MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI NÓI ĐẦU.........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI TRONG VIỆC
SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL ĐỂ GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ
AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI......................5
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại.........................................................5
1.1.1. Khái niệm.......................................................................................................5
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế................................5
1.1.3. Các dịch vụ của ngân hàng thương mại..........................................................7
1.1.4. Rủi ro của ngân hàng thương mại...................................................................8
1.1.5 Sự cần thiết phải đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại.......9
1.2
Các bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ số CAMEL..............................10
1.2.1 Giới thiệu hệ thống chỉ số CAMEL..............................................................10
1.2.2 Mục tiêu sử dụng và căn cứ xây dựng hệ thống chỉ số CAMEL..................10
1.2.3 Các bộ phận cấu thành và khả năng vận dụng của hệ thống chỉ số CAMEL
trong đánh giá và giám sát hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
...................................................................................................................... 11
1.3
Kinh nghiệm sử dụng hệ thống giám sát an toàn hệ thống ngân hàng
thương mại của một số nước và tổ chức trên thế giới..............................27
1.3.1 Việc sử dụng các chỉ tiêu trong chỉ số CAMEL tại các hãng định mức tín
nhiệm trên thế giới........................................................................................27
1.3.2 Kinh nghiệm hoạt động giám sát mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng
một số quốc gia.............................................................................................27
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống CAMEL tại Việt Nam...........29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ
DỤNG CHỈ SỐ CAMEL TRONG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC
ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM..................................................................................................63
3.1
Phương hướng nâng cao khả năng sử dụng chỉ số CAMEL trong đánh
giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại........................63
3.1.1 Nguyên tắc của hoạt động giám sát hệ thống ngân hàng thương mại...........63
3.1.2 Nguyên tắc sử dụng chỉ số CAMEL trong hoạt động đánh giá, giám sát...........64
3.2
Giải pháp nâng cao khả năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL............67
3.2.1 Giải pháp đối với cấu trúc khu vực ngân hàng.............................................67
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng từng yếu tố trong bộ chỉ tiêu
CAMEL........................................................................................................69
3.2.3 Giải pháp đối với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia trong việc nâng cao
hiệu quả sử dụng chỉ số CAMEL..................................................................73
3.3. Kiến nghị một số điều kiện để thực hiện giải pháp nâng cao khẳ năng
sử dụng chỉ số CAMEL..............................................................................76
3.3.1 Kiến nghị trong việc nâng cao chất lượng sử dụng chỉ số CAMEL..............76
3.3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý.........................................................78
3.3.3 Kiến nghị đối với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.................................84
KẾT LUẬN............................................................................................................86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................87
PHỤ LỤC................................................................................................................ 90
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACB
Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu
Ngân hàng
NHLD
Ngân hàng liên doanh
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHNNg
Ngân hàng nước ngoài
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN
Ngân hàng thương mại Nhà nước
NHTW
Ngân hàng Trung ương
OECD
Tổ chức hợp tác các nước kinh tế phát triển
Ủy ban nhân dân
USD
Đồng đôla Mỹ
VCB
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
VN
Việt Nam
VND
Đồng Việt Nam
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:
Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam......................................30
Bảng 2.2:
Tỷ lệ vốn góp, mua cổ phần so với vốn điều lệ và các quỹ năm 2010........40
Hình 2.7:
Phân bố định vị mức đủ vốn theo nhóm ngân hàng............................41
Hình 2.8:
Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ............................................................42
Hình 2.9:
Cho vay theo kỳ hạn...........................................................................42
Hình 2.10:
Dư nợ đầu tư bất động sản..................................................................43
Hình 2.11:
Doanh số chiết khấu GTCG đầu tư vào chứng khoán.........................43
Hình 2.12:
Nợ xấu trong khu vực ngân hàng........................................................44
Hình 2.13:
Lợi nhuận khu vực ngân hàng.............................................................46
dụng các chỉ số trong việc đánh giá và dự báo thị trường tài chính.
Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia là cơ quan đầu tiên ở Việt Nam được
thành lập với chức năng giám sát hệ thống tài chính quốc gia. Việc sử dụng mô hình
CAMEL để đánh giá các chỉ số lành mạnh tài chính của hệ thống tổ chức tài chính
tín dụng chưa được nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu. Một số đề tài về giám sát tài
chính đã công bố song các đề tài đó cũng sử dụng số liệu từ những năm trước nên
tính cập nhật chưa cao. Và hiện nay cũng chưa có đề tài nào sử dụng chỉ số CAMEL
đánh giá riêng cho các tổ chức tín dụng. Với chức năng giám sát của mình thì Ủy
ban Giám sát tài chính quốc gia sẽ có cái nhìn tổng thể và sự đánh giá chính xác
nhất hệ thống tổ chức tài chính. Thông qua đề tài này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
hệ thống chỉ số CAMEL, việc áp dụng hệ thống chỉ số này trong việc đánh giá mức
độ an toàn của hệ thống ngân hàng tại Ủy ban và từ đó đưa ra các giải pháp, kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống chỉ số này trong thời gian tới.
