BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------
NGUYỄN CÔNG TOÀN
ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ CÔNG
VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ VỚI TĂNG
TRƢỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀNG BẢO
TP. HỒ CHÍ MINH – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân
tôi. Các số liệu trong luận văn đƣợc thu thập và sử dụng một cách trung thực. Kết
quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn không sao chép của bất cứ nghiên cứu
nào và cũng chƣa đƣợc trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào
khác trƣớc đây.
TP.HCM, ngày 15 tháng 05 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Công Toàn
Cấu trúc luận văn ...................................................................................4
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ...........................................................................5
2.1.
Nợ công..................................................................................................5
2.1.1.
Khái niệm nợ công .................................................................................5
2.1.2.
Phân loại nợ công ..................................................................................7
2.1.3.
Rủi ro của nợ công .................................................................................8
2.1.4.
Tính bền vững của nợ công ...................................................................9
2.2
Các phƣơng pháp đánh giá tính bền vững của nợ ...............................10
2.2.1.
Lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm ..............................................34
CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ ........................................41
3.1.
Thực trạng nợ công hiện nay ...............................................................41
3.1.1.
Tình hình vay nợ ..................................................................................41
3.1.2.
Tình hình sử dụng nợ công ..................................................................44
3.1.3.
Rủi ro nợ công .....................................................................................46
3.2.
Đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam ..................................48
3.2.1.
Phân tích nợ Việt Nam với phƣơng pháp cây nhị phân .......................48
3.2.2.
4.4.1.
Kiểm định đa cộng tuyến .....................................................................71
4.4.2.
Kiểm định hiện tƣợng phƣơng sai thay đổi phần dƣ ...........................71
4.4.3.
Kiểm định hiện tƣợng tự tƣơng quan phần dƣ ....................................72
4.4.4.
Phân tích kết quả hồi quy.....................................................................73
4.5.
Hạn chế của mô hình và hƣớng nghiên cứu tiếp theo .........................78
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ............................................79
5.1.
Kết luận:...............................................................................................79
5.2.
Khuyến nghị chính sách.......................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Mô hình tác động cố định
Fixed Effects Model
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
Gross Domestic Product
GMM
Phƣơng pháp Mô-men tổng quát
General Method of Moments
GNP
Tổng sản phẩm quốc gia
Gross National Product
GSO
Tổng cục thống kê
General Statistic Office
IMF
World Bank
WDI
Các chỉ số phát triển thế giới
World Development Indicators
WEO
Báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu
World Economic Outlook
WLS
Bình phƣơng tối thiểu có trọng số
Weighted Least Square
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Ngƣỡng an toàn nợ theo DSF
Bảng 2.2: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ngƣỡng nợ trên thế giới.
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu nợ nƣớc ngoài của Việt Nam và các nƣớc đang phát triển
Bảng 3.2: Nợ công Việt Nam
Bảng 3.3: Phân loại nợ công theo nguồn, 2010-2014 (tỉ đồng)
Bảng 3.4: Tăng trƣởng và chỉ số ICOR của các quốc gia trong từng thời kỳ
Bảng 3.5: Các chỉ số nợ của Việt Nam, 2015
Hình 4.8: Sai số ƣớc lƣợng OLS mô hình (2 nợ công phi tuyến
Hình 4.9: Sai số ƣớc lƣợng WLS mô hình (2 nợ công phi tuyến
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.
Đặt vấn đề
Để tài trợ cho đầu tƣ và chi tiêu công, các chính phủ có thể gia tăng vay mƣợn hoặc
đánh thuế cao hơn cho sản lƣợng đầu ra của nền kinh tế. Tuy nhiên, đánh thuế cao
sẽ bóp méo cấu trúc giá cả, tạo ra các vấn đề vốn giữa các thế hệ, và thậm chí nó có
thể gây ra sự chuyển dịch nguồn lực vốn đầu tƣ ra khỏi quốc gia. Do đó, các chính
phủ thƣờng phải vay mƣợn nợ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách..
