Biến đổi cơ cấu lao động nông thôn dưới tác động của di cư lao động hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại huyện triệu sơn, tỉnh thanh hóa) tt - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN VĂN TRƯỜNG

BIẾN ĐỔI CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2018


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS Đặng Nguyên Anh
2. PGS. TS Lê Thị Kim Lan

Phản biện 1: PGS.TS. Mai Văn Hai
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Chí Dũng

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi………...giờ…………phút, ngày………tháng…năm……


thiện sản xuất, sinh hoạt và nâng cao đời sống tinh thần của mình, nhiều lao động đã
rời bỏ quê hương lên các đô thị trong nước và ra nước ngoài để kiếm sống, nhằm
tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống của hộ gia đình. Đánh giá một cách khách
quan, những đóng của DCLĐ trong những năm gần đây, mặc dù cuộc sống của
người dân ngày một được cải thiện và nâng cao về mọi mặt, song cũng chính thực
trạng DCLĐ đã, đang tác động tiêu cực và sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống người
nông dân như: sự thay đổi nguồn nhân lực, chuyển dịch CCLĐ trong nông nghiệp,
vấn đề nghề nghiệp, việc làm, sự biến đổi về văn hoá, lối sống,… trong sự biến đổi
cuộc sống của người dân.
Thực trạng nói trên đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý
thuyết để giải thích và vận dụng vào nghiên cứu quá trình CCLĐ nông thôn hiện
nay trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, từ đó nhằm tìm ra hướng đi phù hợp,
định hướng chính sách phát triển CCLĐ nông thôn một cách hợp lý trong quá trình
phát triển đất nước. Từ những lý do trên, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài:
1


“Biến đổi cơ cấu lao động nông thôn dưới tác động của di cư lao động hiện nay
(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch CCLĐ nông thôn
dưới tác động của DCLĐ ở địa bàn nông thôn huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tác động tích cực đến quá
trình chuyển dịch CCLĐ nông thôn tại địa phương.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tác động của DCLĐ đến quá trình chuyển dịch CCLĐ hộ gia đình nông
thôn trên huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Hộ gia đình có người di cư trên địa bàn chính là khách thể nghiên cứu của


Nội dung quan sát chủ yếu tập trung vào các khía cạnh về đời sống sản xuất,
lao động - việc làm của hộ gia đình có người DCLĐ hiện đang sinh sống tại địa
bàn nghiên cứu.
4.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu phỏng vấn 15 trường hợp bao gồm 5 trường hợp đối với người di
cư, 5 trường hợp đối với người không di cư, 5 trường hợp đối với thân nhân người
di cư để thu thập những ý kiến đánh giá của họ về tác động của DCLĐ tới sự
chuyển dịch CCLĐ nông thôn hiện nay tại địa phương.
4.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Có 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung (TLNTT) được tiến hành với mục đích
nhằm biết được thực trạng chuyển dịch CCLĐ nông thôn dưới tác động của DCLĐ
và các chính sách của chính quyền địa phương đối với các đối tượng này, từ đó
đưa ra những đề xuất và giải pháp cần thiết nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCLĐ tại
địa phương một cách tích cực và hiệu quả.
4.2.5. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Khảo sát bằng bảng hỏi 385 đơn vị mẫu là hộ gia đình có người di cư trên
địa bàn 2 xã Hợp Lý và Hợp Thắng. Toàn bộ thông tin thu được từ bảng hỏi sẽ
được tổng hợp và sẽ được xử lý qua phần mềm SPSS. version 17.0 theo các biến
số cơ bản.
4.2.6. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện đối với các cán bộ quản lý các xã trên
địa bàn nghiên cứu với số lượng là 10 mẫu. Mục đích nhằm thu thập được những
thông tin cần thiết liên quan đến quan điểm của cán bộ lãnh đạo ở các cấp địa
phương về ảnh hưởng DCLĐ hiện nay tới sự chuyển dịch CCLĐ nông nghiệp tại
địa phương. Đồng thời đưa ra khuyến nghị và đề xuất từ phía các cấp chính quyền.
4.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng chuyển dịch CCLĐ nông thôn dưới tác động của DCLĐ trên địa
bàn huyện Triệu Sơn và ở các hộ gia đình khảo sát diễn ra như thế nào?
- Tác động của DCLĐ đến sự chuyển dịch CCLĐ ở các hộ gia đình nông thôn

