Tiểu luận môn chính sách xã hội và quản lý xã hội Chính sách xã hội đối với người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế ở Việt Nam hiện nay - Pdf 50

MỞ ĐẦU
Nước ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh nền
kinh tế thế giới ở vào giai đoạn toàn cầu hoá. Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá phù hợp với xu thế của thời đại, Đảng ta đã lựa
chọn con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn phải đi tắt, đón đầu
bằng nhiều phương thức khác nhau trong đó phát triển các khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu kinh tế là một phương thức quan trọng.
Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế của Việt Nam ngày
càng trở thành nơi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước. Hiệu quả
trước mắt có thể thấy là nhiều việc làm mới được tạo ra, thu nhập tăng lên với
người lao động cùng với sự phát triển các hoạt động kinh tế khác như tài
chính, bảo hiểm, các dịch vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu
kinh tế. Điều lớn hơn là đã làm cho thay đổi nhanh chóng sự phát triển kinh tế
xã hội tại các khu vực có các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế
đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước.
Tại Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định “Con người và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hóa”. Hiện nay có hàng triệu lao động đang sống và làm
việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế. Thực tế đã cho thấy, để
nâng cao hiệu quả và phát triển năng suất lao động thì một trong những việc
phải làm là việc thực hiện tốt chính sách xã hội đối với người lao động trong
các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế bởi quan tâm đến chính
sách đối với người lao động là việc làm cần thiết. Tăng trưởng và phát triển
kinh tế bền vững cần có hàng loạt các yếu tố tổng hợp song yếu tố cơ bản nhất
đó là vốn và lao động – hai yếu tố có ý nghĩa quyết định mà bất kỳ quốc gia
nào cũng huy động.
Trong thời gian qua bên cạnh những kết quả đạt được thì việc thực hiện
chính sách xã hội đối với người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế
xuất và khu kinh tế thì trên thực tế vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót nhất
định. Do đó tôi chọn đề tài “Chính sách xã hội đối với người lao động trong
các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế ở Việt Nam hiện nay”

chế xuất và khu kinh tế trong thời gian qua cũng đang phá vỡ kết cấu xã hội
nông thôn truyền thống, bộc lộ những bất cập trong giải quyết vấn đề môi
trường sinh thái, việc làm và thu nhập của người dân mất đất, sự quá tải của
hệ thống kết cấu hạ tầng...
1.2.1. Những tác động tích cực của các khu công nghiệp, khu chế xuất
và khu kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay
Một là, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế là một địa điểm
quan trọng để thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, tập trung các
doanh nghiệp công nghiệp vào một khu vực địa lý.
Hai là, tạo việc làm và thu nhập.
Ba là, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế là địa bàn để tiếp
nhận chuyển giao công nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến của
các nước phát triển.
Bốn là, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, hợp lý và
hiệu quả.
2


Năm là, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường, bảo
vệ môi trường sinh thái cho phát triển bền vững.
Sáu là, góp phần tăng cung ứng hàng hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu.
1.2.2. Những tác động tiêu cực
Một là, do theo đuổi phong trào xây dựng khu công nghiệp, khu chế
xuất và khu kinh tế mà các nhà quản lý và đầu tư thiếu tính toán việc thu hút
các doanh nghiệp sản xuất nhằm “lấp đầy” khu công nghiệp, khu chế xuất và
khu kinh tế nên dẫn đến tình trạng lãng phí các nguồn lực.
Hai là, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng cho các khu công
nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế không phù hợp, không được người dân
ủng hộ đã gây ra tình trạng trì trệ trong phát triển khu công nghiệp, khu chế

