng,
10
vạch rõ nguyên nhân cốt lõi và đề xuất hướng đi ra khỏi vướng mắc.
Công trình “phát triển nông thôn” do GS Phạm Xuân Nam (chủ biên)
NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1997. Đây là một công trình chuyên sâu
nghiên cứu về phát triển nông thôn. Trong công trình này tác giả đã phân tích
khá sâu sắc một số nội dung về phát triển kinh tế xã hội nông thôn ở nước ta
như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề sử dụng và
quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói
giảm nghèo. Trong lúc phân tích những thành tựu, yếu kém và thách thức đặt
ra trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta, tác giả đã chỉ ra yêu cầu
năm qua.
* Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương
pháp nghiên cứu thực tiễn, điều tra thu thập tài liệu kết hợp với ý kiến chuyên
gia, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống trong việc
nghiên cứu luận văn.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Đánh giá toàn diện thực trạng vấn đề xây dựng nông thôn mới và giải
quyết vấn đề xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thủ đô thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn thủ đô Hà Nội tạo điều kiện phát triển đất nước
giàu mạnh, bền vững.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục.
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI
1.1. Một số vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới trên đia bàn
Thủ đô
1.1.1. Quan niệm và nội dung xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
thủ đô Hà Nội
Việt Nam là quốc gia với ¾ diện tích là nông nghiệp, dân số có đến
70% sống ở nông thôn chính vì thế tổ chức cuộc sống, xây dựng nông thôn
phát triển ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của toàn xã hội. Sau hai
bảy năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng với sự đóng
góp công sức của nông dân, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt nhiều
đi đến kết quả cuối cùng là giai cấp công nhân, nông dân và trí thức sẽ trở
thành những người lao động của xã hội. Nông thôn mới còn thực hiện chức
năng rất quan trọng đó là chức năng sinh thái. Nếu sản xuất công nghiệp phát
triển phá vỡ mối quan hệ tự nhiên vốn có giữa con người và thiên nhiên thì
sản xuất nông nghiệp lại có chức năng phục vụ hệ thống sinh thái, luôn làm
cho con người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên và dung dưỡng thiên nhiên.
Vì vậy xây dựng nông thôn mới cần hạn chế bê tông hóa, phố hóa các làng
quê truyền thống.
Nông thôn thủ đô là khu vực rộng lớn, một trong những vấn đề cần quan
tâm trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới là thực sự tôn trọng, phát huy tối đa vai trò, vị thế chủ thể của
người nông dân về chính trị, kinh tế và văn hóa.,....Đây là nhóm dân số đông
nhất ở nước ta hiện nay, là giai cấp cách mạng, đồng hành cùng với giai cấp
công nhân trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nhưng lại đang gặp nhiều khó khăn trong đời sống và ít được hưởng lợi nhất
14
các thành quả của cách mạng. Nhìn chung trình độ học vấn của nông dân còn
thấp, nặng nề về kinh nghiệm, nên cần kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về
khoa học kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học và nông nghiệp nông thôn.
Nông thôn đang rất cần những quyết sách phát triển phù hợp trên cơ sở
khoa học, sát thực tế cho từng địa phương, vùng miền và thậm chí cho từng
nhóm dân tộc, mà trước hết là công tác quy hoạch để hoàn thiện định hướng,
nội dung đầu tư theo lộ trình phù hợp hướng tới phát triển bền vững và hiệu
quả trong từng bước đi.
Trước tình hình này Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết,
Nghị định, Chỉ thị có tính đột phá, tạo bước phát triển mới cho nông nghiệp
và nông thôn. Điển hình là Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa
IV (tháng 1-1981), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (tháng 5-1988).
quan trọng trong sự nghiệp CNH-HDH đất nước. Chính vì vậy các vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá
trình đẩy mạnh CNH-HĐH. Phát triển nông nghiệp nông thôn và nâng cao đời
sống vật chất tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng lĩnh vực.
Do đó Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thủ đô Hà Nội là mục tiêu
mang tính toàn diện, là hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội tổng hợp, là việc
giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong một bối cảnh
xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa đặc thù. Quá trình xây dựng nông thôn mới
phải xây dựng nông thôn: có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội – nông thôn
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của
Đảng được tăng cường góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu,
16
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Với thủ đô mục tiêu chính trong quá trình xây dựng nông thôn mới là
con người, xã hội; nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân ở nông
thôn Thủ đô, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, giải quyết vấn đề về
khoảng cách giữa nông thôn và đô thị để đưa nông nghiệp, nông dân, nông
thôn cùng với Hà Nội và cả nước phát triển.
Về phạm vi: chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới được tổ chức triển khai thực hiện trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là chương
trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng.
Nội dung chính của quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thủ
đô là: phát triển hạ tầng – kinh tế xã hội nông thôn; hỗ trợ phát triển sản xuất
khả năng giao lưu hàng hóa, thị trường nông thôn được mở rộng, kích thích
kinh tế hộ gia đình gia tăng sản xuất, đời sống người dân được nâng lên, thực
hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển sẽ tạo
điều kiện tổ chức đời sống xã hội trên địa bàn, tạo môi trường sống tốt hơn,
nhờ đó giảm được dòng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị, bớt gánh
nặng cho thành thị,…
Về giao thông nông thôn: Trong thời gian qua, kiên cố hóa đường giao
thông nông thôn được triển khai khá tốt ở các địa phương, hoàn thành tiêu chí
đường giao thông. Đã xây dựng được gần 600 km đường các loại. Trong điều
kiện nguồn lực hạn chế, nhiều địa phương đã có những chính sách hỗ trợ phù
hợp nên đã huy động được nhiều hơn sự tham gia của người dân và cộng
đồng như: đóng góp kinh phí, ngày công lao động, hiến đất…
18
Về thủy lợi: Thời gian qua các địa phương đã cải tạo và nâng cấp hệ
thống thủy lợi, nhiều xã có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất
và dân sinh hoàn thành tiêu chí thủy lợi.