- Đặc điểm của
hộ gia đình

CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN

Chuyển dịch cơ
cấu lao động
theo trình độ
chuyên môn
kỹ thuật

Giải
pháp

Chuyển dịch cơ
cấu lao động từ
nông nghiệp
sang phi
nông nghiệp
Chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là một trong số ít các công trình nghiên cứu về tác động của di cư
đến CCLĐ nông thôn. Không chỉ rà soát và tổng hợp lại hệ thống lý thuyết xã hội
học liên quan đến DCLĐ và chuyển dịch cơ cấu, luận án còn góp phần kiểm
nghiệm lại các lý thuyết này dựa trên việc phân tích dữ liệu từ mẫu khảo sát được
thu thập. Những phát hiện từ luận án sẽ góp phần bổ sung tri thức về chuyển dịch

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch CCLĐ hộ gia đình nông thôn huyện
Triệu Sơn dưới tác động của DCLĐ.
Chương 4: Tác động của DCLĐ đến sự chuyển dịch CCLĐ hộ gia đình
nông thôn huyện Triệu Sơn hiện nay.

5


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Di cư và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, thu hút được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm như C. Reichert [99], Chukwuedozie K. Ajaero and Patience
C. Onokala [100], Jabir Hasan Khan, Tarique Hassan và Shamshad [110],
Rainier V. Almazan [113], Taryn Dinkelman [114]. Điểm tương đồng trong các
công trình nghiên cứu này là quá trình chuyển dịch lao động nông thôn vào các
lĩnh vực khác của nền kinh tế là một phần cần thiết trong chiến lược phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia. Người dân bắt đầu thay thế sản xuất nông nghiệp sang
nền kinh tế phi nông nghiệp. Phần lớn DCLĐ đã tiếp cận nguồn vốn bên ngoài mà
cụ thể là thông qua kiều hối gửi về cho gia đình, người thân để có thể tạo điều kiện
chuyển dịch cơ cấu thị trường lao động nông thôn.
Về di cư và phát triển kinh tế hộ gia đình, Jakobsen và Thomas Sætre
(2009) nghiên cứu tác động của DCLĐ tới hộ gia đình nông thôn trong bối cảnh ở
Tây Nam Trung Quốc - Nghiên cứu phân bổ nguồn lực và thế hệ di cư thứ hai đã
chỉ ra rằng DCLĐ ảnh hưởng đến việc phân phối các nguồn lực giữa các hộ gia
đình, cụ thể như các hộ gia đình có người DCLĐ có xu hướng về kinh tế tốt hơn.
Tương tự, Hua Qin [107] và Zhao Rong [117] cũng đã có những nghiên cứu
so sánh hộ gia đình di cư và hộ gia đình không di cư về sản xuất nông nghiệp, có

tích và khẳng định trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang xuất hiện xu hướng
chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình nông nghiệp, đồng thời về mặt lý
luận đã xác định vai trò của nó trong sự nghiệp phát triển nông thôn gắn với quá
trình Đổi Mới kinh tế xã hội ở nông thôn Việt Nam.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã làm rõ những đặc điểm, vai trò,
thực trạng và giải pháp của quá trình chuyển dịch CCLĐ cũng như vấn đề
DCLĐ. Nhưng vẫn chỉ xoay quanh các vấn đề cơ bản như nguyên nhân, thực
trạng, hệ quả của nó. Nhiều nội dung chưa được phân tích, đặc biệt là nguyên
nhân, chỉ mới xem xét trên góc độ giải quyết việc làm, mà chưa đề cập nhiều
đến vấn đề tác động về chuyển dịch CCLĐ trong nông thôn.
Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch CCLĐ đã được công bố trong
thời gian qua chủ yếu có điểm xuất phát từ chuyên ngành kinh tế, kinh tế học, kinh
tế phát triển. Những nghiên cứu dưới góc độ xã hội học rất hiếm hoi. Đặc biệt là
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa nói
riêng, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá thực trạng chuyển
dịch CCLĐ nông thôn dưới tác động của DCLĐ trên cả phương diện lý luận và
thực tiễn. Vì vậy, đây được coi là hướng nghiên cứu mới cần được tập trung đi sâu
tìm hiểu và phân tích trong đề tài luận án, với hy vọng góp thêm đôi nét chấm phá
vào bức tranh khoa học mà các tác giả đi trước đã dày công khởi dựng.
7


Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Các khái niệm cơ bản
2.1.1. Di cư và di cư lao động
2.1.1.1. Di cư
Hiện nay, đã và đang tồn tại hai thuật ngữ: di cư và di dân, về cơ bản hai
khái niệm này có nội hàm như nhau và có thể sử dụng thay thế cho nhau. Tuy
nhiên, trong luận án này thuật ngữ “di cư” được sử dụng thống nhất xuyên suốt.

CCLĐ phản ánh cấu trúc bên trong của tổng thể lao động, với đặc trưng là tỷ
8


lệ LLLĐ theo các tiêu chí nhất định. Về bản chất, CCLĐ là một đại lượng kinh tế
phản ánh số lượng các bộ phận hợp thành nguồn lao động và mối quan hệ tương tác
về tỷ lệ giữa các bộ phận ấy trong tổng nguồn lao động xã hội [34].
2.1.4.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động
Có thể hiểu, chuyển dịch CCLĐ là một quá trình nhằm chuyển dịch cấu trúc và
mối quan hệ và lao động theo những mục tiêu nhất địvào giai đoạn 2005-2010, số lao động nam di cư cũng chiếm tỷ lệ
lớn 68,1%, nữ giới là 31,9%. Sang giai đoạn 2010-2015 thì hoàn toàn ngược lại khi
tỷ lệ lao động nữ lại tăng lên 53,0%, trong khi đó tỷ lệ này ở nam giới chỉ là 47,0%
vào thời điểm năm 2015. Nơi đến của cả nam và nữ chủ yếu đều tập trung ở nước
ngoài (do Đề án xuất khẩu lao động của Thủ tướng chính phủ ban hành 2009) đã tác
động mạnh mẽ tới luồng di chuyển quốc tế trong những năm gần đây tại các hộ gia
đình trên địa bàn 2 xã Hợp Lý và Hợp Thắng.
3.3.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo độ tuổi
Kết quả điều tra cho thấy, CCLĐ theo độ tuổi của các hộ gia đình phần lớn là
LLLĐ trẻ chiếm số đông trong tổng số lao động. Hầu hết đều ở trong độ tuổi lao
động và tập trung nhiều ở độ tuổi 18 đến 45. Phần trăm cộng dồn dao động trong độ
tuổi 18-45 chiếm trung bình trên 95% ở cả 2 xã. Trong đó, số lao động rất trẻ ở độ
tuổi từ 18-25 tại cả 2 xã là 26,4%; độ tuổi từ 26 đến 35 là 38,5%; độ tuổi từ 35 đến
45 là 30,4%. Đội ngũ lao động ở nhóm tuổi cao nhất (46 đến 55 tuổi) trong CCLĐ
chiếm một tỷ lệ khá nhỏ, trung bình dưới 5%.
Điều đáng nói ở đây, trong nhóm độ tuổi lao động từ 18 đến 25 trước và sau
2010 liên tục tăng. Các hộ gia đình tại xã Hợp Lý năm 2005 là 22,4%, năm 2010
tăng lên 26,9% và năm 2015 là 30,5% (tăng 8,1% so với năm 2005). Các hộ gia
đình tại xã Hợp Thắng, năm 2005 là 21,7%, năm 2010 tăng lên 27,4% và năm
2015 tăng lên 29,2% (tăng 7,5% so với năm 2005). Ở nhóm tuổi 26-35 tương đối
ổn định, riêng các nhóm 36 đến 45 tuổi và 46 đến 55 tuổi có xu hướng giảm