đồng nghĩa với lực lượng lao động. Trong công tác điều tra chọn mẫu quốc
gia về Lao động - Việc làm tại Việt Nam thường dùng khái niệm nguồn lao
động như sau: nguồn lao động gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc
làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang
không có việc làm (thất nghiệp) hoặc đang đi học, hoặc đang làm nội trợ cho
gia đình mình, hoặc chưa có nhu cầu làm việc.
- Lực lượng lao động: Là bộ phận của nguồn lao động đang tham gia
hoạt động kinh tế, không kể là có việc làm hay không có việc làm. Theo quan
niệm của ngành lao động tại Việt Nam thì lực lượng lao động gồm những
người từ đủ 15 tuổi trở lên đang tham gia hoạt động kinh tế không phân biệt là
có việc làm hay đang thất nghiệp. Có thể nói rằng lực lượng lao động là khái
niệm mà các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thường dùng để đánh
giá nguồn lao động. Do vậy, ngoài các đặc trưng về nhân khẩu, về trình độ
học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật như đã nêu, lực lượng lao động còn
bao hàm các đặc trưng về trình độ, cơ cấu, kỹ năng nghề nghiệp, cấu trúc đào
tạo, tác phong kỷ luật lao động, đạo đức làm nghề, sự hiểu biết về luật pháp,
khả năng đáp ứng các yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đất
nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng Xã hội chủ nghĩa, khả năng hội nhập với thị trường lao động
trong khu vực và trên thế giới.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng và việc phát triển nguồn nhân lực
2.1.1. Các chỉ tiêu đánh gía chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của
nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực.
- Thể lực của nguồn nhân lực: sức khoẻ vừa là mục đích của phát triển,
đồng thời cũng là điều kiện của sự phát triển. Sức khoẻ là sự phát triển hài
hoà của con người cả về vật chất và tinh thần. Đó là sức khoẻ cơ thể và sức
khoẻ tinh thần. Sức khoẻ cơ thể là sự cường tráng, là năng lực lao động chân
tay. Sức khoẻ tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận

chất này cũng có thể đánh giá bằng phương pháp thống kê và xác định bằng
các chỉ tiêu định lượng như tỷ lệ người lao động vi phạm kỷ luật về thời gian
lao động (đi muộn, về sớm, không chấp hành quy định giờ giấc lao động
trong thời gian làm việc), tỷ lệ số người vi phạm kỷ luật công nghệ, tỷ lệ số
người bị thi hành kỷ luật trong năm…
2.1.2. Về các chỉ tiêu đánh giá việc phát triển nguồn nhân lực đáp
ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực chất của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là áp dụng các
phương pháp sản xuất công nghiệp và áp dụng các phương tiện kỹ thuật công
nghệ hiện đại vào tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Để
thực hiện thành công sự nghiệp đó đòi hỏi phải khai thác và phát huy cao độ
tất cả các nguồn lực trong xã hội đặc biệt là nguồn lực con người - yếu tố nội
5


sinh có tính chất quyết định nhất. Trong thời đại ngày nay, xã hội đang đặt ra
những yêu cầu cao đối với sự phát triển nguồn nhân lực dựa trên các chỉ tiêu
là thể lực, trí lực và cả phẩm chất tâm lý xã hội, đó là:
- Về mặt thể lực: quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với
việc áp dụng phổ biến các phương pháp sản xuất công nghiệp, các thiết bị và
công nghệ hiện đại, do đó đòi hỏi sức khoẻ và thể lực cường tráng của người
lao động trên các khía cạnh: có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng những quá trình
sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ
thống thiết bị công nghệ hiện đại được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị
trường khu vực và thế giới; luôn luôn có sự tỉnh táo, sảng khoái tinh thần.
- Về mặt trí lực: Một lực lượng lao động đông đảo có trình độ chuyên
môn kỹ thuật ngày càng cao là đòi hỏi hàng đầu và là nhân tố quyết định sự
thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay không có
lĩnh vực hoạt động nào lại không đòi hỏi lao động phải có trình độ văn hoá,
chuyên môn kỹ thuật cao nhất đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ cao,

nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đặc
biệt chú trọng thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một trong
những nội dung quan trọng của chương trình phát triển nguồn nhân lực của
Việt Nam). Mặc dù ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc nhưng
điều đó không có nghĩa là làm giảm đi vai trò của yếu tố con người, ngược lại
nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng ngày càng trở thành
lợi thế quan trọng nhất cho mỗi quốc gia. Thực tiễn ở các nước đang phát
triển cũng như tại Việt Nam cho thấy các nguồn lực thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa bao gồm rất nhiều như nguồn lực con người, vốn, tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học, công nghệ…; và giữa
chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau trong quá trình phát triển. Song
nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh quan trọng chi phối quá trình
phát triển của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với
các yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám, có ưu thế nổi bật ở chỗ chúng không
bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý. Trong khi các
nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy
được tác dụng khi kết hợp được với nguồn lực con người một cách có hiệu
quả. Con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố
chủ lực của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính
quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Xem xét yếu tố con người với
tư cách là nguồn lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội, UNESCO nhận
định: “con người đứng ở trung tâm của sự phát triển, là tác nhân và là mục
đích của sự phát triển”.
Có thể khẳng định rằng con người được coi là nguồn lực cơ bản để tăng
trưởng và phát triển kinh tế, khai thác tiềm năng trí tuệ, phát huy năng lực
sáng tạo của con người trở thành yêu cầu chủ yếu của phát triển kinh tế - xã
hội. Nếu trước đây nguồn lao động nhiều và rẻ được xem là thế mạnh hàng
đầu về nhân lực thì ngày nay yếu tố chất lượng ngày càng được nhấn mạnh.
Lao động của con người là yếu tố chủ lực của quá trình sản xuất và dịch
chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động mang tính chất nội sinh tạo ra GDP và

khu chế xuất và khu kinh tế là tồng thể các mục tiêu và biện pháp nhằm tác
động đến phúc lợi của người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế
xuất và khu kinh tế.
- Hệ thống chính sách xã hội đối với người lao động trong các khu công
nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế bao gồm bẩy nhóm lớn để cung ứng phúc
lợi cho người lao động: Chính sách tiền lương và thu nhập; chính sách y tế và
chăm sóc sức khoẻ; chính sách giáo dục và đào tạo; chính sách nhà ở; chính
sách văn hoá và thể thao; chính sách quan hệ lao động; chính sách di chuyển
lao động và di cư.
8


- Chính sách xã hội đối với người lao động trong các khu công nghiệp,
khu chế xuất và khu kinh tế có vai trò quan trọng đối trong hệ thống chính
sách xã hội nói chung cũng nhưu đối với người lao động nói riêng.
- Chính sách xã hội đối với người lao động trong các khu công nghiệp,
khu chế xuất và khu kinh tế mang lại điều kiện sinh sống cho người lao động,
bảo đảm điều kiện cơ bản đầu tiên cho người lao động là ăn, mặc, ở, học tập,
đi lại, chăm sóc sức khoẻ, trên cơ sở đó mà tham gia vào các hoạt động
thường nhật trong xã hội.
- Ngoài ra, chính sách xã hội đối với người lao động trong các khu công
nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế còn giúp họ phòng ngừa, hạn chế và khắc
phục rủi ro trong cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội.
4. Nội dung chính sách xã hội đối với người lao động trong các khu
công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế ở nước ta hiện nay
Cùng với sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách xã hội đối với
người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế. Chỉ thị
số 22-CT/TW ngày 5/3/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường
công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ hài hoà, ổn định trong các