Nợ công hiện đang đóng một vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở
hạ tầng, chi đầu tƣ phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, với sự thâm hụt ngân sách kéo
dài, vay nợ liên tục qua phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trƣờng nội địa, và
vay mƣợn nợ ƣu đãi từ nƣớc ngoài đã dẫn đến tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh. Trong
4 năm từ 2010 đến 2014, nợ công của Việt Nam đã tăng gấp đôi từ 889 nghìn tỷ
đồng lên trên 1,8 triệu tỷ đồng (gần 86 tỷ USD chiếm 60,3% GDP)1. Tỷ lệ nợ công
cao và tăng nhanh đã đặt ra các câu hỏi về tính an toàn của nợ công ở Việt Nam.
Ở các quốc gia đang phát triển, nợ nội địa ít đƣợc quan tâm so với nợ nƣớc ngoài.
Phát hành nợ nội địa sẽ giúp quốc gia tránh đƣợc những cú sốc không mong muốn
từ khu vực kinh tế bên ngoài, và loại bỏ rủi ro tỷ giá. Tuy nhiên, nợ nội địa có thể
tạo hiệu ứng chèn lấn đầu tƣ tƣ nhân. Khi chính phủ vay mƣợn trong thị trƣờng nội
địa, họ sử dụng khoản tiết kiệm tƣ nhân cho các hoạt động đầu tƣ, phúc lợi. Số vốn
còn lại trên thị trƣờng cho vay sẽ sụt giảm làm gia tăng chi phí tiếp cận nguồn vốn
đối với những ngƣời đi vay tƣ nhân. Điều này làm giảm dần nhu cầu đầu tƣ tƣ nhân,
thấy nợ có tác động tích cực đến tăng trƣởng Singh (1999), Muhammad Ayyoub
(2012. Gần đây, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy mối quan hệ phi
tuyến giữa nợ và tăng trƣởng kinh tế Chowdhury (2001), Pattilo (2002), Carmen M.
Reinhart và Kenneth S. Rogoff (2010), Natia Kutivadze (2011), Checherita và
Rother (2012), Hemantha Kumara, N.S.Cooray (2013).
Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa nợ và tăng
trƣởng. Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim Thành (2009) đã cho thấy tác động tuyến
tính tiêu cực của nợ với tăng trƣởng. Sử Đình Thành (2012) phân tích mối quan hệ
tuyến tính và tìm ra ngƣỡng nợ công cho Việt Nam là 75,8% GDP. Có thể thấy các
nghiên cứu trƣớc đây tại Việt Nam dựa trên nhiều cách tiếp cận khác nhau và kết
3
quả thu đƣợc cũng không thống nhất. Nghiên cứu này một lần nữa nhằm xem xét
mối quan hệ giữa nợ công với tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam. Trong bối cảnh nợ
công tăng nhanh nhƣ hiện nay và rủi ro nợ công tăng cao, việc đánh giá tính an toàn
của nợ là không thể bỏ qua. Do đó, nghiên cứu cũng đồng thời đánh giá tính bền
vững nợ công trong giai đoạn hiện nay và đƣa ra một số kịch bản nợ có thể xảy ra
trong các năm tới.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm xem xét tính bền vững của nợ công Việt Nam đồng thời tìm
hiểu mối quan hệ giữa quy mô nợ và tốc độ tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam. Từ đó
đƣa ra những gợi ý và để xuất nhằm tăng hiệu quả sử dụng nợ cũng nhƣ nâng cao
tính bền vững của nợ công Việt Nam.
regression) để đánh giá mối quan hệ giữa nợ công và tăng trƣởng kinh tế trong
trƣờng hợp của Việt Nam. Bên cạnh nợ công, các biến vĩ mô khác cũng đƣa vào
xem xét trong một tổng thể các yếu tố có thể ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế.
1.6.
Cấu trúc luận văn
Nghiên cứu bao gồm 5 chƣơng. Chƣơng 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên
cứu. Chƣơng 2 trình bày các khái niệm và lý thuyết liên quan đến nợ công, nợ bền
vững, tăng trƣởng kinh tế và các kết quả nghiên cứu về tác động của quy mô nợ
công đến tốc độ tăng trƣởng kinh tế của các tác giả trên thế giới. Chƣơng 3 trình bày
thực trạng và đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam. Chƣơng 4 trình bày
nghiên cứu thực nghiệm đánh giá mối quan hệ giữa nợ và tăng trƣởng tại Việt Nam.