2010) đến 27,7% (năm 2015). Nếu xét cả giai đoạn 2005-2015 tăng lên 13,3% tỷ lệ
lao động đã qua đào tạo về CMKT.
Hiện nay nhiều cơ sở doanh nghiệp và hơn nữa thị trường lao động nước
ngoài ngày một đòi hỏi người lao động ngoài việc có sức khỏe, năng động và nhiệt
huyết thì việc có bằng cấp chuyên môn cũng là một yếu tố phải có khi tham gia
vào các thị trường lao động này. Đây là nguyên nhân đầu lý giải tại sao từ sau
2010 đến hết năm 2015, LLLĐ được đào tạo qua trình độ CMKT trong các hộ gia
đình tại 2 xã được đẩy mạnh và tăng lên khá nhanh.
3.5. Chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
Kết quả phân tích cho thấy, nhóm hộ gia đình tại xã Hợp Lý, vào thời điểm
năm 2005 số lao động trong ngành NLTS chiếm tỷ lệ là 82,6% đến năm 2010 giảm
xuống 75,4% và năm 2015 giảm còn 63,5% (giảm 19,1%). Tương tự, nhóm hộ gia
đình tại xã Hợp Thắng năm 2005 số lao động trong ngành NLTS chiếm tỷ lệ là 82,6%
nhưng đến năm 2010 giảm còn 79,1% và năm 2015 giảm còn 73,0% (giảm 9,6%).
Nghiên cứu cho thấy, số lao động tại thời điểm trước năm 2005 làm trong
hoạt động CN - XD đều có xu hướng tăng lên ở tất cả các hộ gia đình nghiên cứu.
Các hộ gia đình tại xã Hợp Lý năm 2005 chỉ có 13,8% số lao động trong ngành,
đến 2015 tăng lên 21,0%. Các hộ gia
CCLĐ ngành CN-XD tăng lên 1,52 lần tại các hộ trên địa bàn xã Hợp Lý và
1,3 lần tại các hộ trên địa bàn xã Hợp Thắng. CCLĐ trong ngành DV có sự chuyển
dịch nhanh nhất, lĩnh vực ngành nghề chủ yếu trong hoạt động dịch DV đó là bán
buôn và bán lẻ các sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ y tế tư nhân, đặc biệt có một số hộ
trong tổng mẫu điều tra có cửa hàng đại lý buôn bán quy mô lớn.
Như vậy, tính đến thời điểm 2015, NLTS vẫn là ngành chiếm tỷ lệ lao động
cao nhất trong các hộ gia đình, tiếp đến là CN-XD và cuối cùng là DV. Tuy nhiên,
cũng phải nhìn nhận rằng tỷ lệ lao động NLTS có sự biến động lớn nhất so với các
ngành còn lại, giảm 19,1% và 9,6% tương ứng với các hộ gia đình tại xã Hợp Lý
và Hợp Thắng (giai đoạn 2010-2015), tỷ lệ lao động trong các ngành nghề CN-XD
và ngành DV đang có xu hướng tăng lên.


đình càng lớn.
Xã Hợp Lý và Hợp Thắng là những xã thuần nông trên địa bàn huyện Triệu
Sơn, đặc biệt là xã Hợp Thắng, lực lượng tham gia vào sản xuất nông nghiệp chủ yếu
là nữ giới nhưng có rất nhiều lao động nữ trên địa bàn di cư đến nơi khác tìm việc
làm để có thêm thu nhập cho gia đình.
Đặc biệt trong những năm gần đây, thị trường lao động trong nước và quốc tế
có nhu cầu tuyển dụng lao động nữ trong các ngành nghề công nghiệp nhẹ (dệt may,
giày da,...) nhiều hơn so với nam giới. Cũng chính điều này đã gia tăng đáng kể tỷ lệ
nữ đi DCLĐ trong các hộ gia đình tại địa bàn huyện Triệu Sơn, ảnh hưởng đến tình
hình sản xuất kinh tế hộ gia đình vào mùa vụ trong năm.
Kết quả cho thấy có sự khác biệt về giới tính của người di cư trong việc thuê
lao động của hộ gia đình, theo đó 57,4% hộ gia đình có lao động nữ di cư phải thuê
lao động so với 42,6% hộ gia đình có nam giới đi làm ăn xa, với mức ý nghĩa thống
kê p < 0,05.
4.2.2. Di cư lao động góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp
16