Điện: 100% các xã đều đã đạt tiêu chí này
Trường học: Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, các địa phương đã tập
trung đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa.
Chợ nông thôn: Căn cứ vào Bộ Tiêu chí Quốc gia (đã được sửa đổi), các
huyện, TP, TX đã hướng dẫn các xã lập quy hoạch chợ đạt chuẩn theo quy
định, với những xã không nhất thiết phải có chợ thì tiến hành quy hoạch
những điểm kinh doanh, thương mại.
Nhà ở dân cư: Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, các
huyện, xã đã quan tâm hỗ trợ và vận động cộng đồng ủng hộ tiền của, ngày
công giúp các hộ nghèo xây dựng nhà, xóa bỏ dần nhà tạm, nhà dột nát.
Muốn phát triển hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn phải hoàn thiện
đường giao thông từ trụ sở Ủy ban nhân dân và hệ thống giao thông trên địa
cùng phát triển là xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy một số xã sẽ
tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể thông qua việc củng cố và nâng
cao chất lượng hoạt động của các hợp tác xã, tổ hợp tác. Đây là điều kiện để
nông dân tương trợ, chia sẻ kinh nghiệm cùng hướng tới mục tiêu hạ giá
thành sản phẩm với mức thấp nhất. Thông qua việc đào tạo nghề giúp người
dân có việc làm thoát nghèo bền vững. Xuất phát từ thực tế đó trong thời gian
tới, ưu tiên mở các lớp dạy nghề phù hợp với trình độ học viên, phong tục tập
quán vùng miền gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo; phối hợp chặt chẽ
với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để có hướng đào tạo đáp ứng yêu
cầu từ phía doanh nghiệp. Để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân
qua đó đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới, các địa phương cần tập
trung đề ra các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi. Để
20
có được điều này mỗi cán bộ phải bám sát địa bàn, tìm hiểu tâm tư, nguyện
vọng người dân để định hướng cây trồng, vật nuôi cho phù hợp. Ngoài ra các
cấp huyện, xã phối hợp chặt chẽ với các sở ban nghành hữu quan tiếp tục thực
hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn và Nghị định 61/2010/NĐ-CP về chính sách khuyến
khích doanh nghiệp đầu tư và nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Đây là giải
pháp đa dạng hóa và tăng cường nguồn lực đầu tư để hỗ trợ vốn cho nông dân
mua máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật hạ giá thành
sản phẩm, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn, nâng cao chất lượng
sản phẩm, từng bước cải thiện thu nhập cho nông dân. Các xã, huyện cần phát
triển kinh tế hộ, hợp tác xã, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn,
xây dựng cơ chế chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế
ở nông thôn.
Hai là, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn; Yêu
cầu: đạt tiêu chí 5, 14 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Trong những năm qua, các xã đã
luôn chú trọng công tác phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại
địa phương; chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành thường xuyên
quan tâm chăm lo đến cơ sở giáo dục, tranh thủ các nguồn lực đầu tư để quy
hoạch, xây dựng, mở rộng về quy mô và mô hình các cơ sở đào tạo nghề trên
địa bàn xã, huyện; tiếp tục kêu gọi đầu tư và khuyến khích thực hiện xã hội
hóa dạy nghề, tập trung đào tạo nghề cho nông dân và lao động kỹ thuật.
Do vậy muốn đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở
nông thôn theo hướng toàn diện, đồng bộ, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu xây
dựng nông thôn mới, các xã cần tiếp tục dựa trên cơ sở định hướng phát triển
kinh tế, lựa chọn ngành mũi nhọn để ưu tiên đào tạo, việc đào tạo nghề phải
gắn với giải quyết việc làm tại chỗ, phải đảm bảo cân đối giữa đào tạo và sử
22
dụng lao động. Công tác đào tạo và dạy nghề phải bám sát vào tình hình thực
tế của địa phương, cùng với việc dựa trên cơ sở nhu cầu học nghề của lao
động ở nông thôn, nhu cầu sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề của các
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh và thị trường lao động trong và
ngoài Thủ đô. Cần có cơ chế khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các
cơ sở đào tạo có uy tín tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa
bàn. Người dân được nâng cao học vấn, học hỏi khoa học công nghệ hiện đại
áp dụng vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm cho hiệu quả kinh tế cao, đời sống
được đảm bảo.
Ba là, xây dựng đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh ở nông thôn;
(Yêu cầu: đạt tiêu chí 6 và 16 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.)
Về y tế: chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân
được các xã làm tốt.
Về văn hóa: Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
được thường xuyên đẩy mạnh; đã hình thành được các thiết chế văn hóa ở
đầu tư các nguồn lực cho phong trào xây dựng văn hóa nông thôn mới Thủ đô
hợp nhất.
Bốn là, bảo vệ phát triển nâng cao chất lượng môi trường nông thôn.
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới 2010 – 2020 mục tiêu 2030 cần tiếp
tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn. Để công tác xây dựng nông thôn mới đạt được hiệu quả
cao, công tác tuyên truyền vận động được Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn
mới các cấp quan tâm triển khai thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng,
phong phú. Qua đó đã góp phần làm cho nhận thức của cán bộ lãnh đạo các
cấp và nhân dân được nâng lên rõ rệt. Đông đảo cán bộ và nhân dân hiểu rõ
yêu cầu cấp thiết của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông
thôn mới. Từ đó đã tác động tích cực đến ý thức của cán bộ và người dân