Chƣơng 5 đƣa ra kết luận và gợi ý chính sách.
5
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chƣơng này của nghiên cứu nhằm mục tiêu hệ thống hóa các lý thuyết về nợ công
và tăng trƣởng, đồng thời trình bày tổng quan các lý thuyết và bằng chứng thực
nghiệm về sự tác động của nợ công đến tăng trƣởng kinh tế.
2.1.
Nợ công
Nợ công là nợ của khu vực công. Nợ công phát sinh do chi tiêu của các cấp chính
quyền lớn hơn các khoản thu nên phải vay nợ đề bù đắp những chênh lệch. Do đó,
Khu vực các tổ
chức công
Các tổ chức công
phi tài chính
Các tổ chức công
tài chính
Chính quyền
Liên bang
Ngân hàng
Trung ƣơng
Chính quyền
Địa phƣơng
Các tổ chức nhà
nƣớc nhận tiền gửi
(trừ NHTW)
Các tổ chức tài
chính công khác
Hình 2.1: Các thành phần của khu vực công theo định nghĩa của IMF
Nguồn: IMF (2013), Public Sector Debt Statistics. Guide for Compilers and Users2
Ở Việt Nam, theo Luật quản lý nợ công, số 29/2009/QH123 của Quốc hội ban hành
vào năm 2009, nợ công bao gồm: (a) Nợ chính phủ; (b) nợ đƣợc chính phủ bảo lãnh
và (c) nợ chính quyền địa phƣơng. Trong đó:
- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nƣớc, nƣớc
2.1.2. Phân loại nợ công
Có nhiều cơ sở và tiêu chí để phân loại nợ công khác nhau. Có thể phân loại theo
các tiêu chí nhƣ:4
Theo nguồn gốc địa lý. Có thể phân loại nợ công gồm nợ nƣớc ngoài và nợ trong
nƣớc.
Theo loại tiền tệ cho vay: Nợ bằng nội tệ hoặc nợ bằng ngoại tệ.
4
CIEM (2013 Thông tin chuyên đề: Đầu tƣ công, nợ công và mức độ bền vững ngân sách ở Việt Nam.
http://www.vnep.org.vn/Upload/SO 05 Chuyen de Dau tu cong no cong Final.pdf (trang 3)
8
Theo thời hạn vay: Nợ công vay dƣới 1 năm là nợ ngắn hạn, dƣới 10 năm là nợ
trung hạn và trên 10 năm là nợ dài hạn.
Theo tiêu chí phương thức huy động. Theo phƣơng thức huy động vốn thì nợ công
đƣợc phân thành hai loại là nợ công vay từ những thỏa thuận vay trực tiếp và nợ
công từ công cụ nợ (phát hành bởi những cơ quan có thầm quyền)
Theo trách nhiệm đối với chủ nợ. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công đƣợc
phân loại thành nợ công phải trả (của chính phủ, chính quyền địa phƣơng và nợ
công bảo lãnh (chính phủ bảo lãnh cho ngƣời vay nợ)
Theo tính chất ưu đãi của khoản vay. Nợ công đƣợc phân loại theo cách này có ba
loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ƣu đãi và nợ thƣơng mại thông
thƣờng.
2.1.3. Rủi ro của nợ công
Trong nghiên cứu về khả năng xảy ra khủng hoảng nợ của các nƣớc trên thế giới,
Manasse và Roubini (2005 đã trình bày ba rủi ro cơ bản của nợ công chính là: (a)
gia đang phát triển ngoài ra nó còn là điều kiện để các quốc gia này có thể tiếp cận
với các nguồn tài chính từ các thị trƣờng vốn quốc tế. Do đó nếu tăng trƣởng thấp
thì sẽ rất khó vay nợ. Chính sách tài khóa cũng ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ, nếu
nguồn thu ngân sách dồi dào sẽ giúp giảm thâm hụt và giảm rủi ro của nợ. Lạm phát
cao hay việc nội tệ bị phá giá cũng khiến cho những khoản nợ nƣớc ngoài tăng cao
và tăng nguy cơ vỡ nợ. Nhƣng ngƣợc lại nếu nội tệ bị định giá cao cũng gây ra khó
khăn cho xuất khẩu, làm giảm thu ngoại hối và cũng làm gia tăng rủi ro với nợ nƣớc
ngoài.