28/2007/TT-BLĐTBXH, 13/2003/TT-BLĐTBXH sửa đổi Thông tư số 13 và
14/2003/TT-BLĐTBXH.
4.2. Chính sách quan hệ lao động (Chính sách việc làm)
Chính sách về quan hệ lao động đã được Chính phủ ban hành tại các
Nghị định số 41/CP ngày 6/7/1995, Nghị định 93/2002/NĐ-CP ngày
11/11/2002 và các thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách về quan hệ lao
động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội như: Thông tư số
19/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 và Thông tư số 17/2009/TTBLĐTBXH ngày 26/5/2009. Những chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho người lao động nói chung và người lao động trong các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế nói riêng trong việc ký kết và thực hiện hợp
đồng lao động, nhằm xây dựng mối quan hệ hài hoà giữa doanh nghiệp sử
dụng lao động và người lao động, thúc đẩy hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khung pháp luật, chính sách về quan hệ lao động đã xác định rõ: quan
hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là dựa trên cơ sở thương
lượng tự nguyện, bình đẳng, hợp pháp và tôn trọng các quyền, lợi ích của mỗi
bên. Nhà nước cũng đã ban hành các quy định về đối thoại, đàm phán giữa
người lao động và người sử dụng lao động, về tranh chấp loa dvà cơ chế giải
quyết tranh chấp lao động (thông qua cơ chế chính là hợp đồng lao động và
thoả ước lao động tập thể). Ngoài ra, Chính phủ còn quy định các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải tập hợp tổ chức công đoàn của
mình trong vòng 6 tháng kể từ khi thành lập. Thời gian làm việc bình thường
của người lao động không được quá 8 tiếng/ngày và người lao động có quyền
được nghỉ ít nhất 1 ngày trong 1 tuần. Trong một năm làm việc, số giờ làm
thêm của người lao động không được quá 200 giờ. Các chính sách ưu tiên lao
động nữ cũng được quy định rõ trong Bộ luật lao động.
10


4.3. Chính sách cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người lao động
- Về dịch vụ nhà ở. Chính sách về nhà ở cho công nhân và người lao

hiểm xã hội và các chế độ khác như an toàn vệ sinh lao động, điều dưỡng
phục hồi chức năng, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, bồi dưỡng hiện vật cho
người lao động, trang bị bảo hộ lao động… cũng đã được ban hành và đưa
vào thực hiện. Nhà nước quy định mọi đối tượng lao độngvà sử dụng lao
11


động đều có quyền và trách nhiệm tham gia đầy đủ bảo hiểm y tế (Luật bảo
hiểm y tế năm 2008) và bào hiểm xã hội (Luật bảo hiểm xã hội năm 2006)
và được hưởng các chế độ chăm sóc cức khoẻ.
- Về chính sách giáo dục và đào tạo. Chính phủ ban hành nhiều quy
định pháp luật và chính sách về giáo dục và đào tạo cho người lao động trong
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế. Các chính sách quan trọng
cho phép tăng khả năng tiếp cận dịch vụ và đào tạo nghề cho người lao động
trong các khu công nghiệp, bao gồm:
Cho vay vốn để đi học với lãi suất ưu đãi;
Cho phép doanh nghiệp tính chi phí đào tạo nhân lực vào chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm;
Khuyến khích sự liên kết, phối hợp với các viện – trường – doanh nghiệp;
Một số đối tượng người lao động (như nông dân thiếu đất canh tác hoặc
bị thu hồi đất canh tác, người nghèo và các đối tượng thuộc chính sách) được
đào tạo nghề miễn phí thông qua một số đề án, dự án do Nhà nước tài trợ.
- Về chính sách văn hoá và thể thao. Năm 2008, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 29/2008/NĐ-CP về nâng cao đời sống tinh thần cho lao động
trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế. Ngoài ra, các chính
sách nhằm nâng cao đời sống văn hoá, thúc đẩy phong trào thể dục thể thao
quần chúng được triển khai ở tất cả các cấp và các địa phương. Mục tiêu quốc
gia đặt ra là xây dựng và phát triển đời sống văn hoá ở các cấp cơ sở. Để thực
hiện mục tiêu này, Nhà nước đã tăng cường đầu tư xây dựng nhiều thư viện,
phòng đọc sách và phát huy các thiết chế văn hoá cộng đồng như tăng số hộ

- Cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh, các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận; tổ chức thực
hiện các thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ hỗ trợ có liên quan đến hoạt
động đầu tư và sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong khu công
nghiệp, khu kinh tế.
- Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơ quan quản lý
nhà nước về khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Hướng dẫn, hỗ trợ, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, giám sát, thanh
tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm và giải quyết các
vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp, khu
kinh tế.
5.2. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu
kinh tế trong phạm vi cả nước trên cơ sở phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ
thể của từng Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý theo quy
định tại Nghị định này; chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế
hoạch phát triển và ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về khu
công nghiệp, khu kinh tế.
- Thủ tướng Chính phủ có quyền hạn và trách nhiệm: chỉ đạo các Bộ,
ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý thực hiện luật pháp, chính
13


sách về khu công nghiệp, khu kinh tế; phê duyệt và điều chỉnh Quy hoạch
tổng thể về phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế; quyết định chủ trương
đầu tư đối với những dự án đầu tư thuộc thẩm quyền; quyết định thành lập
khu kinh tế; phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế; cho phép mở
rộng và điều chỉnh giảm quy mô diện tích, chuyển đổi mục đích sử dụng đất
đã được phê duyệt trong khu công nghiệp, các khu chức năng trong khu kinh

14


- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và
Ban Quản lý có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế
hoạch quốc gia về xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin toàn quốc về khu công
nghiệp, khu kinh tế; ban hành mẫu biểu báo cáo định kỳ và cung cấp thông tin
về khu công nghiệp, khu kinh tế cho các cơ quan có liên quan của Chính phủ.
- Tổng kết đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế - xã hội của khu công
nghiệp, khu kinh tế báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
5.4. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ
- Ban hành quy định về xây dựng đề án thành lập, phân loại, xếp hạng
và tổ chức lại Ban Quản lý.
- Quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy, biên chế và tiền lương đối với
công chức, viên chức của Ban Quản lý.
- Thẩm định Đề án thành lập, tổ chức lại Ban Quản lý và trình Thủ
tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
5.5. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Tài chính
- Hướng dẫn chế độ tài chính và thủ tục hải quan áp dụng tại khu công
nghiệp, khu kinh tế, doanh nghiệp chế xuất.
- Quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với Ban Quản lý, đơn vị sự
nghiệp kinh tế có thu làm chủ dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ
tầng khu công nghiệp và tổ chức kinh tế đặc thù có liên quan đến khu công
nghiệp, khu kinh tế phù hợp với quy định của pháp luật.
5.6. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng
- Ban hành quy định hướng dẫn về việc lập, thẩm định, phê duyệt và
điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế, quy hoạch chung xây dựng
khu công nghiệp, quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, các khu chức
năng trong khu kinh tế.

- Hướng dẫn Ban Quản lý thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước
về tài nguyên và môi trường trong khu công nghiệp, khu kinh tế theo quy định
của pháp luật về bảo vệ môi trường.
5.9. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và
Công nghệ
- Ban hành quy định về tiêu chuẩn xác định dự án thuộc lĩnh vực công
nghệ cao đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Hướng dẫn Ban Quản lý thực hiện công tác quản lý nhà nước về khoa học
và công nghệ đối với tổ chức hoạt động trong khu công nghiệp, khu kinh tế.
5.10. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Hướng dẫn Ban Quản lý thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước
về lao động tại khu công nghiệp, khu kinh tế theo quy định của pháp luật về
lao động.
5.11. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công an
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phòng cháy
và chữa cháy trong khu công nghiệp, khu kinh tế.