Từ quá trình điều tra bảng hỏi, kết hợp với phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
cho thấy những hộ gia đình có người DCLĐ gặp một số khó khăn nhất định đó là tình
trạng thiếu hụt nguồn lao động trong sản xuất nông nghiệp và công việc lao động
chính của các hộ gia đình, tác động không nhỏ đến năng suất và chất lượng nông sản
ở địa phương. Nguyên nhân chính tác động đến sự thiếu hụt lao động này là do
LLLĐ đi làm ăn xa chưa quay trở lại quê hương, do đó lực lượng lao động của hộ bị
thiếu hụt, đồng thời phải điều chỉnh. Với các hộ gia đình có thành viên đi làm ăn ở
bên ngoài trong một khoảng thời gian dài (81,6% trường hợp đi trên 2 năm) thì lao
động di cư không quay trở lại quê hương để tham gia vào quá trình sản xuất, dẫn đến
sự thiếu hụt một lực lượng lớn lao động tại các hộ gia đình ở địa phương.
Khi nhận định về tác động của DCLĐ đến tình hình sản xuất của nông hộ, kết
quả thu được cho thấy DCLĐ gây ra sự thiếu hụt LLLĐ trong năm (97,7%), thiếu

lần so với số lượng đi di cư ít, nếu ảnh hưởng của các yếu tố khác trong mô hình
17


không đổi. Khác biệt trên có ý nghĩa thống kê p < 0,01 tương ứng với 99% khoảng
tin cậy (OR = 2,756, 99%, CI = 5,39-45,9). Như vậy, việc thuê lao động vào mùa
vụ chịu tác động bởi số lượng đi di cư, theo đó số lượng đi di cư nhiều có các xu
hướng thuê lao động cao hơn so với số lượng người đi di cư ít.
Thời gian di cư trên 2 năm có xác suất thuê lao động vào mùa vụ cao gấp 0,038
lần so với số thời gian di cư dưới 2 năm, nếu ảnh hưởng của các yếu tố khác trong mô
hình không đổi. Khác biệt trên có ý nghĩa thống kê p < 0,01 tương ứng với 99%
khoảng tin cậy (OR = 0,038, 99% CI = 0,01-0,11). Như vậy, việc thuê lao động vào
mùa vụ chịu tác động bởi thời gian di cư, theo đó thời gian di cư trên 2 năm có các xu
hướng thuê lao động cao hơn so với thời gian di cư dưới 2 năm.
Đối với biên số đặc điểm hộ gia đình, kết quả mô hình hồi quy logistic với biến
phụ thuộc là thuê lao động vào mùa vụ. Mô hình có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, R2
= 10,5% cho biết các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích được 10,5% sự thay
đổi của biến phụ thuộc theo sự biến thiên của biến độc lập trong mô hình. Kết quả
cho thấy nghề nông có xác suất thuê lao động vào mùa vụ cao gấp 2,358 lần so với
nghề phi nông, nếu ảnh hưởng của các yếu tố khác trong mô hình không đổi. Khác
biệt trên có ý nghĩa thống kê p < 0,05 tương ứng với 95% khoảng tin cậy (OR =
2,358, 95% CI = 1,14-4,89). Như vậy, việc thuê lao động vào mùa vụ chịu tác động
bởi nghề nghiệp hộ gia đình, theo đó nghề nông có các xu hướng thuê lao động cao
hơn so với nghề phi nông.
Kết quả ước lượng mô hình logistic ở trên cho thấy p của mức sống hộ gia đình
có ý nghĩa thống kê p < 0,05 tương ứng với 95% khoảng tin cậy (OR = 6,608, 95%
CI = 1,56-27,98). Như vậy, việc thuê lao động vào mùa vụ chịu tác động bởi mức
sống hộ gia đình, theo đó hộ khá giả có các xu hướng (xác suất) thuê lao động cao
hơn so với hộ trung bình và nghèo.
Số người ăn theo trong hộ có ảnh hưởng đến xác suất thuê lao động. Odd ratio