2.1.4. Tính bền vững của nợ công
Theo IMF (2011), nợ đƣợc xem là bền vững khi ngƣời đi vay đƣợc kỳ vọng là có
khả năng tiếp tục trả nợ mà không cần phải thực hiện các khoản điều chính lớn và
phi thực tế trong cán cân thu nhập - chi tiêu. Tính bền vững của nợ do đó đƣợc thể
hiện thông qua khả năng thanh toán, khả năng thanh khoản và khả năng điều chỉnh
một cách giới hạn trong chi tiêu và doanh thu và do đó quyết định mức sẵn lòng trả
của một quốc gia. Có thể thấy việc đánh giá tính bền vững theo định nghĩa của IMF
10
không hề dễ dàng và có phần khá mơ hồ. Hiện tại vẫn chƣa có một cơ sở thống nhất
để có thể đo lƣờng khả năng thanh toán, khả năng thanh khoản và khả năng điều
chỉnh thu chi từ đó đánh giá đƣợc tính bền vững của nợ của một quốc gia. Hơn nữa,
tính bền vững và an toàn của nợ không chỉ phụ thuộc vào hiện tại của quốc gia vay
nợ mà còn chịu ảnh hƣởng bởi những biến động kinh tế toàn cầu. Chi phí tài trợ
luôn thay đổi theo thời gian và khó dự đoán trƣớc. Đặc biệt, nó có thể tăng lên khi
bùng phát nợ và có thể tạo ra một vòng luẩn quẩn. Kết quả là một khoản nợ có thể
bền vững trong hôm nay nhƣng có thể ngày mai không bền vững và ngƣợc lại.
Nhƣ vậy, có thể thấy vấn đề về nợ công và tính bền vững của nợ công đã đƣợc thảo
luận từ rất lâu, nhƣng đến thời điểm hiện nay, chƣa có một khái niệm về tính bền
vững của nợ công đƣợc xác định rõ ràng. Mặc dù, các nhà nghiên cứu có thể thống
mô nợ nƣớc ngoài ở mức trung bình 19-49,7% GDP, nhƣng đồng thời có tỷ lệ nợ
ngắn hạn cao (trên 130% dự trữ ngoại hối), tỉ giá cứng nhắc và bất ổn chính trị.
Nhóm quốc gia này có xác suất rơi vào khủng hoảng lên tới 41,5%.
Ngƣợc lại, những quốc gia có rủi ro thấp là những nƣớc có nợ nƣớc ngoài thấp, tỉ lệ
nợ ngắn hạn bé hơn 130% dự trữ ngoại hối và tỉ lệ nợ công nƣớc ngoài bé hơn
210% thu ngân sách, cùng với nền kinh tế không nằm trong tình trạng suy thoái.
58,4% những quốc gia không xảy ra khủng hoảng nợ thoả mãn các điều kiện này.
Dựa theo quy tắc này, có thể phân loại quốc gia vào vùng khủng hoảng hoặc vùng
an toàn. Các quan sát trong một nốt nào đó đƣợc phân vào vùng khủng hoảng nếu
xác suất xảy ra khủng hoảng của nốt đó lớn hơn xác suất xảy ra khủng hoảng trung
bình của toàn mẫu. Tƣơng tự nhƣ vậy đối với các nốt đƣợc phân vào vùng an toàn.
