BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
ĐÀO ANH DUY
GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2013
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
ĐÀO ANH DUY
GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU
Chuyên ngành
: Quản lý giáo dục
Mã số
: 60 14 01 14
1.1.3. Đảm bảo chất lượng và đảm bảo chất lượng đào tạo..........................................25
1.2. Nội dung cơ bản (các yếu tố) đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy trường
đại học.................................................................................................................................30
1.2.1. Chuẩn đầu ra.......................................................................................................30
1.2.2. Chương trình đào tạo..........................................................................................31
1.2.3. Tổ chức quản lý đào tạo......................................................................................33
1.2.4. Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.......................................................34
1.2.5. Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên....................................................................35
1.2.6. Thư viện, giáo trình, sách, tài liệu tham khảo và cơ sở vật chất, phương tiện kỹ
thuật, tài chính...............................................................................................................37
1.2.7. Môi trường giáo dục...........................................................................................38
Chương 2.................................................................................................................................41
THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO................................................41
HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU................................................41
2.1. Khái quát về Trường Đại học Bạc liêu....................................................................41
2.1.1. Thông tin khái quát về nhà trường......................................................................41
2.2. Tình hình đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc
Liêu......................................................................................................................................44
2.2.1. Thực trạng chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc Liêu.........44
2.2.2. Những vấn đề về đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học
Bạc Liêu........................................................................................................................47
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế........................................................................62
Chương 3.................................................................................................................................64
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO.....................................64
HỆ CHÍNH QUY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU ..............................................64
3.1. Nguyên tắc đề xuất các giải pháp............................................................................64
3.1.1. Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ......................................................................64
3.1.2. Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi........................................................................64
CĐ:
CLGDĐH:
CNH-HĐH:
CNTT:
CSVC:
ĐBCL:
ĐBCLGD:
ĐH:
ĐHBL:
GDĐH:
GDMN:
GV:
KHCN:
KH-TC:
KT&KĐCLGD:
KTX:
KT-XH:
m2:
NCKH:
PCCC:
QLKH-HTQT:
QTKD:
SV:
TB:
TDTT:
THSP:
TNXK:
UBND:
UNESCO:
Trung học sư phạm
Thanh niên xung kích
Ủy ban nhân dân
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên Hiệp Quốc
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng
chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong
đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo,
coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định
chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo
dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội"
Tuy nhiên, chất lượng đào tạo đại học vẫn chưa theo kịp yêu cầu ngày
càng cao của thị trường lao động; chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết từ
nhu cầu của xã hội, nhất là trong các ngành kỹ thuật. Đào tạo chưa thật sự gắn
giữa nhu cầu với sử dụng; vẫn còn khoảng cách lớn giữa trình độ của sinh viên
ra trường và yêu cầu của các đơn vị sử dụng lao động. Do đó hiện nay đang tồn
tại một nghịch lý là “cung - thừa” “cầu – thiếu”, trong khi các trường tìm cách để
duy trì và mở rộng quy mô đào tạo, số lượng tốt nghiệp đại học chưa có việc làm
ngày càng tăng nhưng các cơ quan, doanh nghiệp đều khó tuyển dụng được
những lao động đáp ứng được yêu cầu của công việc, hoặc tuyển dụng được thì
cũng phải bồi dưỡng, đào tạo lại thì mới có thể sử dụng được.
Nhiều ý kiến cho rằng: trong những nguyên nhân quan trọng là các
vật chất, đội ngũ giảng viên, chất lượng đầu vào. Đặc biệt công tác tổ chức,
quản lý đào tạo hệ thống các bậc học, ngành học đan xen nhau; và đào tạo hệ
chính quy bậc đại học còn nhiều hạn chế, vì còn ít kinh nghiệm do mới thành
lập và còn thiếu những giải pháp phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất
những giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo nhất là hệ chính quy là hết sức
cấp thiết đối với nhà trường trong giai đoạn hiện nay; bởi nó đáp ứng đòi hỏi
sự phát triển về chất lượng nguồn nhân lực lao động của các ngành nghề trên
các tỉnh thuộc bản đảo Cà Mau.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Giải
pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc
Liêu” nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 trường Đại
học Bạc Liêu trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao
khoa học công nghệ cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm qua, giáo dục đại học đã có nhiều đổi mới đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu nhân lực có trình độ đại học để phục vụ cho sự phát triển
kinh tế - xã hội; công tác đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo giáo
dục chuyên nghiệp đã đạt được những kết quả nhất định, nhân lực trình độ đại
học ngày càng đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động. Đây là hiệu quả của
việc đầu tư về nhân lực, vật lực và sự đổi mới quản lý của các trường đại học.
Nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo của các trường trong xu thế cạnh tranh
hứa hẹn sẽ tạo ra những “sản phẩm” có chất lượng, đáp ứng yêu cầu xã hội.
Để giải quyết hiệu quả bài toán giữa duy trì và phát triển quy mô, ngành
nghề đào tạo vừa đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng nhu cầu xã
hội, cần phải tiến hành nhiều giải pháp một cách đồng bộ. Trong đó các giải
pháp quản lý là mang tính bao trùm và có ý nghĩa quyết định đến việc đảm
bảo chất lượng đào tạo ở các trường đại học là rất quan trọng và cần thiết. Bởi
chuẩn do nhà trường hay cơ quan có thẩm quyền đề ra (CHEA, 2001).
Trong nhiều nước châu Âu trước đây, đảm bảo chất lượng được sử dụng
như một hệ thống đánh giá bên ngoài mà không cần phải có một sự công nhận
chính thức các kết quả đạt được. Tuy nhiên, một xu hướng mới được hình thành
là xúc tiến xây dựng hệ thống kiểm định trong mỗi quốc gia châu Âu.
Ở các nước Đông Nam Á, việc đảm bảo chất lượng cũng rất khác nhau.
Ở Thái Lan, nhằm vào các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện, các
kết quả học tập hay các chỉ số và sự phát triển, việc đảm bảo chất lượng được
giới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lượng nhà trường, kiểm toán chất lượng
bên ngoài và kiểm định công nhận (BHES, 2002).
Ở Indonesia, đảm bảo chất lượng được xác định thông qua kiểm tra nội
bộ các chương trình học, các quy định của chính phủ, cơ chế thị trường và
kiểm định công nhận (Tajudin, 2001).
Một số nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gia
như: BADC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia), FAAP
(Philipines), ONESQA (Thái Lan). Trọng tâm kiểm định của mỗi quốc gia có sự
khác nhau. Chẳng hạn như: Indonesia thực hiện kiểm định ở cấp chương trình;
các nước như: Malaysia, Brunei, Thái Lan thực hiện kiểm định ở cấp trường.
Ở Việt Nam, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế tri thức đòi hỏi nguồn
nhân lực chất lượng cao đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Nhiệm vụ chính của giáo dục và đào tạo là cung cấp nguồn nhân lực đó. Để
thực hiện nhiệm vụ này, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục đại học và
trung cấp chuyên nghiệp của nước ta nói riêng, không những phải mở rộng
quy mô mà còn phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
Vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo, xây dựng các biện pháp khả thi để
thực hiện nhiệm vụ này đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Có thể kể đến một số sách, công trình nghiên cứu tiêu biểu đã đề cập
pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập…)
Thứ tư: các chỉ số về đầu ra (sản phẩm) (kết quả đạt được của sinh viên
về các môn học cơ bản, tỉ lệ lên lớp, bỏ học, tiếp tục theo học bậc cao hơn và
tỉ lệ sinh viên tìm được việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp…).
Tiếp tục phát triển các hệ tiêu chí đánh giá này, ĐBCLGD sẽ tiến hành
xây dựng các quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục cho từng
loại hình trường và dùng quy định tiêu chuẩn đó làm công cụ để đánh giá mức
độ yêu cầu và điều kiện mà các cơ sở của từng loại hình trường phải đáp ứng
để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Các tiêu chuẩn (gồm
nhiều tiêu chí) kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phải quán triệt quan điểm
tiếp cận tổng thể, đánh giá toàn bộ các lĩnh vực hoạt động giáo dục của nhà
trường. Các yếu tố được đánh giá có mối quan hệ biện chứng với nhau trong
một chỉnh thể thống nhất, có tác động ảnh hưởng qua lại với nhau và với chất
lượng sản phẩm giáo dục của nhà trường.
Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của
nhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động này. Trước hết,
nó chịu ảnh hưởng của mô hình đảm bảo chất lượng của Hoa Kỳ và các nước
Bắc Mỹ; chịu ảnh hưởng của các mô hình đảm bảo chất lượng của các nước
Châu Âu là những nước đi trước Việt Nam trong khá nhiều năm để triển khai
xây dựng mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục; đặc biệt chịu ảnh hưởng của
các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do có nhiều nét tương đồng
trong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn. Những ảnh hưởng
của các nước khác đến mô hình đảm bảo chất lượng của Việt Nam chủ yếu thông
qua sự hỗ trợ hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt
là Ngân hàng thế giới. Mạng lưới chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương
(APQN), SEAMEO và của một số nước như Hoa Kỳ, Australia, Hà Lan.
Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình đảm bảo chất lượng và kiểm
định chất lượng giáo dục trên thế giới, mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu lý luận và thực trạng đảm bảo chất lượng, luận văn hướng
tới đề xuất giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại Trường Đại
học Bạc Liêu, đáp ứng yêu cầu phát triển nhà trường trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng đào tạo đại học.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về chất lượng đào tạo hệ chính
quy tại trường Đại học Bạc Liêu.
Đề xuất một số giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại
trường Đại học Bạc Liêu.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Bạc Liêu.
Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học
Bạc Liêu.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi hệ đào tạo chính quy bậc cao
đẳng và đại học tại trường Đại học Bạc Liêu; đồng thời các báo cáo tổng kết
và số liệu khảo sát phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu từ năm 2010 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học, có vai trò quan trọng, quyết định
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đào tạo và uy tín của trường đối với xã hội.
Vì vậy, trường đại học Bạc Liêu chỉ có thể nâng cao chất lượng đào tạo hệ
Tiến hành tham khảo ý kiến của chuyên gia về những vấn đề liên quan
đến đề tài. Tổ chức tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của
biện pháp đề xuất.
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu từ các kết quả nghiên cứu.
7. Ý nghĩa của luận văn
Đề tài góp phần làm sáng tỏ những quan điểm về đảm bảo chất lượng
đào tạo đại học hệ chính quy và thực trạng vấn đề đảm bảo chất lượng ở
trường ĐHBL; từ đó đưa ra những giải pháp khả thi, hiệu quả hơn giúp nhà
trường ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo. Kết quả nghiên cứu có thể
dùng làm nguồn tham khảo cho cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên trong tìm
hiểu về lĩnh vực hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy ở trường
đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm có 3 chương (7 tiết), kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1. Chất lượng đào tạo
Chất lượng
Từ chất lượng (quality) bắt nguồn từ từ ‘qualis’ trong tiếng Latin, có
nghĩa là “loại gì”. Đây là một từ đa nghĩa và nhiều hàm ý, một khái niệm khó
nắm bắt (Pfeffer and Coote, 1991).
mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn.
Chất lượng được hiểu theo khía cạnh (Theo Harvey & Green; 1993) đó
là: “Chất lượng tuyệt đối” được hiểu là “sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú. Xuất
sắc; sự hoàn hảo; sự phù hợp, thích hợp; sự thể hiện giá trị; sự biến đổi về
chất”. Đó là cái mà hầu hết chúng ta muốn có, và chỉ một số ít có thể có được.
“Chất lượng tương đối” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gán cho
sản phẩm. Theo quan niệm này thì một vật, một sản phẩm hoặc một dịch vụ
được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn do người sản
xuất định ra và các yêu cầu mà người sử dụng đòi hỏi.
Như vậy: “chất lượng tương đối” có hai khía cạnh:
Thứ nhất, chất lượng là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do
người sản xuất đề ra, ở khía cạnh này được xem là “chất lượng bên trong”.
Thứ hai, chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi
của người sử dụng, ở khía cạnh này được xem là “chất lượng bên ngoài".
Vậy chất lượng là những thuộc tính phản ánh bản chất của sự vật, chỉ rõ
nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác,
chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật.
Có thể nhận thấy rằng khái niệm chất lượng là một khái niệm khó xác
định và phụ thuộc vào ngữ cảnh. Nó có một phổ nghĩa từ “chuẩn mực” đến
“xuất sắc”. “Chuẩn mực có thể được hiểu bằng khái niệm ‘ngưỡng’ tối thiểu
mà theo đó hiệu quả của công việc sẽ được đánh giá (Ashcroft & ForemanPeck, 1996). Trong bối cảnh này, chất lượng đồng nghĩa với hoạt động đánh
giá, được hiểu theo nghĩa nó là tập hợp các tiêu chuẩn dựa trên quy chiếu
nhóm chuẩn (norm-referenced standards). Ở phía bên kia của phổ nghĩa là
quan điểm xem chất lượng là sự xuất sắc (tương tự như những gì Green và
Harvey gọi là vượt trội). Xuất sắc là trạng thái thành tích đặc biệt, vượt trội,
không có lỗi và đạt mức hài lòng cao nhất từ các bên có liên quan. Trong giáo
dục đại học, mục tiêu của chúng ta là đạt được các “chuẩn mực” và tiến gần
hơn về sự “xuất sắc”.
chất lượng đào tạo còn nhiều điểm khác nhau, do từ “chất lượng” được dùng
chung cho cả hai quan niệm: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối.
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho
những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những
tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được. Nó được dùng với nghĩa chất
lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu.