tỉnh khác làm việc chiếm tỷ lệ 87,8% cao hơn xu hướng DCLĐ không thay đổi và
giảm xuống (47,4% và 35,3%) mức ý nghĩa thống kê p < 0,01; xu hướng DCLĐ
tăng lên ở nhóm di chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác tại địa
phương chiếm tỷ lệ 82,3% cao hơn xu hướng DCLĐ không thay đổi và giảm
xuống (43,3% và 29,4%) mức ý nghĩa thống kê p < 0,01. Các mối tương quan này
có nghĩa ý thống kê.
Xu hướng chuyển dịch CCLĐ theo trình độ học vấn và CMKT của các hộ gia
đình nông thôn còn cho thấy, hiện nay với xu hướng DCLĐ ngày càng tăng, nhu
cầu của thị trường lao động ngày càng đòi hỏi LLLĐ phải có trình độ học vấn và
CMKT, được đào tạo qua tay nghề. Với sự hỗ trợ kinh tế của lao động di cư, điều
kiện của các hộ gia đình được nâng lên đang kể. Chính vì vậy, việc đầu tư vào
giáo dục, học vấn của các thành viên trong gia đình ở lại sẽ ngày càng tăng. Hy
vọng rằng, xu hướng giảm lao động không có CMKT và tăng lao động có CMKT
dần dần rõ nét hơn.
Dựa trên cơ sở những kết quả nghiên cứu của luận án, có thể đưa ra xu hướng
chuyển dịch CCLĐ từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp của các hộ gia đình trên
địa bàn 2 xã trong thời gian tới đó là, CCLĐ nông nghiệp sẽ còn tiếp tục giảm dần
trong những năm tới. Ngược lại, CCLĐ ngành CN-XD và ngành dịch vụ ngày
càng có xu hướng tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ dự báo sẽ vẫn còn tiếp tục tăng
lên vào thời gian tới do tác động của cơ chế thị trường và quá trình tích lũy vốn từ
DCLĐ, đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại địa phương, điều này hoàn toàn phù
hợp với xu hướng phát triển các hoạt động dịch vụ và thương mại trong quá trình
hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay.
Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chuyển dịch cơ
cấu nghề nghiệp của các hộ điều tra như: cơ chế thị trường, chính sách phát triển KTXH của địa phương và Nhà nước, cũng như quá trình CNH, HĐH, song DCLĐ cũng
là yếu tố quan trọng, có vai trò tác động và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình làm chuyển
dịch cơ cấu nghề nghiệp trên địa bàn. Quá trình tích lũy vốn và kinh nghiệm, sự hiểu
biết từ quá trình DCLĐ ở nơi đến đã giúp người lao động tăng khả năng nắm bắt nhu
cầu thị trường, sau khi trở về quê hương cùng với số vốn tích lũy được, giúp họ mở
các cửa hàng kinh doanh, buôn bán. Điều này có thể tác động đến sự chuyển dịch

hiện nay trong nghiên cứu cho thấy đang có xu hướng tăng lên cả về mặt số lượng
và chất lượng. Yếu tố chính tác động đến xu hướng này là do những đòi hỏi của
thị trường lao động, buộc người lao động phải có trình độ văn hóa và chuyên môn
kỹ thuật để đảm nhận các công việc tuyển dụng. Do đó, buộc người lao động phải
không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của bản thân để nhanh chóng hòa
nhập và tham gia vào thị trường lao động. Đặc biệt là các thị trường lao động “khó
tính” như Nhật Bản, Hàn Quốc, đòi hỏi nhân lực lao động phải có trình độ tay
nghề cao.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, CCLĐ từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
trên địa bàn nghiên cứu cũng có sự chuyển dịch trong 10 năm (2005 - 2015), vào
thời điểm trước năm 2010, CCLĐ tại địa phương chủ yếu là làm trong ngành NLTS
20