Xuất phát từ điều kiện thực tế cũng như tính cấp thiết nên em đã lựa chọn đề
tài: “Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an
toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài
chính Quốc gia”.
ii
Đề tài kết cấu bao gồm: ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo bao gồm 3 chương sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thế giới trong việc sử dụng chỉ số
CAMEL để giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Phân tích thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong giám
sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại tại Ủy ban
Giám sát tài chính Quốc gia.
- Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số
CAMEL trong đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế như:
phục vụ hoạt động giám sát cũng như để tính các chỉ số CAMEL của các ngân hàng
còn chưa chính xác, cập nhật. Các chỉ số thống kê, chỉ số tài chính của nhiều ngân
hàng còn chưa phù hợp. Hệ thống thông tin giám sát từ hệ thống ngân hàng đến các
cơ quan giám sát còn chưa thông suốt, chỉ tồn tại một chiều nguồn thông tin từ các
ngân hàng đến các cơ quan giám sát.
Việc sử dụng chỉ số CAMEL trong việc giám sát hệ thống ngân hàng tại Việt
Nam còn nhiều bất cập đấy là việc hệ thống kế toán của Việt Nam chưa theo chuẩn
hệ thống kế toán quốc tế. Điều này đã gây khó khăn trong việc xác định cũng như
tính toán các chỉ số khi các chỉ số CAMEL cần phải theo chuẩn mực quốc tế.
Việt Nam chưa thể sử dụng hết toàn bộ hệ thống chỉ số CAMEL trong việc
đánh giá hệ thống ngân hàng bởi hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa thể thực hiện
được theo các tiêu chí ấy, do chưa có số liệu tính toán, chưa có các nghiệp vụ phát
sinh hoặc có thể có nhưng các chỉ số không thể so sánh được với những ngân hàng
có quy mô tương đương ở nước ngoài.
Ủy ban chưa tạo dựng được sự phối hợp giữa hoạt động giám sát từ xa và
giám sát tại chỗ, chưa đưa ra được quy trình giám sát hoàn thiện.
Từ những khó khăn trên luận văn đã đề xuất phương hướng, giải pháp và đưa
ra những kiến nghị nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL tại
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.
Hệ thống giải pháp mà luận văn đưa ra là:
Khuyến khích phát triển các hình thức tín dụng quy mô nhỏ, đa dạng hóa
iv
hình thức sở hữu. Tăng cường kiểm tra, giám, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu
vực ngân hàng. Cần phân loại các ngân hàng (ví dụ theo quy mô vốn chủ sở hữu,
hiệu quả hoạt động,…) từ đó quy định hình thức, phạm vi, cơ chế hoạt động, giám
sát từng nhóm.
Giám sát, quản lý nguồn vốn điều lệ gia tằng cần đi kèm với hệ thống giải
pháp, lộ trình cơ sở pháp lý đồng bộ. Xây dựng hệ thống chỉ số an toàn cho khu vực
toán thành vốn cấp 2 nhằm làm tăng tỷ trọng vốn cấp 2 trong tổng số vốn tự có hiện
nay theo quy định của NHNN và chuẩn Basel.
Đảm bảo sự phối hợp tốt giữa thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa để phát huy
tốt nhất ưu thế của mỗi công cụ giáp sát, đồng thời giải quyết hài hòa quyền lợi của
các bên tham gia.
Tổ chức lại hệ thống thanh tra giám sát tài chính ngân hàng theo nguyên tắc
bao quát, tránh chồng chéo để các cơ quan thanh tra giám sát có thể sử dụng các kết
quả thanh tra giám sát của nhau và chịu trách nhiệm về kết quả thanh tra giám sát
của mình.Trong tương lai có thể thống nhất các cơ quan thanh tra giám sát tài chính
trong một tổ chức giám sát độc lập tương đương cấp Bộ thuộc chính phủ hoặc trực
thuộc Quốc hội.
Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra giám sát tài chính cả về số
lượng và chất lượng, sắp xếp lại cán bộ thanh tra giám sát trên cơ sở lựa chọn
những người có trình độ nghiệp vụ cao, có phẩm chất đạo đức đi đôi với chế độ đãi
ngộ tài chính đặc biệt (chế độ lương, thưởng,…) để giúp họ hoàn thành tốt nhiệm
vụ một cách công tâm.
Bên cạnh việc tổ chức sắp xếp lại các cơ quan thanh tra giám sát để đảm bảo
khả năng thực thi quyền lực thống nhất hữu hiệu, còn cần đẩy mạnh cải cách hành
chính nhằm điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước các
cấp theo hướng tăng theo quyền lực cho cơ quan thanh tra giám sát tài chính cả về
biện pháp cưỡng chế hành chính, kinh tế, thậm chí rút giấy phép hoạt động.
Vấn đề cân tối lợi ích giữa việc hoàn thiện hệ thống thanh tra giám sát với
chi phí bỏ ra luôn luôn được đặt ra. Các nhà quản lý nhiều khi không thể thống nhất
với nhau về cân đối rủi ro và lợi nhuận, giữa tăng cường thanh tra giám sát và lợi
ích thu được từ hoạt động thanh tra giám sát tài chính ngân hàng.
vi
Nâng cao việc khẳ năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL sẽ góp phần nâng
cao khả năng giám sát hâng hàng thương mại nói riêng và hệ thống tài chính Việt
huy động vốn lớn và hiệu quả nhất của nền kinh tế. Chính vì thế việc đảm bảo cho
hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế cao là
nhiệm vụ của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại của các cơ quan với chức
năng thanh tra, giám sát.
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với chức năng giám sát hệ thống tài
chính, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại. Thông qua hoạt động giám sát
từ xa của mình để giúp Thủ tướng Chính phủ nắm rõ hơn về thị trường tài chính
Việt Nam. Ủy ban đã sử dụng công cụ chỉ số CAMEL để đánh giá mức độ an toàn
của hệ thống ngân hàng thương mại để từ đó tham mưu cho Chính phủ nhằm ổn
định thị trường tài chính Việt Nam ngày càng bền vững hơn.
Trước sức ép của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rủi ro trong hoạt động
ngân hàng ngày càng đa dạng về loại hình và tinh vi về mức độ, tài chính của các
ngân hàng thương mại sẽ được đảm bảo, hệ thống ngân hàng sẽ mạnh và thực sự
là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế nếu hoạt động giám sát đối với ngân
hàng thương mại được hoàn thiện. Như vậy, làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao
hoạt động giám sát mức độ an toàn của các ngân hàng thương mại đang là câu
hỏi bức xúc của thực tiến hiện nay của các cơ quan giám sát, của Chính phủ cũng
như của nền kinh tế. Đề tài “Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát
và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại
Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia” được lựa chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng
đòi hỏi bức xúc đó.
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Hệ thống ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế của đất nước cũng như trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Đây là
2
kênh huy động vốn lớn nhất trong nền kinh tế. An toàn trong hoạt động của hệ
thống ngân hàng là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết để ổn định hệ thống tài chính
của mỗi quốc gia không riêng gì Việt Nam. Hệ thống ngân hàng có hoạt động tốt,
- Đánh giá việc sử dụng chỉ số CAMEL tại Ủy ban Giám sát tài chính quốc
gia, đưa ra được những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng chỉ số này để từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao việc sử dụng chỉ số này trong đánh giá hệ
thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
- Từ các số liệu tính toán được qua các chỉ số để nhìn lại hệ thống các tổ chức
tín dụng tại Việt Nam. Đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý (Ngân hàng
Nhà nước, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia) về mức độ an toàn của các tổ chức
tín dụng.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ an toàn của hệ thống ngân
hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
- Chủ thể: Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia
- Phạm vi:
o Đề tài được nghiên cứu tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
o Đề tài nghiên cứu tại hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam.
- Về thời gian: Do mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào từng
thời điểm ta đánh giá do chịu tác động của hệ thống chính sách, nền kinh tế, những tác
động cảu kinh tế thế giới nên trong đề tài này sử dụng số liệu của năm 2010 để tăng
tính cập nhật, chính xác cho đề tài.
1.5. Câu hỏi nghiên cứu
- Vai trò của việc đảm bảo an toàn hệ hống ngân hàng thương mại đối với hệ
thống tài chính Việt Nam.
- CAMEL là gì? Cách tính của các chỉ số trong CAMEL?