16


- Ban hành quy định hướng dẫn về xuất, nhập cảnh, cư trú, tạm trú đối
với khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu.
5.12. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch
- Hướng dẫn Ban Quản lý thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt
động du lịch trong khu kinh tế.
- Ủy quyền cho Ban Quản lý cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung và gia hạn
Giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh trong khu kinh tế đối với
doanh nghiệp du lịch nước ngoài.
5.13. Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ quản lý ngành

tế theo quy hoạch được duyệt; trình phê duyệt hoặc phê duyệt theo thẩm
quyền danh mục dự án đầu tư phát triển và kế hoạch vốn đầu tư phát triển
hàng năm và 5 năm tại khu kinh tế.
- Ban hành các chính sách ưu đãi và khuyến khích cụ thể phù hợp với
các quy định của pháp luật đối với việc ưu tiên tuyển dụng và sử dụng lao
động tại chỗ, lao động có chuyên môn cao, tay nghề giỏi; hỗ trợ đào tạo nghề
đối với lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Quy hoạch đất xây dựng khu tái định cư, khu nhà ở cho công nhân và
các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng; hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà ở
cho công nhân, khu tái định cư, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã
hội theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; hỗ trợ xúc tiến đầu tư,
thương mại, du lịch; hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh quá
trình đầu tư và phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Chỉ đạo thực hiện việc thu hồi diện tích đất, mặt nước, bồi thường,
giải phóng mặt bằng và tái định canh, tái định cư và thực hiện các thủ tục cho
thuê hoặc giao đất trong khu công nghiệp, khu kinh tế theo quy định của pháp
luật về đất đai và pháp luật có liên quan.
- Chỉ đạo các tổ chức có liên quan lập kế hoạch đầu tư và tổ chức xây
dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu
công nghiệp, khu kinh tế như: đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, cấp
thoát nước, thông tin liên lạc, các điểm đấu nối kỹ thuật với các công trình kết
cấu hạ tầng trong hàng rào khu công nghiệp, khu kinh tế, cơ sở đào tạo nghề,
nhà ở, cơ sở khám chữa bệnh, trường học và các công trình công cộng khác
đáp ứng nhu cầu phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Chủ trì xây dựng kế hoạch và cân đối vốn hỗ trợ đầu tư hệ thống kết
cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào khu công nghiệp, hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật - xã hội của khu kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư, ngân
sách nhà nước và quy định tại Nghị định này.
- Ban hành và giám sát thực hiện Quy chế phối hợp giữa Ban Quản lý
với các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hướng dẫn, giao nhiệm vụ

nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế
a) Chức năng của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
kinh tế
- Ban Quản lý là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực
hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp, khu kinh
tế trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại
Nghị định này và pháp luật có liên quan; quản lý và tổ chức thực hiện chức
năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan
đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công
nghiệp, khu kinh tế.
- Ban Quản lý do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và chịu sự
chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và kinh
phí hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trừ trường hợp Thủ tướng Chính
phủ có quy định khác); chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn
19


nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực có liên quan; có trách
nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh trong công tác quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Ban Quản lý có tư cách pháp nhân; tài khoản và con dấu mang hình
quốc huy; kinh phí quản lý hành chính nhà nước, kinh phí hoạt động sự
nghiệp và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch
hàng năm.
b) Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu kinh tế
- Tham gia ý kiến, xây dựng và trình các Bộ, ngành và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện các công việc sau đây:
+ Tham gia ý kiến với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch

cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài lần đầu
đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế sau khi có ý kiến chấp thuận bằng
văn bản của Bộ Công Thương;
+ Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt của khu
công nghiệp, các khu chức năng trong khu kinh tế nhưng không làm thay đổi
chức năng sử dụng khu đất và cơ cấu quy hoạch; thẩm định thiết kế cơ sở đối
với các dự án nhóm B, C hoặc cấp, gia hạn Giấy phép xây dựng công trình
đối với công trình xây dựng phải có Giấy phép xây dựng theo quy định của
pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; cấp Giấy chứng nhận
quyền sở hữu công trình xây dựng đối với công trình xây dựng trong khu
công nghiệp, khu kinh tế cho tổ chức có liên quan;
+ Cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép lao động cho người nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc trong khu công nghiệp,
khu kinh tế; cấp sổ lao động cho người lao động Việt Nam làm việc trong khu
công nghiệp, khu kinh tế; tổ chức thực hiện đăng ký nội quy lao động, thỏa
ước lao động tập thể, nội quy an toàn vệ sinh, nội quy an toàn lao động, hệ
thống thang lương, bảng lương, định mức lao động, kế hoạch đưa người lao
động đi thực tập ở nước ngoài dưới 90 ngày cho doanh nghiệp; nhận báo cáo
về tình hình ký kết, sử dụng, chấm dứt hợp đồng lao động của doanh nghiệp;
+ Cấp các loại giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá sản xuất trong khu
công nghiệp, khu kinh tế và các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận khác
có liên quan trong khu công nghiệp, khu kinh tế;
+ Xác nhận hợp đồng, văn bản về bất động sản trong khu công nghiệp,
khu kinh tế cho tổ chức có liên quan;
+ Tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động
môi trường đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trong khu công nghiệp, khu kinh tế;
+ Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định
tại Giấy chứng nhận đầu tư, tiến độ góp vốn và triển khai dự án đầu tư; chủ
trì, phối hợp kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các điều khoản cam kết đối với

thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực và xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong khu;
+ Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy định của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về quản lý tài chính, tài sản, ngân sách được giao;
thu và quản lý sử dụng các loại phí, lệ phí; nghiên cứu khoa học, ứng dụng
tiến bộ khoa học, công nghệ; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và
nước ngoài về các lĩnh vực có liên quan đến đầu tư xây dựng và phát triển khu
công nghiệp, khu kinh tế; quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công
chức, viên chức và đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ,
công chức, viên chức của Ban Quản lý; giới thiệu việc làm cho công nhân lao
động làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế;
22


+Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao.
c) Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Quản lý khu kinh tế
- Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để trình Thủ tướng Chính
phủ quyết định theo thẩm quyền:
+ Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế;
+ Phương án phát hành trái phiếu công trình; phương án huy động các
nguồn vốn khác để đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ
tầng xã hội quan trọng trong khu kinh tế.
- Xây dựng và trình các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê
duyệt và tổ chức thực hiện:
+ Quy hoạch chi tiết xây dựng các khu chức năng phù hợp với quy
hoạch chung xây dựng khu kinh tế đã được phê duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất chi tiết trong khu kinh tế trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;
+ Kế hoạch hàng năm và 5 năm về phát triển khu kinh tế trình Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
+ Danh mục các dự án đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư phát triển hàng

được giao theo đúng mục đích sử dụng và phù hợp với Quy hoạch chung xây
dựng khu kinh tế, Quy hoạch chi tiết xây dựng các khu chức năng, Quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Giao lại đất có thu tiền sử dụng đất, giao lại đất không thu tiền sử
dụng đất, cho thuê đất, mặt nước và thực hiện việc quản lý đất đai trong khu
kinh tế theo quy định của pháp luật về đất đai;
+ Trên cơ sở quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của pháp luật
về đầu tư và đất đai, quyết định mức thu tiền sử dụng, tiền thuê và mức miễn,
giảm đối với đất, mặt nước chuyên dùng cho từng dự án đầu tư áp dụng đối
với trường hợp giao lại đất, cho thuê đất không qua đấu giá hoặc đấu thầu
quyền sử dụng đất;
+ Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan
bảo đảm mọi hoạt động trong khu kinh tế phù hợp quy hoạch, kế hoạch xây
dựng và phát triển khu kinh tế đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt và các quy định có liên quan.

24


CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
HẠN CHẾ CỦA CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT, KHU KINH TẾ Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Về thành tựu chủ yếu
Thứ nhất, tiền lương và thu nhập của người lao động trong các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế có xu hướng tăng lên. Với các quy định về
chính sách tiền lương và thu nhập, mức tối thiểu đã được tăng dần phù hợp với
khả năng tài chính của doanh nghiệp và ngân sách nhà nước. Các quyết sách về
việc không hạn chế mức thu nhập tối đa đối với lao động chuyên môn, kỹ thuật
cao, người có tài năng, có nhiều cống hiến cho hiệu quả hoạt động của doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status