chiếm tỷ lệ hơn 80%, tuy nhiên sau 2010 lao động chuyển sang các ngành CN - XD
và dịch vụ có xu hướng tăng lên. Đặc biệt là ngành dịch vụ có xu hướng tăng mạnh
nhất. Mặc dù có nhiều yếu tố tác động đến sự chuyển dịch này như quá trình đô thị
hóa, chính sách phát triển nông thôn, chính sách DCLĐ,… nhưng luận án đã chỉ ra
yếu tố DCLĐ có tác động đến sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi
nông nghiệp và chuyển dịch CCLĐ theo nghề nghiệp theo hướng phi nông.
DCLD hiện nay đang tác động đến đời sống các hộ gia đình nông thôn trên địa
bàn khảo sát ở nhiều lĩnh vực trong đó có sự đóng góp kinh tế cho hộ gia đình, góp
phần chuyển dịch nghề nghiệp, chuyển dịch CCLĐ tại địa phương. Quá trình
DCLĐ đã giúp người di cư tích lũy được những hiểu biết từ thực tế thị trường lao
động, cùng với số vốn có được, giúp họ có thêm điều kiện để chuyển dịch nghề
nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Tuy nhiên, DCLĐ đã và đang gây nên
sự thiếu hụt lao động vào mùa vụ, trở thành một thực tế diễn ra phổ biến hiện nay.
Phần đông các hộ gia đình đều nhận định phải thuê lao động vào mùa vụ do những
lao động chính trong gia đình đều đi làm ăn xa ở địa phương. Hơn nữa, DCLĐ còn
tác động đến đời sống và phân công lao động trong các hộ gia đình có người di cư.

ảnh hưởng đến quy mô và CCLĐ hộ gia đình. Về hạn chế, luận án chưa có điều kiện
xem xét quá trình chuyển dịch CCLĐ tại nơi đến. Đó cũng là những hạn chế mà luận
án này chưa thực hiện được. Đây là hướng nghiên cứu tiếp theo của nghiên cứu sinh
cũng như của những nhà nghiên cứu khác có cùng mối quan tâm đến chủ đề của luận
án này.
2. Giải pháp và khuyến nghị
2.1. Giải pháp
2.1.1. Thực hiện chương trình tạo việc làm cho người lao động
Nhà nước và địa phương cần quan tâm hướng nghiệp và đào tạo nghề nghiệp
chuyên môn, nâng cao trình độ của người lao động ở nông thôn trong xã, đặc biệt
là đối tượng thanh niên. Đồng thời tạo vốn kiến thức cần thiết để họ có thể tìm
việc làm ở những nơi khác tốt hơn, không chỉ nhận các công việc chân tay, thu
nhập thấp, kém ổn định.
2.1.2. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn
Kết cấu hạ tầng địa phương có tác động đến tốc độ chuyển dịch CCLĐ. Do
đó cần có chính sách tăng cường việc nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng trên cơ sở có
quy hoạch một cách khoa học khu vực nông thôn. Mặc dù có tác động gián tiếp
đến chuyển dịch CCLĐ, yếu tố này rất quan trọng làm cho thị trường hàng hóa
nông thôn phát triển, tạo nên sự đa dạng của ngành nghề lao động, giảm tỷ trọng
lao động nông nghiệp.
2.1.3. Thực hiện phân bố lại dân cư và cân đối lao động lại giữa các vùng,
các ngành theo từng giai đoạn
Đối với vùng đồng bằng thuộc xã Hợp Lý, đây là vùng nông nghiệp trọng
điểm. Hướng đi chính là thâm canh lúa, ngô, rau màu, hoa, cây cảnh, chăn nuôi gia
súc, gia cẩm, nuôi cá, lúa kết hợp; sửa chữa cơ khí, nông cụ, điện, chế biến thức ăn
chăn nuôi… Cần phát huy thế mạnh để chuyển dịch CCLĐ, từng bước hình thành
các điểm dịch vụ sản xuất công nghiệp mới.
Đối với vùng bán sơn địa thuộc xã Hợp Thắng, phát huy lợi thế về đất đai để
phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng trồng rừng kinh tế. Gắn việc trồng rừng
mới, trồng cây lâu năm với việc khôi phục, bảo vệ và chăm sóc rừng, môi trường

việc làm ổn định cho người dân địa phương.
Xây dựng và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ dạy nghề, cung cấp thông tin
về việc làm cho người lao động, hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh, phát
triển các ngành nghề truyền thống và đặc thù của các địa phương từ nguồn hỗ trợ
dạy nghề của Nhà Nước và vay vốn tín dụng ưu đãi để tạo việc làm tại chỗ cho
người lao động.
2.2.2. Đối với chính quyền địa phương
Đảng ủy, UBND xã cần quan tâm đến phát triển đa dạng hóa ngành nghề tại địa
phương, tạo việc làm cho người lao động. Cần đẩy mạnh chuyển dịch CCLĐ nông