12
Hình 2.2: Mô hình cây nhị phân
13
2.2.2. Khung phân tích của WB và IMF về tính bền vững của nợ
Nhƣợc điểm của phƣơng pháp Cây nhị phân ở trên là chỉ đƣa ra đƣợc nguy cơ rơi
vào khủng hoảng nợ tại một thời điểm nào đó dựa trên số liệu trong quá khứ mà
không chỉ ra đƣợc những nguyên nhân tiềm ẩn ảnh hƣởng đến tính bền vững của nợ
quốc gia. Tháng 4 năm 2005, IMF và WB đƣa ra khung phân tích nợ bền vững
(DSF - Debt Sustainability Framework) nhằm giúp đánh giá tính bền vững nợ của
một quốc gia và những rủi ro tài khóa đi kèm. Khung phân tích này cũng đƣợc định
kỳ xem xét lại. Theo bản thông tin của IMF (The Joint World Bank - IMF Debt
Sustainability Framework for Low-Income Countries5) phƣơng pháp này nhằm
tới hai mục tiêu chính:
Chính sách yếu
100
30
200
15
25
Chính sách trung bình
150
40
250
20
30
Chính sách tốt
200
50
300
25
35
Nguồn: Hƣớng dẫn phân tích tính bền vững của nợ LIC (A Guide to LIC Debt
Sustainability Analysis), WB (2006);
Việc phân loại chính sách của quốc gia thuộc vào loại yếu, trung bình hay tốt đƣợc
dựa trên tiêu chuẩn đánh giá về chất lƣợng thể chế và chính sách CPIA (Country
Policy and Institutional Accessment) của World bank. CPIA đƣợc chấm theo thang
điểm từ 1 đến 6. Những nƣớc có CPIA thấp hơn hoặc bằng 3.25 đƣợc xem là có
chính sách yếu, thấp hơn 3.75 đƣợc xem là chính sách trung bình và cao hơn hoặc
bằng 3.75 đƣợc xem là có chính sách tốt. Với mõi nhóm quốc gia thì tiêu chí đƣa ra
ngƣỡng an toàn nợ của WB và IMF trong DSF cũng khác nhau dựa theo bảng 3.6.
2.2.3. Mô hình nợ bền vững Jaime de Pines
Tài khoản vãng lai có thể đƣợc hiểu theo 2 cách. Cách truyền thống là tính toán tài
tăng trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng xuất khẩu.
Mô hình nợ bền vững bắt đầu bằng việc xác định cán cân thanh toán nhƣ sau:
(1)
Trong đó:
là tổng nợ nƣớc ngoài ở năm tính bằng USD;
là nợ ở năm trƣớc đó
;
là cân đối tài khoản vãng lai ở năm t.
Giả sử mức lãi suất của nợ nƣớc ngoài trong năm t là
, khi đó tổng số tiền trả lãi
nợ của quốc gia trong năm t sẽ bằng lãi suất của năm t nhân với tổng số nợ tích lũy
cho đến đầu năm t, tức là
. Do đó ta có tiền trả lãi nợ của năm t là
Thêm và bớt khoản tiền trả lãi nợ vào phƣơng trình (1) ta có:
(2)
Trong đó
và
là nhập khẩu và xuất khẩu.
Mô hình này giả định rằng tất cả các biến trong mô hình đều là biến ngoại suy, và
rằng các chủ thể kinh tế sẽ không thay đổi hành vi của họ một khi hành vi này đã
là tỷ lệ tăng trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng
xuất khẩu.
Phƣơng trình (3) có thể viết lại nhƣ sau:
(4)
Theo định nghĩa:
(5)
Giả sử
và
là các hằng số dƣơng (nhƣ đã nói ở trên, mô hình Jaime De Pinies
giả định rằng các chủ thể kinh tế không thay đổi hành vi của họ trong suốt thời kỳ dự
báo), phƣơng trình (4) và (5) tạo thành hệ thống các phƣơng trình sai phân, có
thể giải đƣợc nhƣ sau:
[
Nếu
, thì
(
]
là tỷ lệ giữa nhập khẩu trên xuất khẩu ở năm đầu
tiên). Phƣơng trình số (4) có thể viết lại nhƣ sau:
∑
vào phƣơng trình (6) ta có:
(7)
Phƣơng trình (7) chỉ ra rằng động thái của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu
đƣợc phụ
thuộc vào tham số tỷ lệ lãi suất trên mức tăng trƣởng xuất khẩu ( ) và tỷ lệ tăng
trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng xuất khẩu ( ); hai giá trị cho trƣớc là
và
quy định xuất phát điểm của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu . Để phƣơng trình có nghĩa,
giả định
. Mô hình cho thấy tiến triển của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu theo thời
gian . Nếu tỷ lệ này tăng mạnh, thì quốc gia đó có cán cân thanh toán thâm hụt,
khó trả nợ và có nguy cơ khủng hoảng nợ. Đây chính là mô hình dùng để khảo sát
tính bền vững của nợ nƣớc ngoài.