- Thực trạng của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Việc áp dụng các chỉ số CAMEL trong việc tính các chỉ số an toàn cho hệ
thống ngân hàng của Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia gặp những
khó khăn gì?
- Để đánh giá an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam hiện
nay thì cần phải có những điều chỉnh gì?
hàng thương mại.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI
TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL ĐỂ GIÁM SÁT
VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Các quốc gia khác nhau lại có những định nghĩa khác nhau về ngân hàng
thương mại. Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của hội đồng Nhà
nước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại cũng là ngân hàng và cũng có những chức năng của
một ngân hàng.
1.1.2.1
Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế. (i) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ
sung vốn; (ii) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại
của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM
cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm
chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các
chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp
người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào
đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được
7
rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình
chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu
chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
1.1.3. Các dịch vụ của ngân hàng thương mại
- Mua bán ngoại tệ: Ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một
loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.
- Nhận tiền gửi: Để có tiền cho vay thu lợi nhuận cao, ngân hàng mở dịch vụ
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết trả đúng hạn.
- Cho vay thương mại: Ngân hàng dùng tiền của khách hàng gửi để cho
những người cần vốn vay sản xuất kinh doanh và thu lợi thông qua lãi suất.
- Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cấp vốn cho các cá nhân để phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng của họ.
- Tài trợ các dự án: Tài trợ cho việc xây dựng các nhà máy mới, đặc biệt là
trong các ngành công nghệ cao.
- Bảo quản vật có giá: Ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có
giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Ngân hàng mở
tài khoản tiền gửi cho khách hàng và thực hiện lệnh chi trả của họ.
- Quản lý ngân quỹ: Ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là
khoản vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên, những khoản cho vay luôn ẩn chứa rủi ro.
Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng cho vay những người không nên cho
vay hoặc là khách hàng dùng sai mục đích khoản vay.
1.1.4.2 Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổng thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị trường,
tỷ giá thường xuyên giao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái của
ngân hàng tạo ra thu nhập hoặc thặng dư thâm hụt tạm thời. Tuy nhiên, có những
thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
9
1.1.4.3 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến gắn với thay đổi của
lãi suất và nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn cả tài sản và nguồn, quy mô
và kỳ hạn các hợp đồng kỳ hạn.
Nguyên nhân của rủi ro lãi suất: (i) sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn
và tài sản; (ii) Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng;
(iii) Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng.
1.1.4.4 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng
khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá (hoặc nhỏ hơn) khả năng thanh khoản dự
kiến làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho ngân
hàng mất khả năng thanh toán.
Để hạn chế rủi ro thanh khoản, các ngân hàng thương mại cần nâng cao năng
lực quản trị ngân quỹ và các khoản mục sinh lời, chất lượng các hoạt động tín dụng.
1.1.4.5 Các rủi ro khác
C: Capital - chỉ số về vốn
A: Asset - chỉ số về chất lượng tài sản
M: Management - chỉ số về năng lực quản lý
E: Earning - chỉ số về lợi nhuận
L: Liquidity - chỉ số về thanh khoản
Hiện nay chỉ số này còn dược mở rộng thêm một yêu tố nữa đó là S:
Sensitivity to market risk – độ nhạy cảm với rủi ro thị trường và biến chỉ số
CAMEL thành CAMELS.
1.2.2 Mục tiêu sử dụng và căn cứ xây dựng hệ thống chỉ số CAMEL
1.2.2.1 Mục tiêu sử dụng
Trên thế giới có khá nhiều hệ thống chỉ số dùng để giám sát hệ thống ngân
hàng. Tuy nhiên hệ thống chỉ số CAMEL được sử dụng tại nhiều quốc gia bởi
những lợi ích mà nó mang lại cho các quốc gia sử dụng sau cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu vừa qua.
Chỉ số CAMEL dùng để đánh giá tổng thể toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng
như hệ thống tài chính để từ đó xem xét mức độ an toàn của toàn hệ thống nhằm
11
sớm phát hiện ra các rủi ro mà hệ thống có thể gặp phải và đưa ra các giải pháp cần
thiết để chống đỡ cho toàn hệ thống.
Trong xu thế hội nhập và phát triển toàn diện và mọi mặt như hiện nay, việc
sử dụng hệ thống chỉ số được quốc tế chấp nhận cho hệ thống ngân hàng tại Việt
Nam như là một bước tiến để đưa hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống tài
chính của Việt Nam nói riêng thâm nhập sâu hơn và tốt hơn đối với hệ thống tài
chính thế giới.