23


thôn theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động trong các
ngành sản xuất phi nông nghiệp.
Có biện pháp mở rộng diện tích canh tác ở các địa phương, tận dụng đất chưa
khai thác để trống để đưa vào sản xuất. Đồng thời, phải đổi mới CCKT, đầu tư công
nghệ, kỹ thuật để phát triển cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả,
chăn nuôi và các ngành nghề khác.
Cần có những chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, khôi phục các làng nghề truyền
thống, có quỹ cho vay vốn ưu đãi và bao tiêu đầu ra nhằm mục đích vừa bảo tồn
truyền thống văn hoá, vừa thu hút được nguồn lao động tại chỗ. Phối hợp với các cơ
sở sản xuất kinh doanh đóng trên địa bàn để tạo việc làm cho lao động địa phương.
2.2.3. Đối với người dân
Cần chủ động và tích cực hơn nữa trong đầu tư cho nguồn vốn nhân lực và
nguồn vốn xã hội của gia đình: trang bị những kiến thức, chuyên môn nghề nghiệp
cần thiết cho LLLĐ; tăng cường các mối quan hệ xã hội, tìm hiểu thông tin tuyển
dụng lao động,… để tham gia vào thị trường lao động một cách thuận lợi nhất.
Sử dụng nguồn vốn tài chính hiện có của gia đình có hiệu quả hơn: tập trung
cho giáo dục và đào tạo nghề cho lao động của gia đình nhất là cho con em mình;

4. Đoàn Văn Trường (2015), Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn đến
năm 2020, Tạp chí Dân số và Phát triển số 9 (173), tr.7-10.
5. Đoàn Văn Trường (2015), Tác động của di cư lao động đến kinh tế hộ gia đình
ở nông thôn hiện nay, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 9 (28)-2015,
tr.77-82.
6. Đoàn Văn Trường (2015), Tác động của di cư lao động đến khả năng tiếp cận
giáo dục của con cái tại các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay, Kỷ yếu Hội
thảo quốc tế: “Chuyển biến kinh tế-xã hội và giáo dục”, Viện Khoa học Giáo
dục Việt Nam, tr.266-273.
7. Đoàn Văn Trường (2016), Ảnh hưởng của di cư lao động nữ nông thôn đến phát
triển kinh tế hộ gia đình, Tạp chí Dân số và Phát triển số 3 (179), tr.7-11.
8. Đoàn Văn Trường (2016), Tác động của di cư lao động đối với phát triển nông
thôn hiện nay, Tạp chí Dân số và Phát triển số 6 (182), tr.6-10.
9. Đoàn Văn Trường - Lê Thị Hương (2016), Tác động của DCLĐ nữ nông thôn
đến phát triển kinh tế hộ gia đình ở Triệu Sơn, Thanh Hóa hiện nay, Tạp chí
Lao động và Công đoàn, số 605 (Kỳ 1 tháng 10-2016), tr.40-41.
10. Đoàn Văn Trường (2016), Vận dụng lý thuyết về phát triển kinh tế trong
nghiên cứu biến đổi cơ cấu lao động nông thôn dưới tác động của DCLĐ tại
Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 606 (Kỳ 2
tháng 10-2016), tr.14-15.
11. Đoàn Văn Trường (2016), Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện
Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa dưới tác động của di cư lao động, Tạp chí Lao
động và Công đoàn, số 608 (Kỳ 2 tháng 11-2016), tr.40-41.
12. Đoàn Văn Trường (2016), Biến đổi cơ cấu lao động nông thôn dưới tác động
của di cư lao động (Nghiên cứu trường hợp huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa),
Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 12(43)/2016, tr.63-68.
13. Đoàn Văn Trường (2016), Tác động của di cư lao động đến phát triển kinh tế
hộ gia đình nông thôn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Sơn
tỉnh Thanh Hóa), Kỷ yếu Hội thảo: “Hội nghị Khoa học cán bộ trẻ và Học viên
sau đại học năm 2016”, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status