Với quan niệm chất lượng tương đối thì được hiểu theo hai khía cạnh:
Thứ nhất là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề
ra, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”. Thứ hai,
chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi của người tiêu
dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”.
Ở mỗi cơ sở đào tạo luôn có một nhiệm vụ ủy thác, nhiệm vụ này
thường do các chủ sở hữu quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà
trường. Từ nhiệm vụ được ủy thác này, nhà trường xác định các mục tiêu đào
tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được
“chất lượng bên ngoài”; và các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào
nhằm đạt mục tiêu đào tạo đó, đạt “chất lượng bên trong”.
Do đó, hiện nay cũng có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng đào tạo:
Theo tác giả Lê Đức Ngọc và Lâm Quang Thiệp (Đại học quốc gia Hà
Nội) chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo
đã đề ra đối với một chương trình đào tạo.
Theo tác giả Trần Khánh Đức, chất lượng giáo dục là kết quả của quá
trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách
và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương
ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể.
Theo cách tiếp cận quản lý chất lượng thì: Chất lượng đào tạo được coi
là sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu. Chất lượng đào tạo có hai phần: phần cứng
là bộ ba kiến thức, kỹ năng, thái độ người học tiếp thu trong quá trình đào tạo;
Mặc dù có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau nhưng có thể khái
quát: Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu đề ra qua sự đánh giá
của người dạy, người học, người quản lý và người sử dụng sản phẩm đào tạo.
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của các cơ sở đào tạo,
và là mục tiêu mà tất cả các nhà trường cần hướng tới. Việc phấn đấu nâng cao
chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất trong
công tác quản lý của các cơ sở đào tạo nói chung và trường đại học nói riêng.
1.1.2. Đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về đánh giá chất lượng trong
giáo dục đại học, song nhiều tài liệu thống nhất khái quát về đánh giá chất
lượng trong giáo dục đại học: Là quá trình hình thành những nhận định, phán
đoán về kết quả giáo dục, dựa trên sự phân tích những thông tin thu được đối
chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn, tiêu chí đã đề ra nhằm đề xuất những ý
kiến thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và
hiệu quả giáo dục đào tạo.
Do cách tiếp cận khác nhau về đánh giá chất lượng giáo dục đại học,
nên hiện có 6 quan điểm (6 cách tiếp cận) tương đối phổ biến hiện nay về
đánh giá chất lượng giáo dục đại học đó là:
Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”
Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một trường
đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó”.
Chất lượng một trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào
(quan điểm nguồn lực). Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển được
sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết
để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem
là trường có chất lượng cao.
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động, vai trò của quá trình đào tạo diễn
ra rất đa dạng và liên tục trong suốt quá trình đào tạo.
Thực tế, theo cách đánh giá này, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và
nhà trường. Các trường trong hệ thống giáo dục đại học lại rất đa dạng, không
thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường đại học. Vả lại,
cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định
sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo
trong từng trường đại học.
Giá trị gia tăng chưa nói lên được đầy đủ chất lượng đào tạo, chưa biết
được khâu nào, lĩnh vực nào có vai trò chủ yếu.
Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội
ngũ GV để thẩm định công nhận chất lượng đào tạo. Đây là quan điểm truyền
thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của
các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng
trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học. Điều
này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín
khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao.
Tuy nhiên, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách
khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các
trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu khoa học. Ngoài
ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy
và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp
luận ngày càng đa dạng.
Hạn chế của phương pháp này là không tính đến vai trò của các thành tố
khác. Trong thực tế có nhà trường không có đội ngũ GV cơ hữu chất lượng
cao nhưng do biết quản lý tốt đã liên kết được với các trường khác có đội ngũ
GV có chất lượng cao.
Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”
Quan niệm này nhấn mạnh vai trò của công tác quản lý. Trường phải tạo
ra được “Văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình cải tiến chất lượng. Quan
đại học rất khác nhau, quan điểm nào cũng có tính hợp lý và những mặt chưa
hợp lý, điều đó đòi hỏi những người quản lý giáo dục đại học phải có quan
điểm toàn diện khi xem xét vấn đề này, không cực đoan, một chiều khi đánh
giá chất lượng giáo dục của một trường đại học nào đó. Đồng thời, việc tập
hợp các quan điểm đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học như trên, tạo
cơ sở cho việc nghiên cứu làm rõ cũng như xem xét các hoạt động đảm bảo
chất lượng đào tạo ở các trường đại học được khách quan hơn.
1.1.3. Đảm bảo chất lượng và đảm bảo chất lượng đào tạo
Đảm bảo chất lượng