1.2.2.2 Căn cứ xây dựng
- Hệ thống CAMEL của ủy ban Basel
- Luật Ngân hàng Nhà nước, luật tổ chức tín dụng
- Các quy định hiện hành về hệ thống tài chính của Chính phủ, Ngân hàng
mà các rủi ro này có thể gây ra đối với vốn của các hệ thống ngân hàng.
Nội dung đánh giá
- Mức độ và chất lượng của vốn và tính trạng tài chính tổng thể của các tổ
chức tín dụng.
- Năng lực quản trị để có thể đề xuất các nhu cầu mới phát sinh đối với vốn
của các tổ chức tín dụng.
- Bản chất, xu hướng và khối lượng của các tài sản có rủi ro và mức độ dự
trữ cho các khoản thua lỗ do cho vay và cho thuê tài chính và các tài sản dự trữ có
giá trị khác.
- Cơ cấu bảng cân đối bao gồm bản chất và giá trị các tài sản vô hình, rủi ro thị
trường, rủi ro tích lũy và các rủi ro khác liên quan đến các hoạt động phi truyền thống.
- Áp lực rủi ro từ các tài khoản ngoại bảng.
- Chất lượng và mức độ lành mạnh của các khoảng thu nhập và sự hợp lý của
các khoản cổ tức.
- Triển vọng và kế hoạch cho tăng trưởng cũng như các kế hoạch trong quá
khứ trong việc quản trị tăng trưởng.
- Cách tiếp cận các thị trường vốn và các nguồn vốn khác, bao gồm cả vốn
hỗ trợ từ công ty mẹ.
Các chỉ tiêu sử dụng
Cách xác định
Vốn tự có = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2
13
- Vốn điều lệ (Vốn đã được cấp, vốn góp)
- Quỹ dự phòng bổ sung vốn điều lệ
- Quỹ dự phòng tài chính
Vốn cấp 1
- Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ
- Các điều kiện: Vốn điều lệ đủ theo mức vốn pháp định; Đảm bảo an toàn
vốn, cụ thể (1) vốn điều lệ thực góp không thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký, (2) Tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) đạt mức quy định của NHNN.
Chỉ số 1: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
CAR =
Vốn tự có
Tổng tài có sản rủi ro chuyển đổi
Trong đó:
≥ 8%
14
+ Vốn tự có = vốn cấp 1 + vốn cấp 2 – các khoản phải trừ khỏi vốn tự có
+ Tài sản có rủi ro theo quy định của NHNN
+ Đảm bảo các quy định khác của NHNN về cổ đông, cổ phần, cổ
phiếu.
Giá
trị tài
sản có
rủi ro
của
các
cam
kết
cho dự án theo hợp đồng theo quy định của Chính phủ; các
khoản cho vay đảm bảo bằng bất động sản của bên vay.
- Nhóm tài sản có hệ số rủi ro 100% gồm: Tổng số tiền đã
cấp vốn điều lệ cho các công ty trực thuộc có tư cách pháp
nhân hạch toán độc lập; các khoản đầu tư dưới hình thức
góp vốn mua cổ phần vào các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
khác, máy móc, thiết bị, bất động sản và TSCĐ khác, các
loại tài sản có khác.
- Các khoản cam kết bảo lãnh tài trợ cho khách hàng.
- Hợp đồng giao dịch lãi suất, hợp đồng giao dịch ngoại tệ.
- Chỉ số đánh giá sử dụng vốn điều lệ gồm:
+ Sử dụng vốn điều lệ mua cổ phần, hoàn vốn với cổ đông.
+ Đảm bảo mua sắm tài sản cố định theo quy định của
NHNN: Đây là chỉ số phản ánh việc mua, đầu tư vào tài sản
có của mình so với vốn tự có theo quy định.
Chỉ số 2: Giá trị còn lại của TSCĐ/vốn cấp 1:
15
Theo quy định hiện hành chỉ số này không vượt quá 50% và được tính trên 2
yếu tố:
- Giá trị còn lại của TSCĐ được mua, đầu tư bằng vốn tự có lấy từ báo cáo
thống kê TCTD.
- Vốn cấp 1: Mức góp vón mua cổ phần TCTD.
Chỉ số 3: Mức đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại của NH/Vốn điều
lệ của DN, quỹ đầu tư.
Giá trị của chỉ số trên theo quy định hiện hành của NHNN là ≤ 11%. Nếu
vượt quá tỷ lệ này phải được NHNN chấp thuận trước bằng văn bản với điều kiện
khoản đầu tư đó là hợp lý và NH đã chấp hành các tỷ lệ an toàn trong hoạt động